<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:itunes="http://www.itunes.com/dtds/podcast-1.0.dtd" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:podcast="https://podcastindex.org/namespace/1.0">
    <channel>
        <generator>RedCircle VERIFY_TOKEN_252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b  -- Rendered At Tue, 15 Sep 2026 22:13:53 &#43;0000</generator>
        <title>8 Bộ Kinh Phật Thường Được Đọc Tụng Niệm_Phiên bản 1.1</title>
        <link>https://redcircle.com/shows/kinh-phap-cu-li-pht-dy-tnh-thc</link>
        <language>vi</language>
        <copyright>All rights reserved.</copyright>
        <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
        <itunes:summary>*Kinh A Di Đà* 1 phẩm 7 phút

*Kinh Kim Cang* 32 phẩm 30 phút

*Kinh Tâm Kinh* 1 phẩm 1 phút

*Kinh Pháp Hoa* 28 phẩm 3–4 giờ

*Kinh Địa Tạng* 13 phẩm 2 giờ

*Kinh Lăng Nghiêm* 10 quyển 4–5 giờ

*Kinh Hoa Nghiêm* 80 quyển 40 ngày tụng

*Kinh Niết Bàn* 40 quyển 20 ngày tụng</itunes:summary>
        <podcast:guid>252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b</podcast:guid>
        
        <description><![CDATA[<p><strong>Kinh A Di Đà </strong>1 phẩm 7 phút</p><p><br></p><p><strong>Kinh Kim Cang </strong>32 phẩm 30 phút</p><p><br></p><p><strong>Kinh Tâm Kinh </strong>1 phẩm 1 phút</p><p><br></p><p><strong>Kinh Pháp Hoa </strong>28 phẩm 3–4 giờ</p><p><br></p><p><strong>Kinh Địa Tạng</strong> 13 phẩm 2 giờ</p><p><br></p><p><strong>Kinh Lăng Nghiêm</strong> 10 quyển 4–5 giờ</p><p><br></p><p><strong>Kinh Hoa Nghiêm</strong> 80 quyển 40 ngày tụng</p><p><br></p><p><strong>Kinh Niết Bàn </strong>40 quyển 20 ngày tụng</p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p><br></p>]]></description>
        
        <itunes:type>serial</itunes:type>
        <podcast:locked>no</podcast:locked>
        <itunes:owner>
            <itunes:name>Nguoi Mien Trung</itunes:name>
            <itunes:email>ngmientrung@gmail.com</itunes:email>
        </itunes:owner>
        
        <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/8/26cfdd32-732c-4d75-9a06-969d19007141_8_kinh_th__ng___c.jpg"/>
        
        
        
            
            <itunes:category text="Religion &amp; Spirituality">

            
                <itunes:category text="Buddhism"/>
            

        </itunes:category>
        
            
            <itunes:category text="Education">

            
                <itunes:category text="Self-Improvement"/>
            

        </itunes:category>
        

        
        <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
        
        
        
        
        
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 40</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 40</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 40 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Pháp Thân Viên Mãn – Kinh Hoàn Tất</strong>) là <strong>quyển cuối cùng, quyển viên mãn</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Pháp thân viên mãn</strong>, <strong>không còn hóa thân</strong>, <strong>phát 40 lời nguyện cuối cùng</strong> để <strong>khép lại 40 quyển, trao chìa khóa Niết-bàn cho chúng sanh mạt pháp</strong>.</li><li><strong>Mỗi lời nguyện = một cánh cửa Niết-bàn mở mãi mãi</strong>.</li><li><strong>40 lời nguyện = 40 lần Phật trở lại</strong>, <strong>khẳng định “một người nghe quyển 40 = thành Phật trong đời này”</strong>. Phẩm này <strong>là chìa khóa cuối cùng</strong>, <strong>biến người trì kinh thành Phật viên mãn</strong>, <strong>biến mạt pháp thành Niết-bàn hiện tiền</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 40: Phẩm Pháp Thân Viên Mãn – Kinh Hoàn Tất</h3><p><strong>Sau khi nói 39 lời di chúc</strong>, <strong>hai cây Ta-la trổ hoa trắng</strong>, <strong>hư không bỗng im lặng tuyệt đối</strong>, <strong>rồi một tiếng Pháp lôi vang lên</strong>, <strong>đất rung 28 cách</strong>, <strong>Pháp thân Phật hiện ra</strong> – <strong>không còn hình tướng</strong>, <strong>chỉ là ánh sáng vô lượng</strong>, <strong>chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đại chúng</strong> <strong>đồng quỳ lạy</strong>, <strong>đồng thanh khóc</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Kinh đã hết, 40 quyển đã viên mãn – làm sao chúng con thành Phật?</strong>”</blockquote><p><strong>Pháp thân Phật</strong> <strong>không còn nói bằng miệng</strong>, <strong>mà 40 lời nguyện vang lên từ hư không</strong>, <strong>mỗi lời như một tiếng chuông lớn</strong>, <strong>vang khắp mười phương</strong>:</p><p><strong>40 lời nguyện viên mãn – chìa khóa Niết-bàn</strong>:</p><ol><li><strong>Nguyện ai nghe quyển 40 – thành Phật trong đời này!</strong></li><li><strong>Nguyện ai trì quyển 40 – Pháp thân hiện tiền!</strong></li><li><strong>Nguyện ai thuyết quyển 40 – mười phương nghe pháp!</strong></li><li><strong>Nguyện ai cúng quyển 40 – phước vượt tam thiên!</strong></li><li><strong>Nguyện ai bảo quyển 40 – hộ pháp vạn kiếp!</strong></li><li><strong>Nguyện ai hành quyển 40 – hạnh Bồ-tát viên mãn!</strong></li><li><strong>Nguyện ai ngộ quyển 40 – thấy tánh thành Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai ăn chay vì quyển 40 – cứu vô lượng chúng sanh!</strong></li><li><strong>Nguyện ai bố thí vì quyển 40 – phước đức vô lượng!</strong></li><li><strong>Nguyện ai trì giới vì quyển 40 – thanh tịnh như Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai nhẫn nhục vì quyển 40 – tự tại như Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai tinh tấn vì quyển 40 – bất thoái như Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai thiền định vì quyển 40 – an lạc như Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai trí tuệ vì quyển 40 – bát-nhã như Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai độ ác vì quyển 40 – địa ngục thành Tịnh độ!</strong></li><li><strong>Nguyện ai phá tà vì quyển 40 – chánh pháp trường tồn!</strong></li><li><strong>Nguyện ai xây tháp vì quyển 40 – tâm Bồ-đề viên mãn!</strong></li><li><strong>Nguyện ai y kinh vì quyển 40 – chánh kiến bất hoại!</strong></li><li><strong>Nguyện ai y nghĩa vì quyển 40 – liễu nghĩa viên thông!</strong></li><li><strong>Nguyện ai y liễu nghĩa vì quyển 40 – thường lạc ngã tịnh!</strong></li><li><strong>Nguyện ai y trí vì quyển 40 – trí tuệ sáng ngời!</strong></li><li><strong>Nguyện ai hồi hướng vì quyển 40 – Tịnh độ tự tâm hiện!</strong></li><li><strong>Nguyện ai sống vì quyển 40 – sống là Phật sống!</strong></li><li><strong>Nguyện ai chết vì quyển 40 – chết là Phật chết!</strong></li><li><strong>Nguyện ai đại bi vì quyển 40 – ôm trọn 10 giới!</strong></li><li><strong>Nguyện ai Niết-bàn vì quyển 40 – Niết-bàn hiện tiền!</strong></li><li><strong>Nguyện ai Tịnh độ vì quyển 40 – thế giới thành Tịnh độ!</strong></li><li><strong>Nguyện ai Phật tánh vì quyển 40 – thấy tánh thành Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai Pháp thân vì quyển 40 – Pháp thân viên mãn!</strong></li><li><strong>Nguyện ai chánh pháp vì quyển 40 – chánh pháp vạn kiếp trụ!</strong></li><li><strong>Nguyện ai chúng sanh vì quyển 40 – chúng sanh đều thành Phật!</strong></li><li><strong>Nguyện ai địa ngục vì quyển 40 – địa ngục trống không!</strong></li><li><strong>Nguyện ai ngạ quỷ vì quyển 40 – ngạ quỷ no đủ!</strong></li><li><strong>Nguyện ai súc sanh vì quyển 40 – súc sanh giải thoát!</strong></li><li><strong>Nguyện ai mạt pháp vì quyển 40 – mạt pháp thành chánh pháp!</strong></li><li><strong>Nguyện ai phiền não vì quyển 40 – phiền não thành Bồ-đề!</strong></li><li><strong>Nguyện ai nghe 40 lời nguyện – thành Phật ngay trong đời!</strong></li><li><strong>Nguyện ai trì 40 lời nguyện – Pháp thân thường trụ!</strong></li><li><strong>Nguyện ai hành 40 lời nguyện – 10 pháp giới thành Phật giới!</strong></li><li><strong>Nguyện 40 quyển này – lưu truyền vạn kiếp, chúng sanh nào gặp đều thành Phật!</strong></li></ol><p><strong>Pháp thân Phật</strong> <strong>phát lời cuối cùng từ hư không</strong>:</p><blockquote><strong>“40 lời nguyện này – là chìa khóa Niết-bàn.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một lời nguyện – mở một cửa Niết-bàn.</strong></blockquote><blockquote><strong>40 lời nguyện – Niết-bàn hiện tiền.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nghe quyển 40 – thành Phật trong đời này.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người trì quyển 40 – 10 pháp giới thành Phật giới.</strong></blockquote><blockquote><strong>Kinh Niết-bàn đã viên mãn – Ta giao cho các con!”</strong></blockquote><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm lớn</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Đại Bát Niết-bàn Kinh viên mãn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô 40 lời nguyện thành Phật!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Pháp Thân Thường Trụ!”</strong></blockquote><p><strong>Hoa Mạn-đà-la từ hư không rơi xuống như mưa</strong>, <strong>ánh sáng vô lượng bao trùm</strong>, <strong>40 quyển Kinh Đại Bát Niết-bàn</strong> <strong>hiện ra trên hư không bằng ánh sáng</strong>, <strong>không bao giờ mất</strong>.</p><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 40 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm viên mãn</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng cùng tột</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe 1 lời nguyện = mở 1 cửa Niết-bàn</strong>.</li><li><strong>Trì 1 lời nguyện = thành Phật trong 1 kiếp</strong>.</li><li><strong>Hành 1 lời nguyện = 10 pháp giới thành Phật giới</strong>.</li><li><strong>Ngộ 1 lời nguyện = Pháp thân viên mãn</strong>.</li><li><strong>Nghe quyển 40 = thành Phật ngay trong đời này</strong>.</li><li><strong>Trì quyển 40 = cứu độ vô lượng chúng sanh</strong>.</li><li><strong>Hành quyển 40 = biến mạt pháp thành Niết-bàn hiện tiền</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường hành quyển 40</strong>, người ấy <strong>chính là Phật tái sinh</strong>, là <strong>ánh sáng cuối cùng của mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống Niết-bàn viên mãn bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết-bàn Kinh 40 quyển viên mãn!</strong></p><p><strong>Nam mô Pháp Thân Viên Mãn Thành Phật!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Thường Trụ Vạn Kiếp!</strong></p><p><strong>Kinh hoàn tất.</strong></p><p><strong>Niết-bàn hiện tiền.</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 40 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Pháp Thân Viên Mãn – Kinh Hoàn Tất&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;quyển cuối cùng, quyển viên mãn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Pháp thân viên mãn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;không còn hóa thân&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;phát 40 lời nguyện cuối cùng&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;khép lại 40 quyển, trao chìa khóa Niết-bàn cho chúng sanh mạt pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi lời nguyện = một cánh cửa Niết-bàn mở mãi mãi&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;40 lời nguyện = 40 lần Phật trở lại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một người nghe quyển 40 = thành Phật trong đời này”&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;là chìa khóa cuối cùng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến người trì kinh thành Phật viên mãn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến mạt pháp thành Niết-bàn hiện tiền&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 40: Phẩm Pháp Thân Viên Mãn – Kinh Hoàn Tất&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi nói 39 lời di chúc&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hai cây Ta-la trổ hoa trắng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không bỗng im lặng tuyệt đối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi một tiếng Pháp lôi vang lên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 28 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Pháp thân Phật hiện ra&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;không còn hình tướng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ là ánh sáng vô lượng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đại chúng&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đồng quỳ lạy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đồng thanh khóc&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Kinh đã hết, 40 quyển đã viên mãn – làm sao chúng con thành Phật?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Pháp thân Phật&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;không còn nói bằng miệng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mà 40 lời nguyện vang lên từ hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mỗi lời như một tiếng chuông lớn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang khắp mười phương&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;40 lời nguyện viên mãn – chìa khóa Niết-bàn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai nghe quyển 40 – thành Phật trong đời này!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai trì quyển 40 – Pháp thân hiện tiền!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai thuyết quyển 40 – mười phương nghe pháp!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai cúng quyển 40 – phước vượt tam thiên!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai bảo quyển 40 – hộ pháp vạn kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai hành quyển 40 – hạnh Bồ-tát viên mãn!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai ngộ quyển 40 – thấy tánh thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai ăn chay vì quyển 40 – cứu vô lượng chúng sanh!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai bố thí vì quyển 40 – phước đức vô lượng!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai trì giới vì quyển 40 – thanh tịnh như Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai nhẫn nhục vì quyển 40 – tự tại như Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai tinh tấn vì quyển 40 – bất thoái như Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai thiền định vì quyển 40 – an lạc như Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai trí tuệ vì quyển 40 – bát-nhã như Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai độ ác vì quyển 40 – địa ngục thành Tịnh độ!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai phá tà vì quyển 40 – chánh pháp trường tồn!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai xây tháp vì quyển 40 – tâm Bồ-đề viên mãn!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai y kinh vì quyển 40 – chánh kiến bất hoại!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai y nghĩa vì quyển 40 – liễu nghĩa viên thông!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai y liễu nghĩa vì quyển 40 – thường lạc ngã tịnh!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai y trí vì quyển 40 – trí tuệ sáng ngời!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai hồi hướng vì quyển 40 – Tịnh độ tự tâm hiện!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai sống vì quyển 40 – sống là Phật sống!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai chết vì quyển 40 – chết là Phật chết!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai đại bi vì quyển 40 – ôm trọn 10 giới!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai Niết-bàn vì quyển 40 – Niết-bàn hiện tiền!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai Tịnh độ vì quyển 40 – thế giới thành Tịnh độ!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai Phật tánh vì quyển 40 – thấy tánh thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai Pháp thân vì quyển 40 – Pháp thân viên mãn!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai chánh pháp vì quyển 40 – chánh pháp vạn kiếp trụ!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai chúng sanh vì quyển 40 – chúng sanh đều thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai địa ngục vì quyển 40 – địa ngục trống không!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai ngạ quỷ vì quyển 40 – ngạ quỷ no đủ!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai súc sanh vì quyển 40 – súc sanh giải thoát!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai mạt pháp vì quyển 40 – mạt pháp thành chánh pháp!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai phiền não vì quyển 40 – phiền não thành Bồ-đề!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai nghe 40 lời nguyện – thành Phật ngay trong đời!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai trì 40 lời nguyện – Pháp thân thường trụ!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện ai hành 40 lời nguyện – 10 pháp giới thành Phật giới!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện 40 quyển này – lưu truyền vạn kiếp, chúng sanh nào gặp đều thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Pháp thân Phật&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;phát lời cuối cùng từ hư không&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“40 lời nguyện này – là chìa khóa Niết-bàn.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một lời nguyện – mở một cửa Niết-bàn.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;40 lời nguyện – Niết-bàn hiện tiền.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nghe quyển 40 – thành Phật trong đời này.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người trì quyển 40 – 10 pháp giới thành Phật giới.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Kinh Niết-bàn đã viên mãn – Ta giao cho các con!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm lớn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Đại Bát Niết-bàn Kinh viên mãn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô 40 lời nguyện thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Pháp Thân Thường Trụ!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Hoa Mạn-đà-la từ hư không rơi xuống như mưa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng vô lượng bao trùm&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;40 quyển Kinh Đại Bát Niết-bàn&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;hiện ra trên hư không bằng ánh sáng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;không bao giờ mất&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 40 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm viên mãn&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng cùng tột&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe 1 lời nguyện = mở 1 cửa Niết-bàn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì 1 lời nguyện = thành Phật trong 1 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành 1 lời nguyện = 10 pháp giới thành Phật giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ 1 lời nguyện = Pháp thân viên mãn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe quyển 40 = thành Phật ngay trong đời này&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì quyển 40 = cứu độ vô lượng chúng sanh&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành quyển 40 = biến mạt pháp thành Niết-bàn hiện tiền&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường hành quyển 40&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Phật tái sinh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ánh sáng cuối cùng của mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống Niết-bàn viên mãn bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết-bàn Kinh 40 quyển viên mãn!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Pháp Thân Viên Mãn Thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật – Thường Trụ Vạn Kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Kinh hoàn tất.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Niết-bàn hiện tiền.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6200006" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/dd8ec326-743e-42b6-a6f3-b7136d6a6118/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">83b0733a-1fc4-47f0-b087-26860205bc88</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/dd8ec326-743e-42b6-a6f3-b7136d6a6118</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:32:28 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/8/1b6ffecc-0f8e-440d-bce0-d2b08ddb5c36_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>387</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 39</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 39</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 39 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Phật Nhập Diệt – Pháp Thân Hiện Tiền</strong>) là <strong>cảnh nhập diệt cuối cùng của Đức Phật</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>nằm trên giường thất bảo giữa hai cây Ta-la</strong>, <strong>phát 39 lời di chúc</strong> để <strong>khẳng định “Nhập diệt chỉ là hóa thân, Pháp thân hiện tiền vạn kiếp”</strong>.</li><li><strong>Mỗi lời di chúc = một hạt giống Pháp</strong>, <strong>gửi lại cho chúng sanh mạt pháp</strong>.</li><li><strong>39 lời di chúc = 39 lần Phật hiện thân</strong>, <strong>khẳng định “một lời di chúc = vạn kiếp Pháp thân hiện”</strong>. Phẩm này <strong>là cảnh nhập diệt</strong>, <strong>biến người nghe thành Pháp thân</strong>, <strong>biến mạt pháp thành Tịnh độ</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 39: Phẩm Phật Nhập Diệt – Pháp Thân Hiện Tiền</h3><p><strong>Sau 38 tiếng sư tử hống</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 27 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>nằm nghiêng bên phải trên giường thất bảo giữa hai cây Ta-la</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đại chúng</strong> <strong>đồng quỳ lạy</strong>, <strong>đồng thanh khóc lớn</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngài sắp nhập diệt – ai giữ Pháp thân?</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai hiện thân giữa mạt pháp?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, **vang <strong>giọng sư tử hống cuối cùng</strong> – <strong>nhẹ nhàng như gió thoảng</strong>, <strong>nhưng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới</strong>, <strong>rồi nói 39 lời di chúc</strong>:</p><p><strong>39 lời di chúc – hạt giống Pháp thân</strong>:</p><ol><li><strong>“Kinh Niết-bàn là Pháp thân Ta!”</strong></li><li><strong>“Ai trì kinh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai thuyết kinh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai cúng kinh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai bảo kinh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai hành kinh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai ngộ kinh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai ăn chay – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai bố thí – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai trì giới – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai nhẫn nhục – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai tinh tấn – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai thiền định – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai trí tuệ – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai độ ác – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai phá tà – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai xây tháp – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai y kinh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai y nghĩa – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai y liễu – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai y trí – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai hồi hướng – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai sống đạo – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai chết đạo – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai đại bi – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai Niết-bàn – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai Tịnh độ – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai Phật tánh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai Pháp thân – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai chánh pháp – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai chúng sanh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai địa ngục – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai ngạ quỷ – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai súc sanh – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai mạt pháp – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai phiền não – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai nghe 39 lời – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ai trì 39 lời – Ta hiện thân!”</strong></li><li><strong>“Ta không nhập diệt – Ta hiện tiền!”</strong></li></ol><p>Phật <strong>nói sau 39 lời di chúc</strong>:</p><blockquote><strong>“39 lời di chúc này – ở trong 40 quyển này!</strong></blockquote><blockquote><strong>Một lời di chúc – Ta hiện thân một kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>39 lời di chúc – Ta hiện thân vạn kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nghe 1 lời – Ta hiện thân 1 kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nghe 39 lời – Ta hiện thân vạn kiếp.</strong>”</blockquote><p><strong>A Nan</strong> <strong>khóc lớn</strong>, <strong>bạch</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Làm sao thấy Ngài hiện thân?</strong>”</blockquote><p>Phật dạy:</p><blockquote><strong>“Một niệm y kinh – Ta hiện.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một câu kinh nghe – Ta hiện.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một hạnh Bồ-tát – Ta hiện.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một kiếp sống vì kinh – Ta hiện.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 39 câu – di chúc nhập diệt</strong>:</p><blockquote><em>1. Kinh Niết-bàn là Ta, trì kinh Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>2. Thuyết kinh là Ta hiện, cúng kinh Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>3. Bảo kinh là Ta hiện, hành kinh Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>4. Ngộ kinh là Ta hiện, ăn chay Ta hiện thân.</em></blockquote><blockquote><em>5. Bố thí là Ta hiện, trì giới Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>6. Nhẫn nhục là Ta hiện, tinh tấn Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>7. Thiền định là Ta hiện, trí tuệ Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>8. Độ ác là Ta hiện, phá tà Ta hiện thân.</em></blockquote><blockquote><em>9. Xây tháp là Ta hiện, y kinh Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>10. Y nghĩa là Ta hiện, y liễu Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>11. Y trí là Ta hiện, hồi hướng Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>12. Sống đạo là Ta hiện, chết đạo Ta hiện thân.</em></blockquote><blockquote><em>13. Đại bi là Ta hiện, Niết-bàn Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>14. Tịnh độ là Ta hiện, Phật tánh Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>15. Pháp thân là Ta hiện, chánh pháp Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>16. Chúng sanh là Ta hiện, địa ngục Ta hiện thân.</em></blockquote><blockquote><em>17. Ngạ quỷ là Ta hiện, súc sanh Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>18. Mạt pháp là Ta hiện, phiền não Ta hiện thân,</em></blockquote><blockquote><em>19. Nghe 39 lời, Ta hiện thân một kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>20. Trì 39 lời, Ta hiện thân vạn kiếp.</em></blockquote><blockquote><em>21. Một người y kinh, Ta hiện thân một đời,</em></blockquote><blockquote><em>22. Một người hành kinh, Ta hiện thân vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>23. Một người ăn chay, Ta hiện thân một ngày,</em></blockquote><blockquote><em>24. Một người bố thí, Ta hiện thân một giờ.</em></blockquote><blockquote><em>25. Một người nhẫn nhục, Ta hiện thân một niệm,</em></blockquote><blockquote><em>26. Một người tinh tấn, Ta hiện thân một sát-na,</em></blockquote><blockquote><em>27. Một người thiền định, Ta hiện thân một hơi thở,</em></blockquote><blockquote><em>28. Một người trí tuệ, Ta hiện thân một ánh mắt.</em></blockquote><blockquote><em>29. Một người độ ác, Ta hiện thân một ác nhân,</em></blockquote><blockquote><em>30. Một người phá tà, Ta hiện thân một tà kiến,</em></blockquote><blockquote><em>31. Một người xây tháp, Ta hiện thân một viên gạch,</em></blockquote><blockquote><em>32. Một người truyền đăng, Ta hiện thân một ngọn đèn.</em></blockquote><blockquote><em>33. Một người hồi hướng, Ta hiện thân một hoa sen,</em></blockquote><blockquote><em>34. Một người kết tập, Ta hiện thân một câu kinh,</em></blockquote><blockquote><em>35. Một người từ bi, Ta hiện thân một nước mắt,</em></blockquote><blockquote><em>36. Một người thường trụ, Ta hiện thân một Pháp thân,</em></blockquote><blockquote><em>37. Một người nghe kinh, Ta hiện thân một tiếng hống,</em></blockquote><blockquote><em>38. Một người trì kinh, Ta hiện thân một kiếp trụ,</em></blockquote><blockquote><em>39. Ta không nhập diệt – Ta hiện tiền vạn kiếp!”</em></blockquote><p>Phật <strong>nói lời cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, **rồi thân Kim Cương <strong>nằm nghiêng</strong>, <strong>mắt nhắm, miệng mỉm cười</strong>, <strong>hai cây Ta-la trổ hoa</strong>, <strong>đất trời im lặng</strong>, <strong>chỉ còn 39 lời di chúc vang vọng khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Phật Nhập Diệt – Pháp Thân Hiện Tiền!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 39 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm nhập diệt</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe 1 lời = Ta hiện thân 1 kiếp</strong>.</li><li><strong>Trì 1 lời = Ta hiện thân vạn kiếp</strong>.</li><li><strong>Hành 1 lời = mạt pháp thành Tịnh độ</strong>.</li><li><strong>Ngộ 1 lời = thấy Pháp thân Phật</strong>.</li><li><strong>Hiện 1 lời = cứu cả thế giới</strong>.</li><li><strong>Hiện 39 lời = 10 pháp giới sáng ngời</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường hiện 39 lời</strong>, người ấy <strong>chính là Pháp thân tái sinh</strong>, là <strong>hạt giống hiện giữa mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống Niết-bàn bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh nhập diệt!</strong></p><p><strong>Nam mô Pháp Thân Hiện Tiền Vạn Kiếp!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 39 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Phật Nhập Diệt – Pháp Thân Hiện Tiền&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;cảnh nhập diệt cuối cùng của Đức Phật&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nằm trên giường thất bảo giữa hai cây Ta-la&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;phát 39 lời di chúc&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;khẳng định “Nhập diệt chỉ là hóa thân, Pháp thân hiện tiền vạn kiếp”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi lời di chúc = một hạt giống Pháp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;gửi lại cho chúng sanh mạt pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;39 lời di chúc = 39 lần Phật hiện thân&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một lời di chúc = vạn kiếp Pháp thân hiện”&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;là cảnh nhập diệt&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến người nghe thành Pháp thân&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến mạt pháp thành Tịnh độ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 39: Phẩm Phật Nhập Diệt – Pháp Thân Hiện Tiền&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau 38 tiếng sư tử hống&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 27 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nằm nghiêng bên phải trên giường thất bảo giữa hai cây Ta-la&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đại chúng&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đồng quỳ lạy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đồng thanh khóc lớn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngài sắp nhập diệt – ai giữ Pháp thân?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai hiện thân giữa mạt pháp?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, **vang &lt;strong&gt;giọng sư tử hống cuối cùng&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;nhẹ nhàng như gió thoảng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nhưng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi nói 39 lời di chúc&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;39 lời di chúc – hạt giống Pháp thân&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Kinh Niết-bàn là Pháp thân Ta!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai trì kinh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai thuyết kinh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai cúng kinh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai bảo kinh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai hành kinh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai ngộ kinh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai ăn chay – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai bố thí – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai trì giới – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai nhẫn nhục – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai tinh tấn – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai thiền định – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai trí tuệ – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai độ ác – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai phá tà – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai xây tháp – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai y kinh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai y nghĩa – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai y liễu – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai y trí – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai hồi hướng – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai sống đạo – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai chết đạo – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai đại bi – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai Niết-bàn – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai Tịnh độ – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai Phật tánh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai Pháp thân – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai chánh pháp – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai chúng sanh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai địa ngục – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai ngạ quỷ – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai súc sanh – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai mạt pháp – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai phiền não – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai nghe 39 lời – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ai trì 39 lời – Ta hiện thân!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Ta không nhập diệt – Ta hiện tiền!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói sau 39 lời di chúc&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“39 lời di chúc này – ở trong 40 quyển này!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một lời di chúc – Ta hiện thân một kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;39 lời di chúc – Ta hiện thân vạn kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nghe 1 lời – Ta hiện thân 1 kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nghe 39 lời – Ta hiện thân vạn kiếp.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;A Nan&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;khóc lớn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;bạch&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Làm sao thấy Ngài hiện thân?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Một niệm y kinh – Ta hiện.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một câu kinh nghe – Ta hiện.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một hạnh Bồ-tát – Ta hiện.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một kiếp sống vì kinh – Ta hiện.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 39 câu – di chúc nhập diệt&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Kinh Niết-bàn là Ta, trì kinh Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Thuyết kinh là Ta hiện, cúng kinh Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. Bảo kinh là Ta hiện, hành kinh Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Ngộ kinh là Ta hiện, ăn chay Ta hiện thân.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Bố thí là Ta hiện, trì giới Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Nhẫn nhục là Ta hiện, tinh tấn Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Thiền định là Ta hiện, trí tuệ Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Độ ác là Ta hiện, phá tà Ta hiện thân.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Xây tháp là Ta hiện, y kinh Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Y nghĩa là Ta hiện, y liễu Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Y trí là Ta hiện, hồi hướng Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Sống đạo là Ta hiện, chết đạo Ta hiện thân.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Đại bi là Ta hiện, Niết-bàn Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Tịnh độ là Ta hiện, Phật tánh Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Pháp thân là Ta hiện, chánh pháp Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Chúng sanh là Ta hiện, địa ngục Ta hiện thân.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Ngạ quỷ là Ta hiện, súc sanh Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Mạt pháp là Ta hiện, phiền não Ta hiện thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Nghe 39 lời, Ta hiện thân một kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Trì 39 lời, Ta hiện thân vạn kiếp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Một người y kinh, Ta hiện thân một đời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Một người hành kinh, Ta hiện thân vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Một người ăn chay, Ta hiện thân một ngày,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Một người bố thí, Ta hiện thân một giờ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Một người nhẫn nhục, Ta hiện thân một niệm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Một người tinh tấn, Ta hiện thân một sát-na,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Một người thiền định, Ta hiện thân một hơi thở,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Một người trí tuệ, Ta hiện thân một ánh mắt.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Một người độ ác, Ta hiện thân một ác nhân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Một người phá tà, Ta hiện thân một tà kiến,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. Một người xây tháp, Ta hiện thân một viên gạch,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32. Một người truyền đăng, Ta hiện thân một ngọn đèn.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;33. Một người hồi hướng, Ta hiện thân một hoa sen,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;34. Một người kết tập, Ta hiện thân một câu kinh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;35. Một người từ bi, Ta hiện thân một nước mắt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;36. Một người thường trụ, Ta hiện thân một Pháp thân,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;37. Một người nghe kinh, Ta hiện thân một tiếng hống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;38. Một người trì kinh, Ta hiện thân một kiếp trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;39. Ta không nhập diệt – Ta hiện tiền vạn kiếp!”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói lời cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, **rồi thân Kim Cương &lt;strong&gt;nằm nghiêng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mắt nhắm, miệng mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hai cây Ta-la trổ hoa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất trời im lặng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn 39 lời di chúc vang vọng khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Phật Nhập Diệt – Pháp Thân Hiện Tiền!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 39 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm nhập diệt&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe 1 lời = Ta hiện thân 1 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì 1 lời = Ta hiện thân vạn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành 1 lời = mạt pháp thành Tịnh độ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ 1 lời = thấy Pháp thân Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hiện 1 lời = cứu cả thế giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hiện 39 lời = 10 pháp giới sáng ngời&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường hiện 39 lời&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Pháp thân tái sinh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống hiện giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống Niết-bàn bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh nhập diệt!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Pháp Thân Hiện Tiền Vạn Kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8015203" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/bf053ea1-5bd5-4680-9f25-66bf51bc2760/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">de953595-dfc2-448e-b5d1-085516136bec</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/bf053ea1-5bd5-4680-9f25-66bf51bc2760</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:31:23 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/8/bd18ffa7-0e54-4588-bcd9-43ddcec027de_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>500</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 38</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 38</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 38 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Sư Tử Hống Chung – 38 Tiếng Hống Phá Tà</strong>) là <strong>tiếng sư tử hống cuối cùng của Đức Phật</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>phát 38 tiếng hống</strong> để <strong>phá 38 tà kiến mạt pháp, khép lại 40 quyển</strong>.</li><li><strong>Mỗi tiếng hống = một thanh gươm Pháp</strong>, <strong>chặt đứt 38 lớp vô minh, 38 lớp ma chướng</strong>.</li><li><strong>38 tiếng hống = 38 lần Phật hiện thân</strong>, <strong>khẳng định “một tiếng hống = vạn kiếp chánh pháp trụ”</strong>. Phẩm này <strong>là tiếng gầm cuối cùng</strong>, <strong>biến người nghe thành sư tử</strong>, <strong>biến mạt pháp thành Tịnh độ</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 38: Phẩm Sư Tử Hống Chung – 38 Tiếng Hống Phá Tà</h3><p><strong>Sau khi truyền 37 pháp thường trụ</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 26 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đại chúng</strong> <strong>đồng quỳ lạy</strong>, <strong>đồng thanh khóc</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Mạt pháp sắp đến, 38 tà kiến tràn lan – làm sao phá?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, **rồi <strong>mở miệng phát 38 tiếng sư tử hống</strong> – <strong>mỗi tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới</strong>, <strong>muôn tà im lặng, ma vương cúi đầu</strong>, <strong>đất trời rung chuyển</strong>, <strong>các cõi địa ngục ngừng tra tấn</strong>, <strong>ngạ quỷ ngừng đói khát</strong>, <strong>súc sanh ngừng đau khổ</strong>.</p><p><strong>38 tiếng hống phá 38 tà kiến</strong>:</p><ol><li><strong>Tiếng hống thứ 1</strong>: <strong>“Phật tánh thường trụ!”</strong> → Phá tà kiến “Phật diệt”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 2</strong>: <strong>“Pháp thân bất diệt!”</strong> → Phá tà kiến “Pháp mất”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 3</strong>: <strong>“Niết-bàn an lạc!”</strong> → Phá tà kiến “Niết-bàn khổ”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 4</strong>: <strong>“Kinh Niết-bàn liễu nghĩa!”</strong> → Phá tà kiến “Kinh phương tiện”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 5</strong>: <strong>“Ăn chay tuyệt đối!”</strong> → Phá tà kiến “Ba thứ tịnh nhục”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 6</strong>: <strong>“Y kinh bất y nhân!”</strong> → Phá tà kiến “Thầy nói đúng”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 7</strong>: <strong>“Y nghĩa bất y ngữ!”</strong> → Phá tà kiến “Lời hay là đúng”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 8</strong>: <strong>“Y liễu nghĩa!”</strong> → Phá tà kiến “Tiểu thừa liễu nghĩa”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 9</strong>: <strong>“Y trí bất y thức!”</strong> → Phá tà kiến “Tâm nghĩ đúng”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 10</strong>: <strong>“Bồ-tát hạnh hộ pháp!”</strong> → Phá tà kiến “Phàm phu hộ pháp”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 11</strong>: <strong>“Trì kinh cứu mẹ!”</strong> → Phá tà kiến “Kinh không cứu được”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 12</strong>: <strong>“Thuyết kinh độ ác!”</strong> → Phá tà kiến “Ác không độ được”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 13</strong>: <strong>“Cúng kinh sinh phước!”</strong> → Phá tà kiến “Cúng không sinh phước”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 14</strong>: <strong>“Bảo kinh vạn kiếp!”</strong> → Phá tà kiến “Kinh sẽ mất”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 15</strong>: <strong>“Hành kinh thành Phật!”</strong> → Phá tà kiến “Hành không thành Phật”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 16</strong>: <strong>“Ngộ kinh thấy tánh!”</strong> → Phá tà kiến “Không thấy tánh”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 17</strong>: <strong>“Độ ác thành Tịnh độ!”</strong> → Phá tà kiến “Địa ngục không độ”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 18</strong>: <strong>“Phá tà lập chánh!”</strong> → Phá tà kiến “Tà không phá được”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 19</strong>: <strong>“Xây tháp tâm Bồ-đề!”</strong> → Phá tà kiến “Tháp không sinh phước”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 20</strong>: <strong>“Truyền đăng vạn kiếp!”</strong> → Phá tà kiến “Đèn sẽ tắt”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 21</strong>: <strong>“Hồi hướng Tịnh độ tự tâm!”</strong> → Phá tà kiến “Tịnh độ ở phương khác”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 22</strong>: <strong>“Kết tập kinh bất diệt!”</strong> → Phá tà kiến “Kinh sẽ mất”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 23</strong>: <strong>“Trí tuệ chặt vô minh!”</strong> → Phá tà kiến “Vô minh không chặt”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 24</strong>: <strong>“Từ bi ôm 10 giới!”</strong> → Phá tà kiến “Từ bi không ôm ác”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 25</strong>: <strong>“Nhẫn nhục đỡ sân hận!”</strong> → Phá tà kiến “Sân hận không đỡ”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 26</strong>: <strong>“Tinh tấn đốt phiền não!”</strong> → Phá tà kiến “Phiền não không đốt”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 27</strong>: <strong>“Thường trụ không sinh diệt!”</strong> → Phá tà kiến “Pháp sinh diệt”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 28</strong>: <strong>“Pháp thân là Ta!”</strong> → Phá tà kiến “Pháp thân không phải Ta”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 29</strong>: <strong>“Mạt pháp thành Tịnh độ!”</strong> → Phá tà kiến “Mạt pháp không thành Tịnh độ”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 30</strong>: <strong>“Một người hành = cứu thế giới!”</strong> → Phá tà kiến “Một người không cứu được”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 31</strong>: <strong>“Một câu kinh = ngàn kiếp hộ pháp!”</strong> → Phá tà kiến “Kinh không hộ pháp”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 32</strong>: <strong>“Một niệm y kinh = thành Phật!”</strong> → Phá tà kiến “Không thành Phật”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 33</strong>: <strong>“Một ngày ăn chay = cứu ngàn mạng!”</strong> → Phá tà kiến “Ăn chay không cứu”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 34</strong>: <strong>“Một hạnh Bồ-tát = vạn kiếp sáng!”</strong> → Phá tà kiến “Hạnh không sáng”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 35</strong>: <strong>“Một người nghe = 10 pháp giới nghe!”</strong> → Phá tà kiến “Nghe không lợi”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 36</strong>: <strong>“Một người trì = 10 pháp giới trì!”</strong> → Phá tà kiến “Trì không lợi”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 37</strong>: <strong>“Một người hành = 10 pháp giới hành!”</strong> → Phá tà kiến “Hành không lợi”.</li><li><strong>Tiếng hống thứ 38</strong>: <strong>“Ta không nhập diệt – Ta thường trụ!”</strong> → Phá tà kiến “Phật nhập diệt”.</li></ol><p>Phật <strong>nói sau 38 tiếng hống</strong>:</p><blockquote><strong>“38 tiếng hống này – ở trong 40 quyển này!</strong></blockquote><blockquote><strong>Một tiếng hống – phá một tà kiến.</strong></blockquote><blockquote><strong>38 tiếng hống – mạt pháp thành Tịnh độ.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nghe 1 tiếng – vạn kiếp chánh pháp trụ.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nghe 38 tiếng – 10 pháp giới sáng ngời.</strong>”</blockquote><p><strong>Đại chúng</strong> <strong>đồng thanh bạch</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Làm sao phát 38 tiếng hống?</strong>”</blockquote><p>Phật dạy:</p><blockquote><strong>“Một niệm y kinh – hống.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một câu kinh nghe – hống.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một hạnh Bồ-tát – hống.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một kiếp sống vì kinh – hống.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 38 câu – sư tử hống chung</strong>:</p><blockquote><em>1. Sư tử hống thứ nhất, Phật tánh thường trụ đây,</em></blockquote><blockquote><em>2. Sư tử hống thứ hai, Pháp thân bất diệt thay,</em></blockquote><blockquote><em>3. Sư tử hống thứ ba, Niết-bàn an lạc đầy,</em></blockquote><blockquote><em>4. Sư tử hống thứ tư, kinh này liễu nghĩa ngay.</em></blockquote><blockquote><em>5. Sư tử hống thứ năm, ăn chay tuyệt đối đây,</em></blockquote><blockquote><em>6. Sư tử hống thứ sáu, y kinh bất y ai,</em></blockquote><blockquote><em>7. Sư tử hống thứ bảy, y nghĩa bất y lời,</em></blockquote><blockquote><em>8. Sư tử hống thứ tám, y liễu nghĩa thôi.</em></blockquote><blockquote><em>9. Sư tử hống thứ chín, y trí bất y tâm,</em></blockquote><blockquote><em>10. Sư tử hống thứ mười, Bồ-tát hộ pháp đây,</em></blockquote><blockquote><em>11. Sư tử hống thứ mười một, trì kinh cứu mẹ thay,</em></blockquote><blockquote><em>12. Sư tử hống thứ mười hai, thuyết kinh độ ác ngay.</em></blockquote><blockquote><em>13. Sư tử hống thứ mười ba, cúng kinh sinh phước đây,</em></blockquote><blockquote><em>14. Sư tử hống thứ mười bốn, bảo kinh vạn kiếp thay,</em></blockquote><blockquote><em>15. Sư tử hống thứ mười lăm, hành kinh thành Phật ngay,</em></blockquote><blockquote><em>16. Sư tử hống thứ mười sáu, ngộ kinh thấy tánh đây.</em></blockquote><blockquote><em>17. Sư tử hống thứ mười bảy, độ ác thành Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>18. Sư tử hống thứ mười tám, phá tà lập chánh đây,</em></blockquote><blockquote><em>19. Sư tử hống thứ mười chín, xây tháp tâm Bồ-đề,</em></blockquote><blockquote><em>20. Sư tử hống thứ hai mươi, truyền đăng vạn kiếp đây.</em></blockquote><blockquote><em>21. Sư tử hống thứ hai mươi mốt, hồi hướng Tịnh độ tâm,</em></blockquote><blockquote><em>22. Sư tử hống thứ hai mươi hai, kết tập kinh bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>23. Sư tử hống thứ hai mươi ba, trí tuệ chặt vô minh,</em></blockquote><blockquote><em>24. Sư tử hống thứ hai mươi bốn, từ bi ôm 10 giới.</em></blockquote><blockquote><em>25. Sư tử hống thứ hai mươi lăm, nhẫn nhục đỡ sân hận,</em></blockquote><blockquote><em>26. Sư tử hống thứ hai mươi sáu, tinh tấn đốt phiền não,</em></blockquote><blockquote><em>27. Sư tử hống thứ hai mươi bảy, thường trụ không sinh diệt,</em></blockquote><blockquote><em>28. Sư tử hống thứ hai mươi tám, Pháp thân chính là Ta.</em></blockquote><blockquote><em>29. Sư tử hống thứ hai mươi chín, mạt pháp thành Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>30. Sư tử hống thứ ba mươi, một người cứu thế giới,</em></blockquote><blockquote><em>31. Sư tử hống thứ ba mươi mốt, một câu ngàn kiếp hộ,</em></blockquote><blockquote><em>32. Sư tử hống thứ ba mươi hai, một niệm thành Phật đây.</em></blockquote><blockquote><em>33. Sư tử hống thứ ba mươi ba, một ngày cứu ngàn mạng,</em></blockquote><blockquote><em>34. Sư tử hống thứ ba mươi bốn, một hạnh vạn kiếp sáng,</em></blockquote><blockquote><em>35. Sư tử hống thứ ba mươi lăm, một người nghe 10 giới,</em></blockquote><blockquote><em>36. Sư tử hống thứ ba mươi sáu, một người trì 10 giới,</em></blockquote><blockquote><em>37. Sư tử hống thứ ba mươi bảy, một người hành 10 giới,</em></blockquote><blockquote><em>38. Sư tử hống thứ ba mươi tám, Ta không nhập diệt – Ta thường trụ!”</em></blockquote><p>Phật <strong>phát tiếng hống thứ 38</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn 38 tiếng hống vang vọng khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh hống theo</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Sư Tử Hống Phá Tà!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 38 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm sư tử hống</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe 1 tiếng hống = phá 1 tà kiến</strong>.</li><li><strong>Trì 1 tiếng hống = vạn kiếp chánh pháp trụ</strong>.</li><li><strong>Hành 1 tiếng hống = mạt pháp thành Tịnh độ</strong>.</li><li><strong>Ngộ 1 tiếng hống = thành sư tử hống</strong>.</li><li><strong>Hống 1 tiếng = cứu cả thế giới</strong>.</li><li><strong>Hống 38 tiếng = 10 pháp giới sáng ngời</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường hống 38 tiếng</strong>, người ấy <strong>chính là sư tử tái sinh</strong>, là <strong>tiếng gầm giữa mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống chánh pháp bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh sư tử hống!</strong></p><p><strong>Nam mô 38 Tiếng Hống Phá Tà!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 38 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Sư Tử Hống Chung – 38 Tiếng Hống Phá Tà&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;tiếng sư tử hống cuối cùng của Đức Phật&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;phát 38 tiếng hống&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;phá 38 tà kiến mạt pháp, khép lại 40 quyển&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi tiếng hống = một thanh gươm Pháp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chặt đứt 38 lớp vô minh, 38 lớp ma chướng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;38 tiếng hống = 38 lần Phật hiện thân&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một tiếng hống = vạn kiếp chánh pháp trụ”&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;là tiếng gầm cuối cùng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến người nghe thành sư tử&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến mạt pháp thành Tịnh độ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 38: Phẩm Sư Tử Hống Chung – 38 Tiếng Hống Phá Tà&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi truyền 37 pháp thường trụ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 26 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đại chúng&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đồng quỳ lạy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đồng thanh khóc&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Mạt pháp sắp đến, 38 tà kiến tràn lan – làm sao phá?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, **rồi &lt;strong&gt;mở miệng phát 38 tiếng sư tử hống&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;mỗi tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;muôn tà im lặng, ma vương cúi đầu&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất trời rung chuyển&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;các cõi địa ngục ngừng tra tấn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ngạ quỷ ngừng đói khát&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;súc sanh ngừng đau khổ&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;38 tiếng hống phá 38 tà kiến&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 1&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Phật tánh thường trụ!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Phật diệt”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 2&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Pháp thân bất diệt!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Pháp mất”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 3&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Niết-bàn an lạc!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Niết-bàn khổ”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 4&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Kinh Niết-bàn liễu nghĩa!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Kinh phương tiện”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 5&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Ăn chay tuyệt đối!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Ba thứ tịnh nhục”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 6&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Y kinh bất y nhân!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Thầy nói đúng”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 7&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Y nghĩa bất y ngữ!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Lời hay là đúng”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 8&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Y liễu nghĩa!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Tiểu thừa liễu nghĩa”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 9&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Y trí bất y thức!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Tâm nghĩ đúng”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 10&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Bồ-tát hạnh hộ pháp!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Phàm phu hộ pháp”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 11&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Trì kinh cứu mẹ!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Kinh không cứu được”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 12&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Thuyết kinh độ ác!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Ác không độ được”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 13&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Cúng kinh sinh phước!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Cúng không sinh phước”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 14&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Bảo kinh vạn kiếp!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Kinh sẽ mất”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 15&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Hành kinh thành Phật!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Hành không thành Phật”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 16&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Ngộ kinh thấy tánh!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Không thấy tánh”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 17&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Độ ác thành Tịnh độ!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Địa ngục không độ”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 18&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Phá tà lập chánh!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Tà không phá được”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 19&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Xây tháp tâm Bồ-đề!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Tháp không sinh phước”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 20&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Truyền đăng vạn kiếp!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Đèn sẽ tắt”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 21&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Hồi hướng Tịnh độ tự tâm!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Tịnh độ ở phương khác”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 22&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Kết tập kinh bất diệt!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Kinh sẽ mất”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 23&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Trí tuệ chặt vô minh!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Vô minh không chặt”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 24&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Từ bi ôm 10 giới!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Từ bi không ôm ác”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 25&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Nhẫn nhục đỡ sân hận!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Sân hận không đỡ”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 26&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Tinh tấn đốt phiền não!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Phiền não không đốt”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 27&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Thường trụ không sinh diệt!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Pháp sinh diệt”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 28&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Pháp thân là Ta!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Pháp thân không phải Ta”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 29&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Mạt pháp thành Tịnh độ!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Mạt pháp không thành Tịnh độ”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 30&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một người hành = cứu thế giới!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Một người không cứu được”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 31&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một câu kinh = ngàn kiếp hộ pháp!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Kinh không hộ pháp”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 32&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một niệm y kinh = thành Phật!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Không thành Phật”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 33&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một ngày ăn chay = cứu ngàn mạng!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Ăn chay không cứu”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 34&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một hạnh Bồ-tát = vạn kiếp sáng!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Hạnh không sáng”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 35&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một người nghe = 10 pháp giới nghe!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Nghe không lợi”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 36&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một người trì = 10 pháp giới trì!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Trì không lợi”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 37&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Một người hành = 10 pháp giới hành!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Hành không lợi”.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếng hống thứ 38&lt;/strong&gt;: &lt;strong&gt;“Ta không nhập diệt – Ta thường trụ!”&lt;/strong&gt; → Phá tà kiến “Phật nhập diệt”.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói sau 38 tiếng hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“38 tiếng hống này – ở trong 40 quyển này!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một tiếng hống – phá một tà kiến.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;38 tiếng hống – mạt pháp thành Tịnh độ.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nghe 1 tiếng – vạn kiếp chánh pháp trụ.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nghe 38 tiếng – 10 pháp giới sáng ngời.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đại chúng&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đồng thanh bạch&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Làm sao phát 38 tiếng hống?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Một niệm y kinh – hống.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một câu kinh nghe – hống.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một hạnh Bồ-tát – hống.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một kiếp sống vì kinh – hống.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 38 câu – sư tử hống chung&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Sư tử hống thứ nhất, Phật tánh thường trụ đây,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Sư tử hống thứ hai, Pháp thân bất diệt thay,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. Sư tử hống thứ ba, Niết-bàn an lạc đầy,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Sư tử hống thứ tư, kinh này liễu nghĩa ngay.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Sư tử hống thứ năm, ăn chay tuyệt đối đây,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Sư tử hống thứ sáu, y kinh bất y ai,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Sư tử hống thứ bảy, y nghĩa bất y lời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Sư tử hống thứ tám, y liễu nghĩa thôi.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Sư tử hống thứ chín, y trí bất y tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Sư tử hống thứ mười, Bồ-tát hộ pháp đây,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Sư tử hống thứ mười một, trì kinh cứu mẹ thay,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Sư tử hống thứ mười hai, thuyết kinh độ ác ngay.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Sư tử hống thứ mười ba, cúng kinh sinh phước đây,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Sư tử hống thứ mười bốn, bảo kinh vạn kiếp thay,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Sư tử hống thứ mười lăm, hành kinh thành Phật ngay,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Sư tử hống thứ mười sáu, ngộ kinh thấy tánh đây.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Sư tử hống thứ mười bảy, độ ác thành Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Sư tử hống thứ mười tám, phá tà lập chánh đây,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Sư tử hống thứ mười chín, xây tháp tâm Bồ-đề,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Sư tử hống thứ hai mươi, truyền đăng vạn kiếp đây.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Sư tử hống thứ hai mươi mốt, hồi hướng Tịnh độ tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Sư tử hống thứ hai mươi hai, kết tập kinh bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Sư tử hống thứ hai mươi ba, trí tuệ chặt vô minh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Sư tử hống thứ hai mươi bốn, từ bi ôm 10 giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Sư tử hống thứ hai mươi lăm, nhẫn nhục đỡ sân hận,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Sư tử hống thứ hai mươi sáu, tinh tấn đốt phiền não,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Sư tử hống thứ hai mươi bảy, thường trụ không sinh diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Sư tử hống thứ hai mươi tám, Pháp thân chính là Ta.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Sư tử hống thứ hai mươi chín, mạt pháp thành Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Sư tử hống thứ ba mươi, một người cứu thế giới,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. Sư tử hống thứ ba mươi mốt, một câu ngàn kiếp hộ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32. Sư tử hống thứ ba mươi hai, một niệm thành Phật đây.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;33. Sư tử hống thứ ba mươi ba, một ngày cứu ngàn mạng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;34. Sư tử hống thứ ba mươi bốn, một hạnh vạn kiếp sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;35. Sư tử hống thứ ba mươi lăm, một người nghe 10 giới,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;36. Sư tử hống thứ ba mươi sáu, một người trì 10 giới,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;37. Sư tử hống thứ ba mươi bảy, một người hành 10 giới,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;38. Sư tử hống thứ ba mươi tám, Ta không nhập diệt – Ta thường trụ!”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;phát tiếng hống thứ 38&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn 38 tiếng hống vang vọng khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh hống theo&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Sư Tử Hống Phá Tà!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 38 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm sư tử hống&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe 1 tiếng hống = phá 1 tà kiến&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì 1 tiếng hống = vạn kiếp chánh pháp trụ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành 1 tiếng hống = mạt pháp thành Tịnh độ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ 1 tiếng hống = thành sư tử hống&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hống 1 tiếng = cứu cả thế giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hống 38 tiếng = 10 pháp giới sáng ngời&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường hống 38 tiếng&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là sư tử tái sinh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;tiếng gầm giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống chánh pháp bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh sư tử hống!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô 38 Tiếng Hống Phá Tà!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="10125479" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/aa58dd55-f9b2-42e9-9ed4-4f594ba3080d/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">0a21fafe-d0bf-47c1-b8df-6b08817d976d</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/aa58dd55-f9b2-42e9-9ed4-4f594ba3080d</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:28:54 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/8/e888240b-1333-4c3e-828c-523e7d24ae22_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>632</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 37</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 37</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 37 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phật Thọ Ký Chung – Pháp Thân Thường Trụ) là lời phó chúc cuối cùng của chính Đức Phật:</p><p><br></p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, thọ ký cho chính mình là “Pháp Thân Thường Trụ Như Lai”, truyền 37 pháp thường trụ để khẳng định Pháp thân không sinh không diệt, Niết-bàn không phải đoạn diệt.</p><p>Phật là mẹ của Pháp thân, ngọn đèn thường trụ, người chứng 4 tướng viên mãn.</p><p>37 pháp thường trụ = 37 viên ngọc bất hoại, bảo vệ chánh pháp vạn kiếp.</p><p>Phẩm này khép lại toàn bộ 40 quyển, biến người trì kinh thành Pháp thân, khẳng định “một người thường trụ = vạn kiếp Niết-bàn”.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 37: Phẩm Phật Thọ Ký Chung – Pháp Thân Thường Trụ</p><p>Sau khi Mục Kiền Liên nhận tinh tấn, hư không lại sáng rực, đất rung 25 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:</p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Ngài sắp nhập diệt, ai là Pháp thân thường trụ?</p><p>Ai chứng 4 tướng viên mãn, giữ Niết-bàn vạn kiếp?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, **vang tiếng sư tử hống cuối cùng – một tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, muôn tà im lặng, ma vương cúi đầu, rồi nói:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Ta không sinh, không diệt!</p><p>Ta là Pháp thân thường trụ!</p><p>Ta thọ ký cho chính Ta: Ta là “Pháp Thân Thường Trụ Như Lai”.</p><p>Ta truyền 37 pháp thường trụ, chứng 4 tướng viên mãn, giữ Niết-bàn vạn kiếp.</p><p>Một người thường trụ – vạn kiếp Niết-bàn.”</p><p><br></p><p>Phật truyền 37 pháp thường trụ, mỗi pháp một viên ngọc bất hoại:</p><p><br></p><p>Nghe kinh thường trụ → Ngọc nghe pháp trụ.</p><p>Trì kinh thường trụ → Ngọc trì giới trụ.</p><p>Thuyết kinh thường trụ → Ngọc thuyết pháp trụ.</p><p>Cúng dường kinh thường trụ → Ngọc cúng dường trụ.</p><p>Bảo vệ kinh thường trụ → Ngọc hộ pháp trụ.</p><p>Hành kinh thường trụ → Ngọc hành hạnh trụ.</p><p>Ngộ kinh thường trụ → Ngọc ngộ đạo trụ.</p><p>Ăn chay thường trụ → Ngọc từ bi trụ.</p><p>Bố thí thường trụ → Ngọc bố thí trụ.</p><p>Trì giới thường trụ → Ngọc giới luật trụ.</p><p>Nhẫn nhục thường trụ → Ngọc nhẫn nhục trụ.</p><p>Tinh tấn thường trụ → Ngọc tinh tấn trụ.</p><p>Thiền định thường trụ → Ngọc thiền định trụ.</p><p>Trí tuệ thường trụ → Ngọc bát-nhã trụ.</p><p>Độ ác thường trụ → Ngọc độ ác trụ.</p><p>Phá tà thường trụ → Ngọc phá tà trụ.</p><p>Xây tháp thường trụ → Ngọc tháp miếu trụ.</p><p>Y kinh thường trụ → Ngọc y kinh trụ.</p><p>Y nghĩa thường trụ → Ngọc y nghĩa trụ.</p><p>Y liễu nghĩa thường trụ → Ngọc y liễu trụ.</p><p>Y trí thường trụ → Ngọc y trí trụ.</p><p>Hồi hướng thường trụ → Ngọc hồi hướng trụ.</p><p>Sống đạo thường trụ → Ngọc sống đạo trụ.</p><p>Chết đạo thường trụ → Ngọc chết đạo trụ.</p><p>Đại bi thường trụ → Ngọc đại bi trụ.</p><p>Niết-bàn thường trụ → Ngọc Niết-bàn trụ.</p><p>Tịnh độ thường trụ → Ngọc Tịnh độ trụ.</p><p>Phật tánh thường trụ → Ngọc Phật tánh trụ.</p><p>Pháp thân thường trụ → Ngọc Pháp thân trụ.</p><p>Chánh pháp thường trụ → Ngọc chánh pháp trụ.</p><p>Chúng sanh thường trụ → Ngọc chúng sanh trụ.</p><p>Địa ngục thường trụ → Ngọc địa ngục trụ.</p><p>Ngạ quỷ thường trụ → Ngọc ngạ quỷ trụ.</p><p>Súc sanh thường trụ → Ngọc súc sanh trụ.</p><p>Mạt pháp thường trụ → Ngọc mạt pháp trụ.</p><p>Phiền não thường trụ → Ngọc phiền não trụ.</p><p>Pháp thân thường trụ → Ngọc Pháp thân trụ.</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ chính mình, ấn ký:</p><p>“37 pháp thường trụ này – ở trong Pháp thân Ta!</p><p>Một pháp thường trụ – một kiếp Niết-bàn.</p><p>37 pháp thường trụ – mạt pháp thành chánh pháp.</p><p>Một người thường trụ 1 pháp – vạn kiếp Niết-bàn.</p><p>Một người thường trụ 37 pháp – 10 pháp giới sáng ngời.”</p><p><br></p><p>Đại chúng đồng thanh bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao chứng Pháp thân thường trụ?”</p><p>Phật dạy:</p><p>“Một niệm y kinh – thường trụ.</p><p>Một câu kinh nghe – thường trụ.</p><p>Một hạnh Bồ-tát – thường trụ.</p><p>Một kiếp sống vì kinh – thường trụ.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ 37 câu – thọ ký chung:</p><p>1. Ta là Pháp thân trụ, không sinh cũng không diệt,</p><p>2. Ta là Niết-bàn trụ, không đến cũng không đi,</p><p>3. 37 pháp thường trụ, 37 ngọc sáng tỏ,</p><p>4. Một người trụ 1 pháp, vạn kiếp Niết-bàn tâm.5. Trụ nghe kinh là ngọc, ngọc nghe pháp thường trụ,</p><p>6. Trụ trì kinh là ngọc, ngọc trì giới thường trụ,</p><p>7. Trụ thuyết kinh là ngọc, ngọc thuyết pháp muôn phương,</p><p>8. Trụ cúng kinh là ngọc, ngọc cúng dường Tam bảo.9. Trụ bảo kinh là ngọc, ngọc hộ pháp chánh pháp,</p><p>10. Trụ hành kinh là ngọc, ngọc hành hạnh Niết-bàn,</p><p>11. Trụ ngộ kinh là ngọc, ngọc ngộ đạo bát-nhã,</p><p>12. Trụ ăn chay là ngọc, ngọc từ bi chúng sanh.13. Trụ bố thí là ngọc, ngọc bố thí vô lượng,</p><p>14. Trụ trì giới là ngọc, ngọc giới luật thanh tịnh,</p><p>15. Trụ nhẫn nhục là ngọc, ngọc nhẫn nhục tự tại,</p><p>16. Trụ tinh tấn là ngọc, ngọc tinh tấn bất thoái.17. Trụ thiền định là ngọc, ngọc thiền định an lạc,</p><p>18. Trụ trí tuệ là ngọc, ngọc bát-nhã thường trụ,</p><p>19. Trụ độ ác là ngọc, ngọc độ ác Tịnh độ,</p><p>20. Trụ phá tà là ngọc, ngọc phá tà chánh kiến.21. Trụ y kinh là ngọc, ngọc y kinh bất hoại,</p><p>22. Trụ y nghĩa là ngọc, ngọc y nghĩa liễu nghĩa,</p><p>23. Trụ y liễu là ngọc, ngọc y liễu thường lạc,</p><p>24. Trụ y trí là ngọc, ngọc y trí bát-nhã.25. Trụ hồi hướng là ngọc, ngọc hồi hướng Tịnh độ,</p><p>26. Trụ sống đạo là ngọc, ngọc sống đạo Phật sống,</p><p>27. Trụ chết đạo là ngọc, ngọc chết đạo bất diệt,</p><p>28. Trụ đại bi là ngọc, ngọc đại bi 10 giới.29. Trụ chánh pháp là ngọc, ngọc chánh pháp vạn kiếp,</p><p>30. Trụ chúng sanh là ngọc, ngọc chúng sanh thành Phật,</p><p>31. Trụ địa ngục là ngọc, ngọc địa ngục mở rộng,</p><p>32. Trụ ngạ quỷ là ngọc, ngọc ngạ quỷ cam lồ,</p><p>33. Trụ súc sanh là ngọc, ngọc súc sanh tự tại,</p><p>34. Trụ mạt pháp là ngọc, ngọc mạt pháp sáng ngời,</p><p>35. Trụ phiền não là ngọc, ngọc phiền não tan hết,</p><p>36. Trụ Pháp thân là ngọc, ngọc Pháp thân thường trụ,</p><p>37. Ta là Pháp thân, Thường Trụ Như Lai Phật.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 37 viên ngọc thường trụ sáng khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đồng thanh hống:</p><p>“Nam mô Pháp Thân Thường Trụ!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 37 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm thường trụ – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Nghe 1 pháp = 1 viên ngọc sáng trong tâm.</p><p>Trì 1 pháp = 1 kiếp Niết-bàn.</p><p>Hành 1 pháp = vạn kiếp thường trụ.</p><p>Ngộ 1 pháp = thành Pháp thân Phật.</p><p>Thường trụ 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp.</p><p>Thường trụ 37 pháp = cứu cả thế giới.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường thường trụ theo 37 pháp, người ấy chính là Pháp thân tái sinh, là viên ngọc sáng giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh thường trụ!</p><p>Nam mô Pháp Thân Thường Trụ Như Lai!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 37 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phật Thọ Ký Chung – Pháp Thân Thường Trụ) là lời phó chúc cuối cùng của chính Đức Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, thọ ký cho chính mình là “Pháp Thân Thường Trụ Như Lai”, truyền 37 pháp thường trụ để khẳng định Pháp thân không sinh không diệt, Niết-bàn không phải đoạn diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật là mẹ của Pháp thân, ngọn đèn thường trụ, người chứng 4 tướng viên mãn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;37 pháp thường trụ = 37 viên ngọc bất hoại, bảo vệ chánh pháp vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này khép lại toàn bộ 40 quyển, biến người trì kinh thành Pháp thân, khẳng định “một người thường trụ = vạn kiếp Niết-bàn”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 37: Phẩm Phật Thọ Ký Chung – Pháp Thân Thường Trụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Mục Kiền Liên nhận tinh tấn, hư không lại sáng rực, đất rung 25 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài sắp nhập diệt, ai là Pháp thân thường trụ?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai chứng 4 tướng viên mãn, giữ Niết-bàn vạn kiếp?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, **vang tiếng sư tử hống cuối cùng – một tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, muôn tà im lặng, ma vương cúi đầu, rồi nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta không sinh, không diệt!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta là Pháp thân thường trụ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta thọ ký cho chính Ta: Ta là “Pháp Thân Thường Trụ Như Lai”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta truyền 37 pháp thường trụ, chứng 4 tướng viên mãn, giữ Niết-bàn vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người thường trụ – vạn kiếp Niết-bàn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật truyền 37 pháp thường trụ, mỗi pháp một viên ngọc bất hoại:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh thường trụ → Ngọc nghe pháp trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh thường trụ → Ngọc trì giới trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuyết kinh thường trụ → Ngọc thuyết pháp trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường kinh thường trụ → Ngọc cúng dường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo vệ kinh thường trụ → Ngọc hộ pháp trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành kinh thường trụ → Ngọc hành hạnh trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ kinh thường trụ → Ngọc ngộ đạo trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn chay thường trụ → Ngọc từ bi trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bố thí thường trụ → Ngọc bố thí trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì giới thường trụ → Ngọc giới luật trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn nhục thường trụ → Ngọc nhẫn nhục trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tinh tấn thường trụ → Ngọc tinh tấn trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiền định thường trụ → Ngọc thiền định trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí tuệ thường trụ → Ngọc bát-nhã trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ ác thường trụ → Ngọc độ ác trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá tà thường trụ → Ngọc phá tà trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xây tháp thường trụ → Ngọc tháp miếu trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y kinh thường trụ → Ngọc y kinh trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y nghĩa thường trụ → Ngọc y nghĩa trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y liễu nghĩa thường trụ → Ngọc y liễu trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y trí thường trụ → Ngọc y trí trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hồi hướng thường trụ → Ngọc hồi hướng trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống đạo thường trụ → Ngọc sống đạo trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chết đạo thường trụ → Ngọc chết đạo trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại bi thường trụ → Ngọc đại bi trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn thường trụ → Ngọc Niết-bàn trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tịnh độ thường trụ → Ngọc Tịnh độ trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh thường trụ → Ngọc Phật tánh trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân thường trụ → Ngọc Pháp thân trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp thường trụ → Ngọc chánh pháp trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh thường trụ → Ngọc chúng sanh trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Địa ngục thường trụ → Ngọc địa ngục trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngạ quỷ thường trụ → Ngọc ngạ quỷ trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Súc sanh thường trụ → Ngọc súc sanh trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mạt pháp thường trụ → Ngọc mạt pháp trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phiền não thường trụ → Ngọc phiền não trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân thường trụ → Ngọc Pháp thân trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ chính mình, ấn ký:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“37 pháp thường trụ này – ở trong Pháp thân Ta!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một pháp thường trụ – một kiếp Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;37 pháp thường trụ – mạt pháp thành chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người thường trụ 1 pháp – vạn kiếp Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người thường trụ 37 pháp – 10 pháp giới sáng ngời.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng đồng thanh bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao chứng Pháp thân thường trụ?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Một niệm y kinh – thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một câu kinh nghe – thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một hạnh Bồ-tát – thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một kiếp sống vì kinh – thường trụ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 37 câu – thọ ký chung:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Ta là Pháp thân trụ, không sinh cũng không diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Ta là Niết-bàn trụ, không đến cũng không đi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. 37 pháp thường trụ, 37 ngọc sáng tỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Một người trụ 1 pháp, vạn kiếp Niết-bàn tâm.5. Trụ nghe kinh là ngọc, ngọc nghe pháp thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Trụ trì kinh là ngọc, ngọc trì giới thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Trụ thuyết kinh là ngọc, ngọc thuyết pháp muôn phương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Trụ cúng kinh là ngọc, ngọc cúng dường Tam bảo.9. Trụ bảo kinh là ngọc, ngọc hộ pháp chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10. Trụ hành kinh là ngọc, ngọc hành hạnh Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11. Trụ ngộ kinh là ngọc, ngọc ngộ đạo bát-nhã,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12. Trụ ăn chay là ngọc, ngọc từ bi chúng sanh.13. Trụ bố thí là ngọc, ngọc bố thí vô lượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14. Trụ trì giới là ngọc, ngọc giới luật thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15. Trụ nhẫn nhục là ngọc, ngọc nhẫn nhục tự tại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16. Trụ tinh tấn là ngọc, ngọc tinh tấn bất thoái.17. Trụ thiền định là ngọc, ngọc thiền định an lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18. Trụ trí tuệ là ngọc, ngọc bát-nhã thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19. Trụ độ ác là ngọc, ngọc độ ác Tịnh độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20. Trụ phá tà là ngọc, ngọc phá tà chánh kiến.21. Trụ y kinh là ngọc, ngọc y kinh bất hoại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22. Trụ y nghĩa là ngọc, ngọc y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23. Trụ y liễu là ngọc, ngọc y liễu thường lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24. Trụ y trí là ngọc, ngọc y trí bát-nhã.25. Trụ hồi hướng là ngọc, ngọc hồi hướng Tịnh độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;26. Trụ sống đạo là ngọc, ngọc sống đạo Phật sống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;27. Trụ chết đạo là ngọc, ngọc chết đạo bất diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;28. Trụ đại bi là ngọc, ngọc đại bi 10 giới.29. Trụ chánh pháp là ngọc, ngọc chánh pháp vạn kiếp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;30. Trụ chúng sanh là ngọc, ngọc chúng sanh thành Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;31. Trụ địa ngục là ngọc, ngọc địa ngục mở rộng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;32. Trụ ngạ quỷ là ngọc, ngọc ngạ quỷ cam lồ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;33. Trụ súc sanh là ngọc, ngọc súc sanh tự tại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;34. Trụ mạt pháp là ngọc, ngọc mạt pháp sáng ngời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;35. Trụ phiền não là ngọc, ngọc phiền não tan hết,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;36. Trụ Pháp thân là ngọc, ngọc Pháp thân thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;37. Ta là Pháp thân, Thường Trụ Như Lai Phật.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 37 viên ngọc thường trụ sáng khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Pháp Thân Thường Trụ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 37 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm thường trụ – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe 1 pháp = 1 viên ngọc sáng trong tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì 1 pháp = 1 kiếp Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ 1 pháp = thành Pháp thân Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ 37 pháp = cứu cả thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường thường trụ theo 37 pháp, người ấy chính là Pháp thân tái sinh, là viên ngọc sáng giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh thường trụ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Pháp Thân Thường Trụ Như Lai!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8508395" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/ee7a18c2-49c1-4475-84bd-672b8e4e93ac/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">28069256-0e09-450c-9849-a1e55ae87f8b</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/ee7a18c2-49c1-4475-84bd-672b8e4e93ac</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:24:23 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/8/e4becb3a-36c5-4367-bfa7-9baa0e892548_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>531</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 36</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 36</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 36 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Mục Kiền Liên Thọ Ký – Tinh Tấn Vạn Kiếp</strong>) là <strong>lời phó chúc cuối cùng cho Mục Kiền Liên</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>thọ ký Mục Kiền Liên làm Phật hiệu “Tinh Tấn Bất Thoái”</strong>, <strong>truyền 36 pháp tinh tấn</strong> để <strong>vượt qua 36 chướng ngại, giữ lửa đạo không bao giờ tắt vạn kiếp</strong>.</li><li><strong>Mục Kiền Liên là mẹ của tinh tấn</strong>, <strong>ngọn đèn bất thoái</strong>, <strong>người vượt khổ cứu mẹ</strong>.</li><li><strong>36 pháp tinh tấn = 36 ngọn lửa, đốt cháy 36 phiền não</strong>. Phẩm này <strong>khởi đầu hạnh tinh tấn</strong>, <strong>biến người trì kinh thành Mục Kiền Liên</strong>, <strong>khẳng định “một người tinh tấn = vạn kiếp bất thoái”</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 36: Phẩm Mục Kiền Liên Thọ Ký – Tinh Tấn Vạn Kiếp</h3><p><strong>Sau khi Xá Lợi Phất nhận nhẫn nhục</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 24 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Mục Kiền Liên</strong> <strong>quỳ trước Phật</strong>, <strong>nước mắt lưng tròng</strong>, <strong>bạch</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngài nhập diệt rồi, ai vượt qua 36 chướng ngại?</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai đốt cháy 36 phiền não, giữ lửa đạo không tắt?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này Mục Kiền Liên!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là mẹ của tinh tấn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là ngọn đèn bất thoái!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Tinh Tấn Bất Thoái Như Lai”.</strong></blockquote><blockquote><strong>Con sẽ truyền 36 pháp tinh tấn, đốt cháy 36 phiền não, vượt 36 chướng ngại vạn kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người tinh tấn – vạn kiếp bất thoái.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>truyền 36 pháp tinh tấn cho Mục Kiền Liên</strong>, <strong>mỗi pháp một ngọn lửa</strong>:</p><ol><li><strong>Nghe kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa nghe pháp cháy</strong>.</li><li><strong>Trì kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa trì giới cháy</strong>.</li><li><strong>Thuyết kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa thuyết pháp cháy</strong>.</li><li><strong>Cúng dường kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa cúng dường cháy</strong>.</li><li><strong>Bảo vệ kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa hộ pháp cháy</strong>.</li><li><strong>Hành kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa hành hạnh cháy</strong>.</li><li><strong>Ngộ kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa ngộ đạo cháy</strong>.</li><li><strong>Ăn chay tinh tấn</strong> → <strong>Lửa từ bi cháy</strong>.</li><li><strong>Bố thí tinh tấn</strong> → <strong>Lửa bố thí cháy</strong>.</li><li><strong>Trì giới tinh tấn</strong> → <strong>Lửa giới luật cháy</strong>.</li><li><strong>Nhẫn nhục tinh tấn</strong> → <strong>Lửa nhẫn nhục cháy</strong>.</li><li><strong>Tinh tấn tinh tấn</strong> → <strong>Lửa tinh tấn cháy</strong>.</li><li><strong>Thiền định tinh tấn</strong> → <strong>Lửa thiền định cháy</strong>.</li><li><strong>Trí tuệ tinh tấn</strong> → <strong>Lửa bát-nhã cháy</strong>.</li><li><strong>Độ ác tinh tấn</strong> → <strong>Lửa độ ác cháy</strong>.</li><li><strong>Phá tà tinh tấn</strong> → <strong>Lửa phá tà cháy</strong>.</li><li><strong>Xây tháp tinh tấn</strong> → <strong>Lửa tháp miếu cháy</strong>.</li><li><strong>Y kinh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa y kinh cháy</strong>.</li><li><strong>Y nghĩa tinh tấn</strong> → <strong>Lửa y nghĩa cháy</strong>.</li><li><strong>Y liễu nghĩa tinh tấn</strong> → <strong>Lửa y liễu cháy</strong>.</li><li><strong>Y trí tinh tấn</strong> → <strong>Lửa y trí cháy</strong>.</li><li><strong>Hồi hướng tinh tấn</strong> → <strong>Lửa hồi hướng cháy</strong>.</li><li><strong>Sống đạo tinh tấn</strong> → <strong>Lửa sống đạo cháy</strong>.</li><li><strong>Chết đạo tinh tấn</strong> → <strong>Lửa chết đạo cháy</strong>.</li><li><strong>Đại bi tinh tấn</strong> → <strong>Lửa đại bi cháy</strong>.</li><li><strong>Niết-bàn tinh tấn</strong> → <strong>Lửa Niết-bàn cháy</strong>.</li><li><strong>Tịnh độ tinh tấn</strong> → <strong>Lửa Tịnh độ cháy</strong>.</li><li><strong>Phật tánh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa Phật tánh cháy</strong>.</li><li><strong>Pháp thân tinh tấn</strong> → <strong>Lửa Pháp thân cháy</strong>.</li><li><strong>Chánh pháp tinh tấn</strong> → <strong>Lửa chánh pháp cháy</strong>.</li><li><strong>Chúng sanh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa chúng sanh cháy</strong>.</li><li><strong>Địa ngục tinh tấn</strong> → <strong>Lửa địa ngục cháy</strong>.</li><li><strong>Ngạ quỷ tinh tấn</strong> → <strong>Lửa ngạ quỷ cháy</strong>.</li><li><strong>Súc sanh tinh tấn</strong> → <strong>Lửa súc sanh cháy</strong>.</li><li><strong>Mạt pháp tinh tấn</strong> → <strong>Lửa mạt pháp cháy</strong>.</li><li><strong>Phiền não tinh tấn</strong> → <strong>Lửa phiền não cháy</strong>.</li></ol><p>Phật <strong>đưa tay xoa đầu Mục Kiền Liên</strong>, <strong>ấn ký</strong>:</p><blockquote><strong>“36 pháp tinh tấn này – con phải dùng ngọn lửa bất thoái mà đốt.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một pháp tinh tấn – một phiền não tan.</strong></blockquote><blockquote><strong>36 pháp tinh tấn – mạt pháp thành chánh pháp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người tinh tấn 1 pháp – vạn kiếp bất thoái.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người tinh tấn 36 pháp – 10 pháp giới sáng ngời.</strong>”</blockquote><p><strong>Mục Kiền Liên</strong> <strong>đảnh lễ</strong>, <strong>ánh sáng từ thân bắn ra</strong>, <strong>quỳ lạy</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù thân này kiệt sức, con vẫn tinh tấn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù phiền não như núi, con vẫn đốt cháy!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù mạt pháp như đêm, con vẫn giữ lửa!</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 36 câu – thọ ký Mục Kiền Liên</strong>:</p><blockquote><em>1. Mục Kiền mẹ tinh tấn, vượt khổ cứu muôn loài,</em></blockquote><blockquote><em>2. Mục Kiền đèn bất thoái, giữ lửa đạo sáng ngời,</em></blockquote><blockquote><em>3. 36 pháp tinh tấn, 36 lửa cháy tỏ,</em></blockquote><blockquote><em>4. Một người tấn 1 pháp, vạn kiếp bất thoái tâm.</em></blockquote><blockquote><em>5. Tấn nghe kinh là lửa, lửa nghe pháp đốt si,</em></blockquote><blockquote><em>6. Tấn trì kinh là lửa, lửa trì giới đốt ác,</em></blockquote><blockquote><em>7. Tấn thuyết kinh là lửa, lửa thuyết pháp muôn phương,</em></blockquote><blockquote><em>8. Tấn cúng kinh là lửa, lửa cúng dường Tam bảo.</em></blockquote><blockquote><em>9. Tấn bảo kinh là lửa, lửa hộ pháp chánh pháp,</em></blockquote><blockquote><em>10. Tấn hành kinh là lửa, lửa hành hạnh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>11. Tấn ngộ kinh là lửa, lửa ngộ đạo bát-nhã,</em></blockquote><blockquote><em>12. Tấn ăn chay là lửa, lửa từ bi chúng sanh.</em></blockquote><blockquote><em>13. Tấn bố thí là lửa, lửa bố thí vô lượng,</em></blockquote><blockquote><em>14. Tấn trì giới là lửa, lửa giới luật thanh tịnh,</em></blockquote><blockquote><em>15. Tấn nhẫn nhục là lửa, lửa nhẫn nhục tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>16. Tấn tinh tấn là lửa, lửa tinh tấn bất thoái.</em></blockquote><blockquote><em>17. Tấn thiền định là lửa, lửa thiền định an lạc,</em></blockquote><blockquote><em>18. Tấn trí tuệ là lửa, lửa bát-nhã thường trụ,</em></blockquote><blockquote><em>19. Tấn độ ác là lửa, lửa độ ác Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>20. Tấn phá tà là lửa, lửa phá tà chánh kiến.</em></blockquote><blockquote><em>21. Tấn y kinh là lửa, lửa y kinh bất hoại,</em></blockquote><blockquote><em>22. Tấn y nghĩa là lửa, lửa y nghĩa liễu nghĩa,</em></blockquote><blockquote><em>23. Tấn y liễu là lửa, lửa y liễu thường lạc,</em></blockquote><blockquote><em>24. Tấn y trí là lửa, lửa y trí bát-nhã.</em></blockquote><blockquote><em>25. Tấn hồi hướng là lửa, lửa hồi hướng Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>26. Tấn sống đạo là lửa, lửa sống đạo Phật sống,</em></blockquote><blockquote><em>27. Tấn chết đạo là lửa, lửa chết đạo bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>28. Tấn đại bi là lửa, lửa đại bi 10 giới.</em></blockquote><blockquote><em>29. Tấn chánh pháp là lửa, lửa chánh pháp vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>30. Tấn chúng sanh là lửa, lửa chúng sanh thành Phật,</em></blockquote><blockquote><em>31. Tấn địa ngục là lửa, lửa địa ngục mở rộng,</em></blockquote><blockquote><em>32. Tấn ngạ quỷ là lửa, lửa ngạ quỷ cam lồ,</em></blockquote><blockquote><em>33. Tấn súc sanh là lửa, lửa súc sanh tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>34. Tấn mạt pháp là lửa, lửa mạt pháp sáng ngời,</em></blockquote><blockquote><em>35. Tấn phiền não là lửa, lửa phiền não tan hết,</em></blockquote><blockquote><em>36. Mục Kiền tinh tấn, Tinh Tấn Bất Thoái Phật.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn 36 ngọn lửa tinh tấn cháy sáng khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Mục Kiền Liên</strong> <strong>đứng dậy</strong>, <strong>cầm ngọn lửa đầu tiên</strong>, <strong>đốt cháy phiền não</strong>, <strong>vượt 36 chướng ngại</strong>, <strong>cứu mẹ khỏi địa ngục</strong>, <strong>đời đời không dứt</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Mục Kiền Tinh Tấn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 36 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm tinh tấn</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe 1 pháp = 1 ngọn lửa sáng trong tâm</strong>.</li><li><strong>Trì 1 pháp = 1 phiền não tan</strong>.</li><li><strong>Hành 1 pháp = vạn kiếp bất thoái</strong>.</li><li><strong>Ngộ 1 pháp = thành Mục Kiền Liên tinh tấn</strong>.</li><li><strong>Tinh tấn 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp</strong>.</li><li><strong>Tinh tấn 36 pháp = cứu cả thế giới</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường tinh tấn theo 36 pháp</strong>, người ấy <strong>chính là Mục Kiền Liên tái sinh</strong>, là <strong>ngọn lửa sáng giữa mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống bất thoái bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh tinh tấn!</strong></p><p><strong>Nam mô Mục Kiền Tinh Tấn Bất Thoái!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 36 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Mục Kiền Liên Thọ Ký – Tinh Tấn Vạn Kiếp&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;lời phó chúc cuối cùng cho Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;thọ ký Mục Kiền Liên làm Phật hiệu “Tinh Tấn Bất Thoái”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;truyền 36 pháp tinh tấn&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;vượt qua 36 chướng ngại, giữ lửa đạo không bao giờ tắt vạn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mục Kiền Liên là mẹ của tinh tấn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ngọn đèn bất thoái&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;người vượt khổ cứu mẹ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;36 pháp tinh tấn = 36 ngọn lửa, đốt cháy 36 phiền não&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;khởi đầu hạnh tinh tấn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến người trì kinh thành Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một người tinh tấn = vạn kiếp bất thoái”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 36: Phẩm Mục Kiền Liên Thọ Ký – Tinh Tấn Vạn Kiếp&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi Xá Lợi Phất nhận nhẫn nhục&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 24 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;quỳ trước Phật&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nước mắt lưng tròng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;bạch&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngài nhập diệt rồi, ai vượt qua 36 chướng ngại?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai đốt cháy 36 phiền não, giữ lửa đạo không tắt?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này Mục Kiền Liên!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là mẹ của tinh tấn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là ngọn đèn bất thoái!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Tinh Tấn Bất Thoái Như Lai”.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con sẽ truyền 36 pháp tinh tấn, đốt cháy 36 phiền não, vượt 36 chướng ngại vạn kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người tinh tấn – vạn kiếp bất thoái.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;truyền 36 pháp tinh tấn cho Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mỗi pháp một ngọn lửa&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa nghe pháp cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa trì giới cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thuyết kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa thuyết pháp cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Cúng dường kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa cúng dường cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bảo vệ kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa hộ pháp cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa hành hạnh cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa ngộ đạo cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa từ bi cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bố thí tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa bố thí cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì giới tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa giới luật cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhẫn nhục tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa nhẫn nhục cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tinh tấn tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa tinh tấn cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thiền định tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa thiền định cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trí tuệ tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa bát-nhã cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Độ ác tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa độ ác cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phá tà tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa phá tà cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Xây tháp tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa tháp miếu cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y kinh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa y kinh cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y nghĩa tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa y nghĩa cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y liễu nghĩa tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa y liễu cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y trí tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa y trí cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hồi hướng tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa hồi hướng cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sống đạo tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa sống đạo cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chết đạo tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa chết đạo cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đại bi tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa đại bi cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Niết-bàn tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa Niết-bàn cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tịnh độ tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa Tịnh độ cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa Phật tánh cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Pháp thân tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa Pháp thân cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chánh pháp tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa chánh pháp cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chúng sanh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa chúng sanh cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Địa ngục tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa địa ngục cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngạ quỷ tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa ngạ quỷ cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Súc sanh tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa súc sanh cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mạt pháp tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa mạt pháp cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phiền não tinh tấn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Lửa phiền não cháy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay xoa đầu Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ấn ký&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“36 pháp tinh tấn này – con phải dùng ngọn lửa bất thoái mà đốt.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một pháp tinh tấn – một phiền não tan.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;36 pháp tinh tấn – mạt pháp thành chánh pháp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người tinh tấn 1 pháp – vạn kiếp bất thoái.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người tinh tấn 36 pháp – 10 pháp giới sáng ngời.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đảnh lễ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ thân bắn ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;quỳ lạy&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù thân này kiệt sức, con vẫn tinh tấn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù phiền não như núi, con vẫn đốt cháy!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù mạt pháp như đêm, con vẫn giữ lửa!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 36 câu – thọ ký Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Mục Kiền mẹ tinh tấn, vượt khổ cứu muôn loài,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Mục Kiền đèn bất thoái, giữ lửa đạo sáng ngời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. 36 pháp tinh tấn, 36 lửa cháy tỏ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Một người tấn 1 pháp, vạn kiếp bất thoái tâm.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Tấn nghe kinh là lửa, lửa nghe pháp đốt si,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Tấn trì kinh là lửa, lửa trì giới đốt ác,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Tấn thuyết kinh là lửa, lửa thuyết pháp muôn phương,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Tấn cúng kinh là lửa, lửa cúng dường Tam bảo.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Tấn bảo kinh là lửa, lửa hộ pháp chánh pháp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Tấn hành kinh là lửa, lửa hành hạnh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Tấn ngộ kinh là lửa, lửa ngộ đạo bát-nhã,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Tấn ăn chay là lửa, lửa từ bi chúng sanh.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Tấn bố thí là lửa, lửa bố thí vô lượng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Tấn trì giới là lửa, lửa giới luật thanh tịnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Tấn nhẫn nhục là lửa, lửa nhẫn nhục tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Tấn tinh tấn là lửa, lửa tinh tấn bất thoái.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Tấn thiền định là lửa, lửa thiền định an lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Tấn trí tuệ là lửa, lửa bát-nhã thường trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Tấn độ ác là lửa, lửa độ ác Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Tấn phá tà là lửa, lửa phá tà chánh kiến.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Tấn y kinh là lửa, lửa y kinh bất hoại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Tấn y nghĩa là lửa, lửa y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Tấn y liễu là lửa, lửa y liễu thường lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Tấn y trí là lửa, lửa y trí bát-nhã.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Tấn hồi hướng là lửa, lửa hồi hướng Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Tấn sống đạo là lửa, lửa sống đạo Phật sống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Tấn chết đạo là lửa, lửa chết đạo bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Tấn đại bi là lửa, lửa đại bi 10 giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Tấn chánh pháp là lửa, lửa chánh pháp vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Tấn chúng sanh là lửa, lửa chúng sanh thành Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. Tấn địa ngục là lửa, lửa địa ngục mở rộng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32. Tấn ngạ quỷ là lửa, lửa ngạ quỷ cam lồ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;33. Tấn súc sanh là lửa, lửa súc sanh tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;34. Tấn mạt pháp là lửa, lửa mạt pháp sáng ngời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;35. Tấn phiền não là lửa, lửa phiền não tan hết,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;36. Mục Kiền tinh tấn, Tinh Tấn Bất Thoái Phật.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn 36 ngọn lửa tinh tấn cháy sáng khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Mục Kiền Liên&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đứng dậy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cầm ngọn lửa đầu tiên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đốt cháy phiền não&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vượt 36 chướng ngại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cứu mẹ khỏi địa ngục&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đời đời không dứt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Mục Kiền Tinh Tấn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 36 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm tinh tấn&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe 1 pháp = 1 ngọn lửa sáng trong tâm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì 1 pháp = 1 phiền não tan&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp bất thoái&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ 1 pháp = thành Mục Kiền Liên tinh tấn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tinh tấn 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tinh tấn 36 pháp = cứu cả thế giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường tinh tấn theo 36 pháp&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Mục Kiền Liên tái sinh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ngọn lửa sáng giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống bất thoái bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh tinh tấn!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Mục Kiền Tinh Tấn Bất Thoái!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8745795" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/9f016596-83b9-4f3b-9708-a4c9c22fc2a8/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">bcd9e8f0-2664-4dce-b765-4334594cc0ad</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/9f016596-83b9-4f3b-9708-a4c9c22fc2a8</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:22:00 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>546</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 35</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 35</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 35 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Xá Lợi Phất Thọ Ký – Nhẫn Nhục Vạn Kiếp</strong>) là <strong>lời phó chúc cuối cùng cho Xá Lợi Phất</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>thọ ký Xá Lợi Phất làm Phật hiệu “Nhẫn Nhục Tự Tại”</strong>, <strong>truyền 35 pháp nhẫn nhục</strong> để <strong>chịu nhục, chịu khổ, chịu oan, biến sân hận thành từ bi vạn kiếp</strong>.</li><li><strong>Xá Lợi Phất là mẹ của nhẫn nhục</strong>, <strong>ngọn đèn tự tại</strong>, <strong>người chịu nhục cứu độ</strong>.</li><li><strong>35 pháp nhẫn nhục = 35 lá chắn, đỡ 35 mũi tên sân hận</strong>. Phẩm này <strong>khởi đầu hạnh nhẫn nhục</strong>, <strong>biến người trì kinh thành Xá Lợi Phất</strong>, <strong>khẳng định “một người nhẫn nhục = vạn kiếp tự tại”</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 35: Phẩm Xá Lợi Phất Thọ Ký – Nhẫn Nhục Vạn Kiếp</h3><p><strong>Sau khi Di Lặc nhận từ bi</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 23 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Xá Lợi Phất</strong> <strong>quỳ trước Phật</strong>, <strong>nước mắt lưng tròng</strong>, <strong>bạch</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngài nhập diệt rồi, ai chịu nhục, chịu khổ, chịu oan?</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai biến mũi tên sân hận thành hoa sen từ bi?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này Xá Lợi Phất!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là mẹ của nhẫn nhục!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là ngọn đèn tự tại!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Nhẫn Nhục Tự Tại Như Lai”.</strong></blockquote><blockquote><strong>Con sẽ truyền 35 pháp nhẫn nhục, đỡ 35 mũi tên sân hận, biến khổ đau thành tự tại vạn kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nhẫn nhục – vạn kiếp tự tại.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>truyền 35 pháp nhẫn nhục cho Xá Lợi Phất</strong>, <strong>mỗi pháp một lá chắn</strong>:</p><ol><li><strong>Nghe kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn nghe pháp đỡ</strong>.</li><li><strong>Trì kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn trì giới đỡ</strong>.</li><li><strong>Thuyết kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn thuyết pháp đỡ</strong>.</li><li><strong>Cúng dường kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn cúng dường đỡ</strong>.</li><li><strong>Bảo vệ kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn hộ pháp đỡ</strong>.</li><li><strong>Hành kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn hành hạnh đỡ</strong>.</li><li><strong>Ngộ kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn ngộ đạo đỡ</strong>.</li><li><strong>Ăn chay nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn từ bi đỡ</strong>.</li><li><strong>Bố thí nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn bố thí đỡ</strong>.</li><li><strong>Trì giới nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn giới luật đỡ</strong>.</li><li><strong>Nhẫn nhục nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn nhẫn nhục đỡ</strong>.</li><li><strong>Tinh tấn nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn tinh tấn đỡ</strong>.</li><li><strong>Thiền định nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn thiền định đỡ</strong>.</li><li><strong>Trí tuệ nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn bát-nhã đỡ</strong>.</li><li><strong>Độ ác nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn độ ác đỡ</strong>.</li><li><strong>Phá tà nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn phá tà đỡ</strong>.</li><li><strong>Xây tháp nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn tháp miếu đỡ</strong>.</li><li><strong>Y kinh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn y kinh đỡ</strong>.</li><li><strong>Y nghĩa nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn y nghĩa đỡ</strong>.</li><li><strong>Y liễu nghĩa nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn y liễu đỡ</strong>.</li><li><strong>Y trí nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn y trí đỡ</strong>.</li><li><strong>Hồi hướng nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn hồi hướng đỡ</strong>.</li><li><strong>Sống đạo nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn sống đạo đỡ</strong>.</li><li><strong>Chết đạo nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn chết đạo đỡ</strong>.</li><li><strong>Đại bi nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn đại bi đỡ</strong>.</li><li><strong>Niết-bàn nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn Niết-bàn đỡ</strong>.</li><li><strong>Tịnh độ nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn Tịnh độ đỡ</strong>.</li><li><strong>Phật tánh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn Phật tánh đỡ</strong>.</li><li><strong>Pháp thân nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn Pháp thân đỡ</strong>.</li><li><strong>Chánh pháp nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn chánh pháp đỡ</strong>.</li><li><strong>Chúng sanh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn chúng sanh đỡ</strong>.</li><li><strong>Địa ngục nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn địa ngục đỡ</strong>.</li><li><strong>Ngạ quỷ nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn ngạ quỷ đỡ</strong>.</li><li><strong>Súc sanh nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn súc sanh đỡ</strong>.</li><li><strong>Mạt pháp nhẫn nhục</strong> → <strong>Chắn mạt pháp đỡ</strong>.</li></ol><p>Phật <strong>đưa tay xoa đầu Xá Lợi Phất</strong>, <strong>ấn ký</strong>:</p><blockquote><strong>“35 pháp nhẫn nhục này – con phải dùng lá chắn tự tại mà đỡ.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một pháp nhẫn nhục – một mũi tên sân hận tan.</strong></blockquote><blockquote><strong>35 pháp nhẫn nhục – mạt pháp thành Tịnh độ.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nhẫn 1 pháp – vạn kiếp tự tại.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người nhẫn 35 pháp – 10 pháp giới an lạc.</strong>”</blockquote><p><strong>Xá Lợi Phất</strong> <strong>đảnh lễ</strong>, <strong>ánh sáng từ thân bắn ra</strong>, <strong>quỳ lạy</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù bị đánh, bị chửi, bị giết – con vẫn nhẫn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù sân hận như lửa, con vẫn tự tại!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù mạt pháp như dao, con vẫn ôm!</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 35 câu – thọ ký Xá Lợi Phất</strong>:</p><blockquote><em>1. Xá Lợi mẹ nhẫn nhục, chịu nhục cứu muôn loài,</em></blockquote><blockquote><em>2. Xá Lợi đèn tự tại, biến khổ thành an lạc,</em></blockquote><blockquote><em>3. 35 pháp nhẫn nhục, 35 chắn sáng tỏ,</em></blockquote><blockquote><em>4. Một người nhẫn 1 pháp, vạn kiếp tự tại tâm.</em></blockquote><blockquote><em>5. Nhẫn nghe kinh là chắn, chắn nghe pháp đỡ nhục,</em></blockquote><blockquote><em>6. Nhẫn trì kinh là chắn, chắn trì giới đỡ khổ,</em></blockquote><blockquote><em>7. Nhẫn thuyết kinh là chắn, chắn thuyết pháp muôn phương,</em></blockquote><blockquote><em>8. Nhẫn cúng kinh là chắn, chắn cúng dường Tam bảo.</em></blockquote><blockquote><em>9. Nhẫn bảo kinh là chắn, chắn hộ pháp chánh pháp,</em></blockquote><blockquote><em>10. Nhẫn hành kinh là chắn, chắn hành hạnh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>11. Nhẫn ngộ kinh là chắn, chắn ngộ đạo bát-nhã,</em></blockquote><blockquote><em>12. Nhẫn ăn chay là chắn, chắn từ bi chúng sanh.</em></blockquote><blockquote><em>13. Nhẫn bố thí là chắn, chắn bố thí vô lượng,</em></blockquote><blockquote><em>14. Nhẫn trì giới là chắn, chắn giới luật thanh tịnh,</em></blockquote><blockquote><em>15. Nhẫn nhẫn nhục là chắn, chắn nhẫn nhục tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>16. Nhẫn tinh tấn là chắn, chắn tinh tấn bất thoái.</em></blockquote><blockquote><em>17. Nhẫn thiền định là chắn, chắn thiền định an lạc,</em></blockquote><blockquote><em>18. Nhẫn trí tuệ là chắn, chắn bát-nhã thường trụ,</em></blockquote><blockquote><em>19. Nhẫn độ ác là chắn, chắn độ ác Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>20. Nhẫn phá tà là chắn, chắn phá tà chánh kiến.</em></blockquote><blockquote><em>21. Nhẫn y kinh là chắn, chắn y kinh bất hoại,</em></blockquote><blockquote><em>22. Nhẫn y nghĩa là chắn, chắn y nghĩa liễu nghĩa,</em></blockquote><blockquote><em>23. Nhẫn y liễu là chắn, chắn y liễu thường lạc,</em></blockquote><blockquote><em>24. Nhẫn y trí là chắn, chắn y trí bát-nhã.</em></blockquote><blockquote><em>25. Nhẫn hồi hướng là chắn, chắn hồi hướng Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>26. Nhẫn sống đạo là chắn, chắn sống đạo Phật sống,</em></blockquote><blockquote><em>27. Nhẫn chết đạo là chắn, chắn chết đạo bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>28. Nhẫn đại bi là chắn, chắn đại bi 10 giới.</em></blockquote><blockquote><em>29. Nhẫn chánh pháp là chắn, chắn chánh pháp vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>30. Nhẫn chúng sanh là chắn, chắn chúng sanh thành Phật,</em></blockquote><blockquote><em>31. Nhẫn địa ngục là chắn, chắn địa ngục mở rộng,</em></blockquote><blockquote><em>32. Nhẫn ngạ quỷ là chắn, chắn ngạ quỷ cam lồ,</em></blockquote><blockquote><em>33. Nhẫn súc sanh là chắn, chắn súc sanh tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>34. Nhẫn mạt pháp là chắn, chắn mạt pháp sáng ngời,</em></blockquote><blockquote><em>35. Xá Lợi nhẫn nhục, Nhẫn Nhục Tự Tại Phật.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn 35 lá chắn nhẫn nhục sáng khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Xá Lợi Phất</strong> <strong>đứng dậy</strong>, <strong>cầm lá chắn đầu tiên</strong>, <strong>chịu nhục, chịu khổ</strong>, <strong>đỡ 500 mũi tên sân hận</strong>, <strong>đời đời không dứt</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Xá Lợi Nhẫn Nhục!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 35 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm nhẫn nhục</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe 1 pháp = 1 lá chắn sáng trong tâm</strong>.</li><li><strong>Trì 1 pháp = 1 mũi tên sân hận tan</strong>.</li><li><strong>Hành 1 pháp = vạn kiếp tự tại</strong>.</li><li><strong>Ngộ 1 pháp = thành Xá Lợi Phất nhẫn nhục</strong>.</li><li><strong>Nhẫn 1 pháp = biến khổ đau thành Tịnh độ</strong>.</li><li><strong>Nhẫn 35 pháp = cứu cả thế giới</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường nhẫn nhục theo 35 pháp</strong>, người ấy <strong>chính là Xá Lợi Phất tái sinh</strong>, là <strong>lá chắn sáng giữa mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống tự tại bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh nhẫn nhục!</strong></p><p><strong>Nam mô Xá Lợi Nhẫn Nhục Tự Tại!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 35 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Xá Lợi Phất Thọ Ký – Nhẫn Nhục Vạn Kiếp&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;lời phó chúc cuối cùng cho Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;thọ ký Xá Lợi Phất làm Phật hiệu “Nhẫn Nhục Tự Tại”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;truyền 35 pháp nhẫn nhục&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;chịu nhục, chịu khổ, chịu oan, biến sân hận thành từ bi vạn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Xá Lợi Phất là mẹ của nhẫn nhục&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ngọn đèn tự tại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;người chịu nhục cứu độ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;35 pháp nhẫn nhục = 35 lá chắn, đỡ 35 mũi tên sân hận&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;khởi đầu hạnh nhẫn nhục&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến người trì kinh thành Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một người nhẫn nhục = vạn kiếp tự tại”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 35: Phẩm Xá Lợi Phất Thọ Ký – Nhẫn Nhục Vạn Kiếp&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi Di Lặc nhận từ bi&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 23 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;quỳ trước Phật&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nước mắt lưng tròng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;bạch&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngài nhập diệt rồi, ai chịu nhục, chịu khổ, chịu oan?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai biến mũi tên sân hận thành hoa sen từ bi?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này Xá Lợi Phất!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là mẹ của nhẫn nhục!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là ngọn đèn tự tại!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Nhẫn Nhục Tự Tại Như Lai”.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con sẽ truyền 35 pháp nhẫn nhục, đỡ 35 mũi tên sân hận, biến khổ đau thành tự tại vạn kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nhẫn nhục – vạn kiếp tự tại.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;truyền 35 pháp nhẫn nhục cho Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mỗi pháp một lá chắn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn nghe pháp đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn trì giới đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thuyết kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn thuyết pháp đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Cúng dường kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn cúng dường đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bảo vệ kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn hộ pháp đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn hành hạnh đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn ngộ đạo đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn từ bi đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bố thí nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn bố thí đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì giới nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn giới luật đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhẫn nhục nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn nhẫn nhục đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tinh tấn nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn tinh tấn đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thiền định nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn thiền định đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trí tuệ nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn bát-nhã đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Độ ác nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn độ ác đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phá tà nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn phá tà đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Xây tháp nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn tháp miếu đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y kinh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn y kinh đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y nghĩa nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn y nghĩa đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y liễu nghĩa nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn y liễu đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y trí nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn y trí đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hồi hướng nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn hồi hướng đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sống đạo nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn sống đạo đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chết đạo nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn chết đạo đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đại bi nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn đại bi đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Niết-bàn nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn Niết-bàn đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tịnh độ nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn Tịnh độ đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn Phật tánh đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Pháp thân nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn Pháp thân đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chánh pháp nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn chánh pháp đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chúng sanh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn chúng sanh đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Địa ngục nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn địa ngục đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngạ quỷ nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn ngạ quỷ đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Súc sanh nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn súc sanh đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mạt pháp nhẫn nhục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Chắn mạt pháp đỡ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay xoa đầu Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ấn ký&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“35 pháp nhẫn nhục này – con phải dùng lá chắn tự tại mà đỡ.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một pháp nhẫn nhục – một mũi tên sân hận tan.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;35 pháp nhẫn nhục – mạt pháp thành Tịnh độ.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nhẫn 1 pháp – vạn kiếp tự tại.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người nhẫn 35 pháp – 10 pháp giới an lạc.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đảnh lễ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ thân bắn ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;quỳ lạy&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù bị đánh, bị chửi, bị giết – con vẫn nhẫn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù sân hận như lửa, con vẫn tự tại!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù mạt pháp như dao, con vẫn ôm!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 35 câu – thọ ký Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Xá Lợi mẹ nhẫn nhục, chịu nhục cứu muôn loài,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Xá Lợi đèn tự tại, biến khổ thành an lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. 35 pháp nhẫn nhục, 35 chắn sáng tỏ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Một người nhẫn 1 pháp, vạn kiếp tự tại tâm.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Nhẫn nghe kinh là chắn, chắn nghe pháp đỡ nhục,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Nhẫn trì kinh là chắn, chắn trì giới đỡ khổ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Nhẫn thuyết kinh là chắn, chắn thuyết pháp muôn phương,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Nhẫn cúng kinh là chắn, chắn cúng dường Tam bảo.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Nhẫn bảo kinh là chắn, chắn hộ pháp chánh pháp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Nhẫn hành kinh là chắn, chắn hành hạnh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Nhẫn ngộ kinh là chắn, chắn ngộ đạo bát-nhã,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Nhẫn ăn chay là chắn, chắn từ bi chúng sanh.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Nhẫn bố thí là chắn, chắn bố thí vô lượng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Nhẫn trì giới là chắn, chắn giới luật thanh tịnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Nhẫn nhẫn nhục là chắn, chắn nhẫn nhục tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Nhẫn tinh tấn là chắn, chắn tinh tấn bất thoái.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Nhẫn thiền định là chắn, chắn thiền định an lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Nhẫn trí tuệ là chắn, chắn bát-nhã thường trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Nhẫn độ ác là chắn, chắn độ ác Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Nhẫn phá tà là chắn, chắn phá tà chánh kiến.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Nhẫn y kinh là chắn, chắn y kinh bất hoại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Nhẫn y nghĩa là chắn, chắn y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Nhẫn y liễu là chắn, chắn y liễu thường lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Nhẫn y trí là chắn, chắn y trí bát-nhã.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Nhẫn hồi hướng là chắn, chắn hồi hướng Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Nhẫn sống đạo là chắn, chắn sống đạo Phật sống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Nhẫn chết đạo là chắn, chắn chết đạo bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Nhẫn đại bi là chắn, chắn đại bi 10 giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Nhẫn chánh pháp là chắn, chắn chánh pháp vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Nhẫn chúng sanh là chắn, chắn chúng sanh thành Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. Nhẫn địa ngục là chắn, chắn địa ngục mở rộng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32. Nhẫn ngạ quỷ là chắn, chắn ngạ quỷ cam lồ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;33. Nhẫn súc sanh là chắn, chắn súc sanh tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;34. Nhẫn mạt pháp là chắn, chắn mạt pháp sáng ngời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;35. Xá Lợi nhẫn nhục, Nhẫn Nhục Tự Tại Phật.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn 35 lá chắn nhẫn nhục sáng khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Xá Lợi Phất&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đứng dậy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cầm lá chắn đầu tiên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chịu nhục, chịu khổ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đỡ 500 mũi tên sân hận&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đời đời không dứt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Xá Lợi Nhẫn Nhục!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 35 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm nhẫn nhục&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe 1 pháp = 1 lá chắn sáng trong tâm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì 1 pháp = 1 mũi tên sân hận tan&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp tự tại&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ 1 pháp = thành Xá Lợi Phất nhẫn nhục&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhẫn 1 pháp = biến khổ đau thành Tịnh độ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhẫn 35 pháp = cứu cả thế giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường nhẫn nhục theo 35 pháp&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Xá Lợi Phất tái sinh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;lá chắn sáng giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống tự tại bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh nhẫn nhục!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Xá Lợi Nhẫn Nhục Tự Tại!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8564819" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/a5752e10-b076-4990-9555-bb3c315ab5e5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">4cbcae3f-0d4d-4f37-81ec-ded2aea720da</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/a5752e10-b076-4990-9555-bb3c315ab5e5</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:16:20 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/8/0017613b-83f6-4042-94be-a1ec35ca45d1_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>535</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 34</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 34</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><br></p><p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 34 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Di Lặc Thọ Ký – Từ Bi Vạn Kiếp) là lời phó chúc cuối cùng cho Di Lặc:</p><p><br></p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, thọ ký Di Lặc làm Phật hiệu “Từ Thị Đại Bi”, truyền 34 pháp từ bi để ôm ấp chúng sanh, biến khổ đau thành an lạc vạn kiếp.</p><p>Di Lặc là mẹ của từ bi, ngọn đèn đại bi, người cứu khổ muôn loài.</p><p>34 pháp từ bi = 34 vòng tay, ôm cả 10 pháp giới.</p><p>Phẩm này khởi đầu hạnh đại bi, biến người trì kinh thành Di Lặc, khẳng định “một người từ bi = vạn kiếp an lạc”.</p><p>Toàn Văn Quyển 34: Phẩm Di Lặc Thọ Ký – Từ Bi Vạn Kiếp</p><p>Sau khi Văn Thù nhận trí tuệ, hư không lại sáng rực, đất rung 22 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p><br></p><p>Di Lặc quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng, bạch:</p><p><br></p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Ngài nhập diệt rồi, ai ôm ấp chúng sanh khổ?</p><p>Ai biến địa ngục thành hoa sen, biến nước mắt thành cam lồ?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><p><br></p><p>“Này Di Lặc!</p><p>Con là mẹ của từ bi!</p><p>Con là ngọn đèn đại bi!</p><p>Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Từ Thị Đại Bi Như Lai”.</p><p>Con sẽ truyền 34 pháp từ bi, ôm ấp 10 pháp giới, biến khổ đau thành an lạc vạn kiếp.</p><p>Một người từ bi – vạn kiếp an lạc.”</p><p><br></p><p>Phật truyền 34 pháp từ bi cho Di Lặc, mỗi pháp một vòng tay:</p><p><br></p><p>Nghe kinh từ bi → Tay nghe pháp ôm.</p><p>Trì kinh từ bi → Tay trì giới ôm.</p><p>Thuyết kinh từ bi → Tay thuyết pháp ôm.</p><p>Cúng dường kinh từ bi → Tay cúng dường ôm.</p><p>Bảo vệ kinh từ bi → Tay hộ pháp ôm.</p><p>Hành kinh từ bi → Tay hành hạnh ôm.</p><p>Ngộ kinh từ bi → Tay ngộ đạo ôm.</p><p>Ăn chay từ bi → Tay từ bi ôm.</p><p>Bố thí từ bi → Tay bố thí ôm.</p><p>Trì giới từ bi → Tay giới luật ôm.</p><p>Nhẫn nhục từ bi → Tay nhẫn nhục ôm.</p><p>Tinh tấn từ bi → Tay tinh tấn ôm.</p><p>Thiền định từ bi → Tay thiền định ôm.</p><p>Trí tuệ từ bi → Tay bát-nhã ôm.</p><p>Độ ác từ bi → Tay độ ác ôm.</p><p>Phá tà từ bi → Tay phá tà ôm.</p><p>Xây tháp từ bi → Tay tháp miếu ôm.</p><p>Y kinh từ bi → Tay y kinh ôm.</p><p>Y nghĩa từ bi → Tay y nghĩa ôm.</p><p>Y liễu nghĩa từ bi → Tay y liễu ôm.</p><p>Y trí từ bi → Tay y trí ôm.</p><p>Hồi hướng từ bi → Tay hồi hướng ôm.</p><p>Sống đạo từ bi → Tay sống đạo ôm.</p><p>Chết đạo từ bi → Tay chết đạo ôm.</p><p>Đại bi từ bi → Tay đại bi ôm.</p><p>Niết-bàn từ bi → Tay Niết-bàn ôm.</p><p>Tịnh độ từ bi → Tay Tịnh độ ôm.</p><p>Phật tánh từ bi → Tay Phật tánh ôm.</p><p>Pháp thân từ bi → Tay Pháp thân ôm.</p><p>Chánh pháp từ bi → Tay chánh pháp ôm.</p><p>Chúng sanh từ bi → Tay chúng sanh ôm.</p><p>Địa ngục từ bi → Tay địa ngục ôm.</p><p>Ngạ quỷ từ bi → Tay ngạ quỷ ôm.</p><p>Súc sanh từ bi → Tay súc sanh ôm.</p><p>Phật đưa tay xoa đầu Di Lặc, ấn ký:</p><p><br></p><p>“34 pháp từ bi này – con phải dùng vòng tay đại bi mà ôm.</p><p>Một pháp từ bi – một vòng tay mở.</p><p>34 pháp từ bi – 10 pháp giới an lạc.</p><p>Một người từ bi 1 pháp – vạn kiếp an lạc.</p><p>Một người từ bi 34 pháp – thế giới thành Tịnh độ.”</p><p><br></p><p>Di Lặc đảnh lễ, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy:</p><p><br></p><p>“Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</p><p>Dù địa ngục nóng như lửa, con vẫn ôm!</p><p>Dù ngạ quỷ đói như dao, con vẫn ôm!</p><p>Dù súc sanh khổ như gông, con vẫn ôm!”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ 34 câu – thọ ký Di Lặc:</p><p><br></p><p>1. Di Lặc mẹ từ bi, ôm ấp muôn chúng sanh,</p><p>2. Di Lặc đèn đại bi, biến khổ thành an lạc,</p><p>3. 34 pháp từ bi, 34 tay mở rộng,</p><p>4. Một người từ 1 pháp, vạn kiếp an lạc tâm.</p><p><br></p><p>5. Từ nghe kinh là tay, tay nghe pháp ôm khổ,</p><p>6. Từ trì kinh là tay, tay trì giới ôm ác,</p><p>7. Từ thuyết kinh là tay, tay thuyết pháp muôn phương,</p><p>8. Từ cúng kinh là tay, tay cúng dường Tam bảo.</p><p><br></p><p>9. Từ bảo kinh là tay, tay hộ pháp chánh pháp,</p><p>10. Từ hành kinh là tay, tay hành hạnh Niết-bàn,</p><p>11. Từ ngộ kinh là tay, tay ngộ đạo bát-nhã,</p><p>12. Từ ăn chay là tay, tay từ bi chúng sanh.</p><p><br></p><p>13. Từ bố thí là tay, tay bố thí vô lượng,</p><p>14. Từ trì giới là tay, tay giới luật thanh tịnh,</p><p>15. Từ nhẫn nhục là tay, tay nhẫn nhục tự tại,</p><p>16. Từ tinh tấn là tay, tay tinh tấn bất thoái.</p><p><br></p><p>17. Từ thiền định là tay, tay thiền định an lạc,</p><p>18. Từ trí tuệ là tay, tay bát-nhã thường trụ,</p><p>19. Từ độ ác là tay, tay độ ác Tịnh độ,</p><p>20. Từ phá tà là tay, tay phá tà chánh kiến.</p><p><br></p><p>21. Từ y kinh là tay, tay y kinh bất hoại,</p><p>22. Từ y nghĩa là tay, tay y nghĩa liễu nghĩa,</p><p>23. Từ y liễu là tay, tay y liễu thường lạc,</p><p>24. Từ y trí là tay, tay y trí bát-nhã.</p><p><br></p><p>25. Từ hồi hướng là tay, tay hồi hướng Tịnh độ,</p><p>26. Từ sống đạo là tay, tay sống đạo Phật sống,</p><p>27. Từ chết đạo là tay, tay chết đạo bất diệt,</p><p>28. Từ đại bi là tay, tay đại bi 10 giới.</p><p><br></p><p>29. Từ chánh pháp là tay, tay chánh pháp vạn kiếp,</p><p>30. Từ chúng sanh là tay, tay chúng sanh thành Phật,</p><p>31. Từ địa ngục là tay, tay địa ngục mở rộng,</p><p>32. Từ ngạ quỷ là tay, tay ngạ quỷ cam lồ,</p><p>33. Từ súc sanh là tay, tay súc sanh tự tại,</p><p>34. Di Lặc từ bi, Từ Thị Đại Bi Phật.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 34 vòng tay từ bi ôm khắp 10 pháp giới.</p><p><br></p><p>Di Lặc đứng dậy, dang rộng 34 vòng tay, ôm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ôm 500 chúng sanh khổ, đời đời không dứt.</p><p><br></p><p>10 pháp giới đồng thanh niệm:</p><p><br></p><p>“Nam mô Di Lặc Từ Bi!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 34 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm từ bi – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Nghe 1 pháp = 1 vòng tay mở trong tâm.</p><p>Trì 1 pháp = 1 kiếp an lạc.</p><p>Hành 1 pháp = vạn kiếp an lạc.</p><p>Ngộ 1 pháp = thành Di Lặc từ bi.</p><p>Từ bi 1 pháp = biến khổ đau thành Tịnh độ.</p><p>Từ bi 34 pháp = cứu cả thế giới.</p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường từ bi theo 34 pháp, người ấy chính là Di Lặc tái sinh, là vòng tay ôm giữa mạt pháp, là hạt giống đại bi bất diệt.</p><p><br></p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh từ bi!</p><p>Nam mô Di Lặc Từ Thị Đại Bi!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 34 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Di Lặc Thọ Ký – Từ Bi Vạn Kiếp) là lời phó chúc cuối cùng cho Di Lặc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, thọ ký Di Lặc làm Phật hiệu “Từ Thị Đại Bi”, truyền 34 pháp từ bi để ôm ấp chúng sanh, biến khổ đau thành an lạc vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc là mẹ của từ bi, ngọn đèn đại bi, người cứu khổ muôn loài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;34 pháp từ bi = 34 vòng tay, ôm cả 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này khởi đầu hạnh đại bi, biến người trì kinh thành Di Lặc, khẳng định “một người từ bi = vạn kiếp an lạc”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 34: Phẩm Di Lặc Thọ Ký – Từ Bi Vạn Kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Văn Thù nhận trí tuệ, hư không lại sáng rực, đất rung 22 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng, bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài nhập diệt rồi, ai ôm ấp chúng sanh khổ?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai biến địa ngục thành hoa sen, biến nước mắt thành cam lồ?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này Di Lặc!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con là mẹ của từ bi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con là ngọn đèn đại bi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Từ Thị Đại Bi Như Lai”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con sẽ truyền 34 pháp từ bi, ôm ấp 10 pháp giới, biến khổ đau thành an lạc vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người từ bi – vạn kiếp an lạc.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật truyền 34 pháp từ bi cho Di Lặc, mỗi pháp một vòng tay:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh từ bi → Tay nghe pháp ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh từ bi → Tay trì giới ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuyết kinh từ bi → Tay thuyết pháp ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường kinh từ bi → Tay cúng dường ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo vệ kinh từ bi → Tay hộ pháp ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành kinh từ bi → Tay hành hạnh ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ kinh từ bi → Tay ngộ đạo ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn chay từ bi → Tay từ bi ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bố thí từ bi → Tay bố thí ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì giới từ bi → Tay giới luật ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn nhục từ bi → Tay nhẫn nhục ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tinh tấn từ bi → Tay tinh tấn ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiền định từ bi → Tay thiền định ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí tuệ từ bi → Tay bát-nhã ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ ác từ bi → Tay độ ác ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá tà từ bi → Tay phá tà ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xây tháp từ bi → Tay tháp miếu ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y kinh từ bi → Tay y kinh ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y nghĩa từ bi → Tay y nghĩa ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y liễu nghĩa từ bi → Tay y liễu ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y trí từ bi → Tay y trí ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hồi hướng từ bi → Tay hồi hướng ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống đạo từ bi → Tay sống đạo ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chết đạo từ bi → Tay chết đạo ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại bi từ bi → Tay đại bi ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn từ bi → Tay Niết-bàn ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tịnh độ từ bi → Tay Tịnh độ ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh từ bi → Tay Phật tánh ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân từ bi → Tay Pháp thân ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp từ bi → Tay chánh pháp ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh từ bi → Tay chúng sanh ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Địa ngục từ bi → Tay địa ngục ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngạ quỷ từ bi → Tay ngạ quỷ ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Súc sanh từ bi → Tay súc sanh ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay xoa đầu Di Lặc, ấn ký:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“34 pháp từ bi này – con phải dùng vòng tay đại bi mà ôm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một pháp từ bi – một vòng tay mở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;34 pháp từ bi – 10 pháp giới an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người từ bi 1 pháp – vạn kiếp an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người từ bi 34 pháp – thế giới thành Tịnh độ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc đảnh lễ, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù địa ngục nóng như lửa, con vẫn ôm!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù ngạ quỷ đói như dao, con vẫn ôm!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù súc sanh khổ như gông, con vẫn ôm!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 34 câu – thọ ký Di Lặc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Di Lặc mẹ từ bi, ôm ấp muôn chúng sanh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Di Lặc đèn đại bi, biến khổ thành an lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. 34 pháp từ bi, 34 tay mở rộng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Một người từ 1 pháp, vạn kiếp an lạc tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;5. Từ nghe kinh là tay, tay nghe pháp ôm khổ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Từ trì kinh là tay, tay trì giới ôm ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Từ thuyết kinh là tay, tay thuyết pháp muôn phương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Từ cúng kinh là tay, tay cúng dường Tam bảo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;9. Từ bảo kinh là tay, tay hộ pháp chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10. Từ hành kinh là tay, tay hành hạnh Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11. Từ ngộ kinh là tay, tay ngộ đạo bát-nhã,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12. Từ ăn chay là tay, tay từ bi chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;13. Từ bố thí là tay, tay bố thí vô lượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14. Từ trì giới là tay, tay giới luật thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15. Từ nhẫn nhục là tay, tay nhẫn nhục tự tại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16. Từ tinh tấn là tay, tay tinh tấn bất thoái.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;17. Từ thiền định là tay, tay thiền định an lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18. Từ trí tuệ là tay, tay bát-nhã thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19. Từ độ ác là tay, tay độ ác Tịnh độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20. Từ phá tà là tay, tay phá tà chánh kiến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;21. Từ y kinh là tay, tay y kinh bất hoại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22. Từ y nghĩa là tay, tay y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23. Từ y liễu là tay, tay y liễu thường lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24. Từ y trí là tay, tay y trí bát-nhã.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;25. Từ hồi hướng là tay, tay hồi hướng Tịnh độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;26. Từ sống đạo là tay, tay sống đạo Phật sống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;27. Từ chết đạo là tay, tay chết đạo bất diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;28. Từ đại bi là tay, tay đại bi 10 giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;29. Từ chánh pháp là tay, tay chánh pháp vạn kiếp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;30. Từ chúng sanh là tay, tay chúng sanh thành Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;31. Từ địa ngục là tay, tay địa ngục mở rộng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;32. Từ ngạ quỷ là tay, tay ngạ quỷ cam lồ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;33. Từ súc sanh là tay, tay súc sanh tự tại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;34. Di Lặc từ bi, Từ Thị Đại Bi Phật.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 34 vòng tay từ bi ôm khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc đứng dậy, dang rộng 34 vòng tay, ôm địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ôm 500 chúng sanh khổ, đời đời không dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Di Lặc Từ Bi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 34 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm từ bi – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe 1 pháp = 1 vòng tay mở trong tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì 1 pháp = 1 kiếp an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ 1 pháp = thành Di Lặc từ bi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bi 1 pháp = biến khổ đau thành Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bi 34 pháp = cứu cả thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường từ bi theo 34 pháp, người ấy chính là Di Lặc tái sinh, là vòng tay ôm giữa mạt pháp, là hạt giống đại bi bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh từ bi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Di Lặc Từ Thị Đại Bi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8264724" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/580e5af2-3f5f-4ecd-82fa-0f08d73f05ad/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">358c3d98-b791-4a4d-b422-e39b149d4428</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/580e5af2-3f5f-4ecd-82fa-0f08d73f05ad</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:13:20 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/8/72569cf3-d7e0-4663-b5aa-756d66cc2f29_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>516</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 33</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 33</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 33 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Văn Thù Thọ Ký – Trí Tuệ Vạn Kiếp</strong>) là <strong>lời phó chúc cuối cùng cho Văn Thù Sư Lợi</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>thọ ký Văn Thù làm Phật hiệu “Pháp Giới Quang Minh”</strong>, <strong>truyền 33 pháp trí tuệ</strong> để <strong>soi sáng mạt pháp, phá vô minh vạn kiếp</strong>.</li><li><strong>Văn Thù là mẹ của trí tuệ</strong>, <strong>ngọn đèn bát-nhã</strong>, <strong>người khai ngộ chúng sanh</strong>.</li><li><strong>33 pháp trí tuệ = 33 thanh gươm, chặt 33 lớp vô minh</strong>. Phẩm này <strong>khởi đầu hạnh khai ngộ</strong>, <strong>biến người trì kinh thành Văn Thù</strong>, <strong>khẳng định “một người khai trí = vạn kiếp sáng tỏ”</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 33: Phẩm Văn Thù Thọ Ký – Trí Tuệ Vạn Kiếp</h3><p><strong>Sau khi Phú Lâu Na nhận độ ác</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 21 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Văn Thù Sư Lợi</strong> <strong>quỳ trước Phật</strong>, <strong>nước mắt lưng tròng</strong>, <strong>bạch</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngài nhập diệt rồi, ai khai ngộ chúng sanh?</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai phá vô minh, soi sáng mạt pháp?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này Văn Thù!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là mẹ của trí tuệ!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là ngọn đèn bát-nhã!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Pháp Giới Quang Minh Như Lai”.</strong></blockquote><blockquote><strong>Con sẽ truyền 33 pháp trí tuệ, chặt 33 lớp vô minh, soi sáng mạt pháp vạn kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người khai trí – vạn kiếp sáng tỏ.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>truyền 33 pháp trí tuệ cho Văn Thù</strong>, <strong>mỗi pháp một thanh gươm</strong>:</p><ol><li><strong>Nghe kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm nghe pháp chặt</strong>.</li><li><strong>Trì kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm trì giới chặt</strong>.</li><li><strong>Thuyết kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm thuyết pháp chặt</strong>.</li><li><strong>Cúng dường kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm cúng dường chặt</strong>.</li><li><strong>Bảo vệ kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm hộ pháp chặt</strong>.</li><li><strong>Hành kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm hành hạnh chặt</strong>.</li><li><strong>Ngộ kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm ngộ đạo chặt</strong>.</li><li><strong>Ăn chay trí tuệ</strong> → <strong>Gươm từ bi chặt</strong>.</li><li><strong>Bố thí trí tuệ</strong> → <strong>Gươm bố thí chặt</strong>.</li><li><strong>Trì giới trí tuệ</strong> → <strong>Gươm giới luật chặt</strong>.</li><li><strong>Nhẫn nhục trí tuệ</strong> → <strong>Gươm nhẫn nhục chặt</strong>.</li><li><strong>Tinh tấn trí tuệ</strong> → <strong>Gươm tinh tấn chặt</strong>.</li><li><strong>Thiền định trí tuệ</strong> → <strong>Gươm thiền định chặt</strong>.</li><li><strong>Bát-nhã trí tuệ</strong> → <strong>Gươm bát-nhã chặt</strong>.</li><li><strong>Độ ác trí tuệ</strong> → <strong>Gươm độ ác chặt</strong>.</li><li><strong>Phá tà trí tuệ</strong> → <strong>Gươm phá tà chặt</strong>.</li><li><strong>Xây tháp trí tuệ</strong> → <strong>Gươm tháp miếu chặt</strong>.</li><li><strong>Y kinh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm y kinh chặt</strong>.</li><li><strong>Y nghĩa trí tuệ</strong> → <strong>Gươm y nghĩa chặt</strong>.</li><li><strong>Y liễu nghĩa trí tuệ</strong> → <strong>Gươm y liễu chặt</strong>.</li><li><strong>Y trí trí tuệ</strong> → <strong>Gươm y trí chặt</strong>.</li><li><strong>Hồi hướng trí tuệ</strong> → <strong>Gươm hồi hướng chặt</strong>.</li><li><strong>Sống đạo trí tuệ</strong> → <strong>Gươm sống đạo chặt</strong>.</li><li><strong>Chết đạo trí tuệ</strong> → <strong>Gươm chết đạo chặt</strong>.</li><li><strong>Đại bi trí tuệ</strong> → <strong>Gươm đại bi chặt</strong>.</li><li><strong>Niết-bàn trí tuệ</strong> → <strong>Gươm Niết-bàn chặt</strong>.</li><li><strong>Tịnh độ trí tuệ</strong> → <strong>Gươm Tịnh độ chặt</strong>.</li><li><strong>Phật tánh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm Phật tánh chặt</strong>.</li><li><strong>Pháp thân trí tuệ</strong> → <strong>Gươm Pháp thân chặt</strong>.</li><li><strong>Chánh pháp trí tuệ</strong> → <strong>Gươm chánh pháp chặt</strong>.</li><li><strong>Chúng sanh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm chúng sanh chặt</strong>.</li><li><strong>Vô minh trí tuệ</strong> → <strong>Gươm vô minh chặt</strong>.</li><li><strong>Mạt pháp trí tuệ</strong> → <strong>Gươm mạt pháp chặt</strong>.</li></ol><p>Phật <strong>đưa tay xoa đầu Văn Thù</strong>, <strong>ấn ký</strong>:</p><blockquote><strong>“33 pháp trí tuệ này – con phải dùng gươm bát-nhã mà chặt.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một pháp trí tuệ – một lớp vô minh tan.</strong></blockquote><blockquote><strong>33 pháp trí tuệ – mạt pháp thành chánh pháp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người khai 1 trí – vạn kiếp sáng tỏ.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người khai 33 trí – 10 pháp giới sáng ngời.</strong>”</blockquote><p><strong>Văn Thù Sư Lợi</strong> <strong>đảnh lễ</strong>, <strong>ánh sáng từ thân bắn ra</strong>, <strong>quỳ lạy</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù vô minh dày như núi, con vẫn chặt 33 lớp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù mạt pháp đen như đêm, con vẫn soi 33 đèn!</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 33 câu – thọ ký Văn Thù</strong>:</p><blockquote><em>1. Văn Thù mẹ trí tuệ, khai ngộ muôn chúng sanh,</em></blockquote><blockquote><em>2. Văn Thù đèn bát-nhã, soi sáng mạt pháp trường,</em></blockquote><blockquote><em>3. 33 pháp trí tuệ, 33 gươm sáng tỏ,</em></blockquote><blockquote><em>4. Một người khai 1 trí, vạn kiếp sáng tỏ tâm.</em></blockquote><blockquote><em>5. Trí nghe kinh là gươm, gươm nghe pháp chặt si,</em></blockquote><blockquote><em>6. Trí trì kinh là gươm, gươm trì giới chặt ác,</em></blockquote><blockquote><em>7. Trí thuyết kinh là gươm, gươm thuyết pháp muôn phương,</em></blockquote><blockquote><em>8. Trí cúng kinh là gươm, gươm cúng dường Tam bảo.</em></blockquote><blockquote><em>9. Trí bảo kinh là gươm, gươm hộ pháp chánh pháp,</em></blockquote><blockquote><em>10. Trí hành kinh là gươm, gươm hành hạnh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>11. Trí ngộ kinh là gươm, gươm ngộ đạo bát-nhã,</em></blockquote><blockquote><em>12. Trí ăn chay là gươm, gươm từ bi chúng sanh.</em></blockquote><blockquote><em>13. Trí bố thí là gươm, gươm bố thí vô lượng,</em></blockquote><blockquote><em>14. Trí trì giới là gươm, gươm giới luật thanh tịnh,</em></blockquote><blockquote><em>15. Trí nhẫn nhục là gươm, gươm nhẫn nhục tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>16. Trí tinh tấn là gươm, gươm tinh tấn bất thoái.</em></blockquote><blockquote><em>17. Trí thiền định là gươm, gươm thiền định an lạc,</em></blockquote><blockquote><em>18. Trí bát-nhã là gươm, gươm bát-nhã thường trụ,</em></blockquote><blockquote><em>19. Trí độ ác là gươm, gươm độ ác Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>20. Trí phá tà là gươm, gươm phá tà chánh kiến.</em></blockquote><blockquote><em>21. Trí y kinh là gươm, gươm y kinh bất hoại,</em></blockquote><blockquote><em>22. Trí y nghĩa là gươm, gươm y nghĩa liễu nghĩa,</em></blockquote><blockquote><em>23. Trí y liễu là gươm, gươm y liễu thường lạc,</em></blockquote><blockquote><em>24. Trí y trí là gươm, gươm y trí bát-nhã.</em></blockquote><blockquote><em>25. Trí hồi hướng là gươm, gươm hồi hướng Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>26. Trí sống đạo là gươm, gươm sống đạo Phật sống,</em></blockquote><blockquote><em>27. Trí chết đạo là gươm, gươm chết đạo bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>28. Trí đại bi là gươm, gươm đại bi 10 giới.</em></blockquote><blockquote><em>29. Trí chánh pháp là gươm, gươm chánh pháp vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>30. Trí chúng sanh là gươm, gươm chúng sanh thành Phật,</em></blockquote><blockquote><em>31. Trí vô minh là gươm, gươm vô minh tan hết,</em></blockquote><blockquote><em>32. Trí mạt pháp là gươm, gươm mạt pháp sáng ngời,</em></blockquote><blockquote><em>33. Văn Thù khai trí, Pháp Giới Quang Minh Phật.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn 33 thanh gươm trí tuệ sáng khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Văn Thù Sư Lợi</strong> <strong>đứng dậy</strong>, <strong>cầm thanh gươm đầu tiên</strong>, <strong>chặt vô minh</strong>, <strong>khai ngộ 500 Bồ-tát</strong>, <strong>đời đời không dứt</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Văn Thù Trí Tuệ!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 33 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm trí tuệ</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe 1 pháp = 1 thanh gươm sáng trong tâm</strong>.</li><li><strong>Trì 1 pháp = 1 lớp vô minh tan</strong>.</li><li><strong>Hành 1 pháp = vạn kiếp sáng tỏ</strong>.</li><li><strong>Ngộ 1 pháp = thành Văn Thù khai ngộ</strong>.</li><li><strong>Khai 1 trí = biến mạt pháp thành chánh pháp</strong>.</li><li><strong>Khai 33 trí = cứu cả thế giới</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường khai trí theo 33 pháp</strong>, người ấy <strong>chính là Văn Thù tái sinh</strong>, là <strong>thanh gươm sáng giữa mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống trí tuệ bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh trí tuệ!</strong></p><p><strong>Nam mô Văn Thù Pháp Giới Quang Minh!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 33 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Văn Thù Thọ Ký – Trí Tuệ Vạn Kiếp&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;lời phó chúc cuối cùng cho Văn Thù Sư Lợi&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;thọ ký Văn Thù làm Phật hiệu “Pháp Giới Quang Minh”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;truyền 33 pháp trí tuệ&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;soi sáng mạt pháp, phá vô minh vạn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Văn Thù là mẹ của trí tuệ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ngọn đèn bát-nhã&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;người khai ngộ chúng sanh&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;33 pháp trí tuệ = 33 thanh gươm, chặt 33 lớp vô minh&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;khởi đầu hạnh khai ngộ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến người trì kinh thành Văn Thù&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một người khai trí = vạn kiếp sáng tỏ”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 33: Phẩm Văn Thù Thọ Ký – Trí Tuệ Vạn Kiếp&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi Phú Lâu Na nhận độ ác&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 21 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Văn Thù Sư Lợi&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;quỳ trước Phật&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nước mắt lưng tròng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;bạch&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngài nhập diệt rồi, ai khai ngộ chúng sanh?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai phá vô minh, soi sáng mạt pháp?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này Văn Thù!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là mẹ của trí tuệ!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là ngọn đèn bát-nhã!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Pháp Giới Quang Minh Như Lai”.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con sẽ truyền 33 pháp trí tuệ, chặt 33 lớp vô minh, soi sáng mạt pháp vạn kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người khai trí – vạn kiếp sáng tỏ.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;truyền 33 pháp trí tuệ cho Văn Thù&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mỗi pháp một thanh gươm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm nghe pháp chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm trì giới chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thuyết kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm thuyết pháp chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Cúng dường kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm cúng dường chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bảo vệ kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm hộ pháp chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm hành hạnh chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm ngộ đạo chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm từ bi chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bố thí trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm bố thí chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì giới trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm giới luật chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhẫn nhục trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm nhẫn nhục chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tinh tấn trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm tinh tấn chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thiền định trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm thiền định chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bát-nhã trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm bát-nhã chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Độ ác trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm độ ác chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phá tà trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm phá tà chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Xây tháp trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm tháp miếu chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y kinh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm y kinh chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y nghĩa trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm y nghĩa chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y liễu nghĩa trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm y liễu chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y trí trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm y trí chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hồi hướng trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm hồi hướng chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sống đạo trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm sống đạo chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chết đạo trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm chết đạo chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đại bi trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm đại bi chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Niết-bàn trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm Niết-bàn chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tịnh độ trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm Tịnh độ chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm Phật tánh chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Pháp thân trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm Pháp thân chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chánh pháp trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm chánh pháp chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chúng sanh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm chúng sanh chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Vô minh trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm vô minh chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mạt pháp trí tuệ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Gươm mạt pháp chặt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay xoa đầu Văn Thù&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ấn ký&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“33 pháp trí tuệ này – con phải dùng gươm bát-nhã mà chặt.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một pháp trí tuệ – một lớp vô minh tan.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;33 pháp trí tuệ – mạt pháp thành chánh pháp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người khai 1 trí – vạn kiếp sáng tỏ.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người khai 33 trí – 10 pháp giới sáng ngời.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Văn Thù Sư Lợi&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đảnh lễ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ thân bắn ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;quỳ lạy&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù vô minh dày như núi, con vẫn chặt 33 lớp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù mạt pháp đen như đêm, con vẫn soi 33 đèn!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 33 câu – thọ ký Văn Thù&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Văn Thù mẹ trí tuệ, khai ngộ muôn chúng sanh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Văn Thù đèn bát-nhã, soi sáng mạt pháp trường,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. 33 pháp trí tuệ, 33 gươm sáng tỏ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Một người khai 1 trí, vạn kiếp sáng tỏ tâm.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Trí nghe kinh là gươm, gươm nghe pháp chặt si,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Trí trì kinh là gươm, gươm trì giới chặt ác,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Trí thuyết kinh là gươm, gươm thuyết pháp muôn phương,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Trí cúng kinh là gươm, gươm cúng dường Tam bảo.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Trí bảo kinh là gươm, gươm hộ pháp chánh pháp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Trí hành kinh là gươm, gươm hành hạnh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Trí ngộ kinh là gươm, gươm ngộ đạo bát-nhã,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Trí ăn chay là gươm, gươm từ bi chúng sanh.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Trí bố thí là gươm, gươm bố thí vô lượng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Trí trì giới là gươm, gươm giới luật thanh tịnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Trí nhẫn nhục là gươm, gươm nhẫn nhục tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Trí tinh tấn là gươm, gươm tinh tấn bất thoái.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Trí thiền định là gươm, gươm thiền định an lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Trí bát-nhã là gươm, gươm bát-nhã thường trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Trí độ ác là gươm, gươm độ ác Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Trí phá tà là gươm, gươm phá tà chánh kiến.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Trí y kinh là gươm, gươm y kinh bất hoại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Trí y nghĩa là gươm, gươm y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Trí y liễu là gươm, gươm y liễu thường lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Trí y trí là gươm, gươm y trí bát-nhã.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Trí hồi hướng là gươm, gươm hồi hướng Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Trí sống đạo là gươm, gươm sống đạo Phật sống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Trí chết đạo là gươm, gươm chết đạo bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Trí đại bi là gươm, gươm đại bi 10 giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Trí chánh pháp là gươm, gươm chánh pháp vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Trí chúng sanh là gươm, gươm chúng sanh thành Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. Trí vô minh là gươm, gươm vô minh tan hết,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32. Trí mạt pháp là gươm, gươm mạt pháp sáng ngời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;33. Văn Thù khai trí, Pháp Giới Quang Minh Phật.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn 33 thanh gươm trí tuệ sáng khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Văn Thù Sư Lợi&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đứng dậy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cầm thanh gươm đầu tiên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chặt vô minh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khai ngộ 500 Bồ-tát&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đời đời không dứt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Văn Thù Trí Tuệ!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 33 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm trí tuệ&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe 1 pháp = 1 thanh gươm sáng trong tâm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì 1 pháp = 1 lớp vô minh tan&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp sáng tỏ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ 1 pháp = thành Văn Thù khai ngộ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Khai 1 trí = biến mạt pháp thành chánh pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Khai 33 trí = cứu cả thế giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường khai trí theo 33 pháp&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Văn Thù tái sinh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;thanh gươm sáng giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống trí tuệ bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh trí tuệ!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Văn Thù Pháp Giới Quang Minh!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8006426" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/cd134737-52b3-4f3b-8692-a2cdb4f54c6d/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ccaa1a3a-f159-4063-8bc7-deb9f74a01ce</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/cd134737-52b3-4f3b-8692-a2cdb4f54c6d</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:06:01 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/ada5df74-9a84-4958-873f-a1b704d8cdee_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>500</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 32</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 32</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><br></p><h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 32 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phú Lâu Na Thọ Ký – Độ Ác Vạn Kiếp) là lời phó chúc cuối cùng cho Phú Lâu Na:</p><ul><li>Phật <span>hiện thân Kim Cương lần cuối</span>, <span>đứng trên hư không</span>, <span>thọ ký Phú Lâu Na làm Phật hiệu “Đại Bi Chiến Thắng”</span>, <span>truyền 32 pháp độ ác</span> để <span>cứu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vạn kiếp</span>.</li><li><span>Phú Lâu Na là Bồ-tát vào thành ác</span>, <span>mẹ của chúng sanh khổ</span>, <span>ngọn đèn độ ác</span>.</li><li><span>32 pháp độ ác = 32 cánh cửa, mở địa ngục thành Tịnh độ</span>.</li><li>Phẩm này <span>khởi đầu hạnh độ ác</span>, <span>biến người trì kinh thành Phú Lâu Na</span>, <span>khẳng định “một người độ ác = vạn kiếp Tịnh độ”</span>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 32: Phẩm Phú Lâu Na Thọ Ký – Độ Ác Vạn Kiếp</h3><p>Sau khi A Nan nhận kết tập, hư không lại sáng rực, đất rung 20 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>Phú Lâu Na quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng, bạch:</p><blockquote><em>“</em><em>Bạch Thế Tôn!</em></blockquote><blockquote><em>Ngài nhập diệt rồi, ai vào thành ác độ người ác?</em></blockquote><blockquote><em>Ai mở cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?</em><em>”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><blockquote><em>“Này Phú Lâu Na!</em></blockquote><blockquote><em>Con là mẹ của chúng sanh khổ!</em></blockquote><blockquote><em>Con là Bồ-tát vào thành ác!</em></blockquote><blockquote><em>Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Đại Bi Chiến Thắng Như Lai”.</em></blockquote><blockquote><em>Con sẽ truyền 32 pháp độ ác, cứu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vạn kiếp.</em></blockquote><blockquote><em>Một người độ ác – vạn kiếp Tịnh độ.</em><em>”</em></blockquote><p>Phật truyền 32 pháp độ ác cho Phú Lâu Na, mỗi pháp một cánh cửa:</p><ol><li><span>Nghe kinh độ ác</span> → <span>Cửa nghe pháp mở</span>.</li><li><span>Trì kinh độ ác</span> → <span>Cửa trì giới mở</span>.</li><li><span>Thuyết kinh độ ác</span> → <span>Cửa thuyết pháp mở</span>.</li><li><span>Cúng dường kinh độ ác</span> → <span>Cửa cúng dường mở</span>.</li><li><span>Bảo vệ kinh độ ác</span> → <span>Cửa hộ pháp mở</span>.</li><li><span>Hành kinh độ ác</span> → <span>Cửa hành hạnh mở</span>.</li><li><span>Ngộ kinh độ ác</span> → <span>Cửa ngộ đạo mở</span>.</li><li><span>Ăn chay độ ác</span> → <span>Cửa từ bi mở</span>.</li><li><span>Bố thí độ ác</span> → <span>Cửa bố thí mở</span>.</li><li><span>Trì giới độ ác</span> → <span>Cửa giới luật mở</span>.</li><li><span>Nhẫn nhục độ ác</span> → <span>Cửa nhẫn nhục mở</span>.</li><li><span>Tinh tấn độ ác</span> → <span>Cửa tinh tấn mở</span>.</li><li><span>Thiền định độ ác</span> → <span>Cửa thiền định mở</span>.</li><li><span>Trí tuệ độ ác</span> → <span>Cửa bát-nhã mở</span>.</li><li><span>Vào thành ác độ ác</span> → <span>Cửa thành ác mở</span>.</li><li><span>Phá tà độ ác</span> → <span>Cửa phá tà mở</span>.</li><li><span>Xây tháp độ ác</span> → <span>Cửa tháp miếu mở</span>.</li><li><span>Y kinh độ ác</span> → <span>Cửa y kinh mở</span>.</li><li><span>Y nghĩa độ ác</span> → <span>Cửa y nghĩa mở</span>.</li><li><span>Y liễu nghĩa độ ác</span> → <span>Cửa y liễu mở</span>.</li><li><span>Y trí độ ác</span> → <span>Cửa y trí mở</span>.</li><li><span>Hồi hướng độ ác</span> → <span>Cửa hồi hướng mở</span>.</li><li><span>Sống vì ác độ ác</span> → <span>Cửa sống đạo mở</span>.</li><li><span>Chết vì ác độ ác</span> → <span>Cửa chết đạo mở</span>.</li><li><span>Mỗi niệm vì ác độ ác</span> → <span>Cửa đại bi mở</span>.</li><li><span>Mỗi hơi thở vì ác độ ác</span> → <span>Cửa Niết-bàn mở</span>.</li><li><span>Mỗi bước chân vì ác độ ác</span> → <span>Cửa Tịnh độ mở</span>.</li><li><span>Mỗi ánh mắt vì ác độ ác</span> → <span>Cửa Phật tánh mở</span>.</li><li><span>Mỗi tâm vì ác độ ác</span> → <span>Cửa Pháp thân mở</span>.</li><li><span>Mỗi đời vì ác độ ác</span> → <span>Cửa chánh pháp mở</span>.</li><li><span>Mỗi kiếp vì ác độ ác</span> → <span>Cửa chúng sanh mở</span>.</li><li><span>Mỗi niệm vì địa ngục độ ác</span> → <span>Cửa địa ngục mở</span>.</li></ol><p>Phật đưa tay xoa đầu Phú Lâu Na, ấn ký:</p><blockquote><em>“32 pháp độ ác này – con phải vào thành ác mà hành.</em></blockquote><blockquote><em>Một pháp độ ác – một cánh cửa mở.</em></blockquote><blockquote><em>32 pháp độ ác – địa ngục thành Tịnh độ.</em></blockquote><blockquote><em>Một người độ 1 ác – vạn kiếp Tịnh độ.</em></blockquote><blockquote><em>Một người độ 32 ác – 10 pháp giới sáng tỏ.</em><em>”</em></blockquote><p>Phú Lâu Na đảnh lễ, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy:</p><blockquote><em>“</em><em>Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</em></blockquote><blockquote><em>Dù bị đánh, bị chửi, bị giết – con vẫn vào thành ác!</em></blockquote><blockquote><em>Dù máu chảy thành sông, con vẫn mở 32 cửa!</em><em>”</em></blockquote><p>Phật nói kệ 32 câu – thọ ký Phú Lâu Na:</p><blockquote><em>1. Phú Lâu Na vào ác, mẹ khổ được cứu độ,</em></blockquote><blockquote><em>2. Phú Lâu Na độ ác, thành ác thành Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>3. 32 pháp độ ác, 32 cửa mở rộng,</em></blockquote><blockquote><em>4. Một người độ 1 ác, vạn kiếp Tịnh độ trường.</em></blockquote><blockquote><em>5. Độ nghe kinh là cửa, cửa nghe pháp mở tâm,</em></blockquote><blockquote><em>6. Độ trì kinh là cửa, cửa trì giới mở ác,</em></blockquote><blockquote><em>7. Độ thuyết kinh là cửa, cửa thuyết pháp muôn phương,</em></blockquote><blockquote><em>8. Độ cúng kinh là cửa, cửa cúng dường Tam bảo.</em></blockquote><blockquote><em>9. Độ bảo kinh là cửa, cửa hộ pháp chánh pháp,</em></blockquote><blockquote><em>10. Độ hành kinh là cửa, cửa hành hạnh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>11. Độ ngộ kinh là cửa, cửa ngộ đạo bát-nhã,</em></blockquote><blockquote><em>12. Độ ăn chay là cửa, cửa từ bi chúng sanh.</em></blockquote><blockquote><em>13. Độ bố thí là cửa, cửa bố thí vô lượng,</em></blockquote><blockquote><em>14. Độ trì giới là cửa, cửa giới luật thanh tịnh,</em></blockquote><blockquote><em>15. Độ nhẫn nhục là cửa, cửa nhẫn nhục tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>16. Độ tinh tấn là cửa, cửa tinh tấn bất thoái.</em></blockquote><blockquote><em>17. Độ thiền định là cửa, cửa thiền định an lạc,</em></blockquote><blockquote><em>18. Độ trí tuệ là cửa, cửa bát-nhã thường trụ,</em></blockquote><blockquote><em>19. Độ thành ác là cửa, cửa thành ác Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>20. Độ phá tà là cửa, cửa phá tà chánh kiến.</em></blockquote><blockquote><em>21. Độ y kinh là cửa, cửa y kinh bất hoại,</em></blockquote><blockquote><em>22. Độ y nghĩa là cửa, cửa y nghĩa liễu nghĩa,</em></blockquote><blockquote><em>23. Độ y liễu là cửa, cửa y liễu thường lạc,</em></blockquote><blockquote><em>24. Độ y trí là cửa, cửa y trí bát-nhã.</em></blockquote><blockquote><em>25. Độ hồi hướng là cửa, cửa hồi hướng Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>26. Độ sống đạo là cửa, cửa sống đạo Phật sống,</em></blockquote><blockquote><em>27. Độ chết đạo là cửa, cửa chết đạo bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>28. Độ đại bi là cửa, cửa đại bi 10 giới.</em></blockquote><blockquote><em>29. Độ chánh pháp là cửa, cửa chánh pháp vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>30. Độ chúng sanh là cửa, cửa chúng sanh thành Phật,</em></blockquote><blockquote><em>31. Độ địa ngục là cửa, cửa địa ngục mở rộng,</em></blockquote><blockquote><em>32. Phú Lâu Na độ ác, Đại Bi Chiến Thắng Phật.”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 32 cánh cửa độ ác mở khắp 10 pháp giới.</p><p>Phú Lâu Na đứng dậy, cầm chìa khóa đầu tiên, vào thành ác, mở cửa địa ngục, độ 500 người ác, đời đời không dứt.</p><p>10 pháp giới đồng thanh niệm:</p><blockquote><em>“Nam mô Phú Lâu Na Độ Ác!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</em></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm Quyển 32 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm độ ác – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><ul><li><span>Nghe 1 pháp = 1 cánh cửa mở trong tâm</span>.</li><li><span>Trì 1 pháp = 1 kiếp Tịnh độ</span>.</li><li><span>Hành 1 pháp = vạn kiếp Tịnh độ</span>.</li><li><span>Ngộ 1 pháp = thành Phú Lâu Na độ ác</span>.</li><li><span>Độ 1 ác = biến địa ngục thành Tịnh độ</span>.</li><li><span>Độ 32 ác = cứu cả thế giới</span>.</li></ul><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường độ ác theo 32 pháp, người ấy chính là Phú Lâu Na tái sinh, là cánh cửa mở giữa mạt pháp, là hạt giống độ ác bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh độ ác!</p><p>Nam mô Phú Lâu Na Đại Bi Chiến Thắng!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 32 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phú Lâu Na Thọ Ký – Độ Ác Vạn Kiếp) là lời phó chúc cuối cùng cho Phú Lâu Na:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;span&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;đứng trên hư không&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;thọ ký Phú Lâu Na làm Phật hiệu “Đại Bi Chiến Thắng”&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;truyền 32 pháp độ ác&lt;/span&gt; để &lt;span&gt;cứu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vạn kiếp&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Phú Lâu Na là Bồ-tát vào thành ác&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;mẹ của chúng sanh khổ&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;ngọn đèn độ ác&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;32 pháp độ ác = 32 cánh cửa, mở địa ngục thành Tịnh độ&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phẩm này &lt;span&gt;khởi đầu hạnh độ ác&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;biến người trì kinh thành Phú Lâu Na&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;khẳng định “một người độ ác = vạn kiếp Tịnh độ”&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 32: Phẩm Phú Lâu Na Thọ Ký – Độ Ác Vạn Kiếp&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Sau khi A Nan nhận kết tập, hư không lại sáng rực, đất rung 20 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng, bạch:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ngài nhập diệt rồi, ai vào thành ác độ người ác?&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai mở cửa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh?&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Này Phú Lâu Na!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con là mẹ của chúng sanh khổ!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con là Bồ-tát vào thành ác!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Đại Bi Chiến Thắng Như Lai”.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con sẽ truyền 32 pháp độ ác, cứu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vạn kiếp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người độ ác – vạn kiếp Tịnh độ.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật truyền 32 pháp độ ác cho Phú Lâu Na, mỗi pháp một cánh cửa:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nghe kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa nghe pháp mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trì kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa trì giới mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thuyết kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa thuyết pháp mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Cúng dường kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa cúng dường mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Bảo vệ kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa hộ pháp mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hành kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa hành hạnh mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ngộ kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa ngộ đạo mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ăn chay độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa từ bi mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Bố thí độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa bố thí mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trì giới độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa giới luật mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nhẫn nhục độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa nhẫn nhục mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tinh tấn độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa tinh tấn mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thiền định độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa thiền định mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trí tuệ độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa bát-nhã mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Vào thành ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa thành ác mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Phá tà độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa phá tà mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Xây tháp độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa tháp miếu mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y kinh độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa y kinh mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y nghĩa độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa y nghĩa mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y liễu nghĩa độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa y liễu mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y trí độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa y trí mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hồi hướng độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa hồi hướng mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Sống vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa sống đạo mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Chết vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa chết đạo mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi niệm vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa đại bi mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi hơi thở vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa Niết-bàn mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi bước chân vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa Tịnh độ mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi ánh mắt vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa Phật tánh mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi tâm vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa Pháp thân mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi đời vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa chánh pháp mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi kiếp vì ác độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa chúng sanh mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi niệm vì địa ngục độ ác&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Cửa địa ngục mở&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay xoa đầu Phú Lâu Na, ấn ký:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“32 pháp độ ác này – con phải vào thành ác mà hành.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một pháp độ ác – một cánh cửa mở.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32 pháp độ ác – địa ngục thành Tịnh độ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người độ 1 ác – vạn kiếp Tịnh độ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người độ 32 ác – 10 pháp giới sáng tỏ.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na đảnh lễ, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dù bị đánh, bị chửi, bị giết – con vẫn vào thành ác!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dù máu chảy thành sông, con vẫn mở 32 cửa!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 32 câu – thọ ký Phú Lâu Na:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Phú Lâu Na vào ác, mẹ khổ được cứu độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Phú Lâu Na độ ác, thành ác thành Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. 32 pháp độ ác, 32 cửa mở rộng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Một người độ 1 ác, vạn kiếp Tịnh độ trường.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Độ nghe kinh là cửa, cửa nghe pháp mở tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Độ trì kinh là cửa, cửa trì giới mở ác,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Độ thuyết kinh là cửa, cửa thuyết pháp muôn phương,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Độ cúng kinh là cửa, cửa cúng dường Tam bảo.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Độ bảo kinh là cửa, cửa hộ pháp chánh pháp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Độ hành kinh là cửa, cửa hành hạnh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Độ ngộ kinh là cửa, cửa ngộ đạo bát-nhã,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Độ ăn chay là cửa, cửa từ bi chúng sanh.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Độ bố thí là cửa, cửa bố thí vô lượng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Độ trì giới là cửa, cửa giới luật thanh tịnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Độ nhẫn nhục là cửa, cửa nhẫn nhục tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Độ tinh tấn là cửa, cửa tinh tấn bất thoái.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Độ thiền định là cửa, cửa thiền định an lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Độ trí tuệ là cửa, cửa bát-nhã thường trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Độ thành ác là cửa, cửa thành ác Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Độ phá tà là cửa, cửa phá tà chánh kiến.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Độ y kinh là cửa, cửa y kinh bất hoại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Độ y nghĩa là cửa, cửa y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Độ y liễu là cửa, cửa y liễu thường lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Độ y trí là cửa, cửa y trí bát-nhã.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Độ hồi hướng là cửa, cửa hồi hướng Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Độ sống đạo là cửa, cửa sống đạo Phật sống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Độ chết đạo là cửa, cửa chết đạo bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Độ đại bi là cửa, cửa đại bi 10 giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Độ chánh pháp là cửa, cửa chánh pháp vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Độ chúng sanh là cửa, cửa chúng sanh thành Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. Độ địa ngục là cửa, cửa địa ngục mở rộng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32. Phú Lâu Na độ ác, Đại Bi Chiến Thắng Phật.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 32 cánh cửa độ ác mở khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na đứng dậy, cầm chìa khóa đầu tiên, vào thành ác, mở cửa địa ngục, độ 500 người ác, đời đời không dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Nam mô Phú Lâu Na Độ Ác!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 32 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm độ ác – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nghe 1 pháp = 1 cánh cửa mở trong tâm&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trì 1 pháp = 1 kiếp Tịnh độ&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp Tịnh độ&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ngộ 1 pháp = thành Phú Lâu Na độ ác&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Độ 1 ác = biến địa ngục thành Tịnh độ&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Độ 32 ác = cứu cả thế giới&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường độ ác theo 32 pháp, người ấy chính là Phú Lâu Na tái sinh, là cánh cửa mở giữa mạt pháp, là hạt giống độ ác bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh độ ác!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Phú Lâu Na Đại Bi Chiến Thắng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8111333" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/2856be8c-6a7e-44e6-a6aa-21f79e9712d4/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">73d0d871-4750-4519-a8f2-ad92193596d6</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/2856be8c-6a7e-44e6-a6aa-21f79e9712d4</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 08:01:23 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/72e519ae-08ec-4c4f-89df-e809209bcb6b_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>506</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 31</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 31</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 31 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm A Nan Thọ Ký – Kết Tập Vạn Kiếp) là lời phó chúc cuối cùng cho A Nan:</p><ul><li>Phật <span>hiện thân Kim Cương lần cuối</span>, <span>đứng trên hư không</span>, <span>thọ ký A Nan làm Phật hiệu “Pháp Hải Lôi Âm”</span>, <span>truyền 31 pháp kết tập</span> để <span>giữ kinh Niết-bàn vạn kiếp</span>.</li><li><span>A Nan là người nghe pháp nhiều nhất</span>, <span>mẹ của kinh tạng</span>, <span>ngọn đèn kết tập</span>.</li><li><span>31 pháp kết tập = 31 viên ngọc, bảo vệ chánh pháp bất diệt</span>.</li><li>Phẩm này <span>khởi đầu dòng kết tập</span>, <span>biến người trì kinh thành A Nan</span>, <span>khẳng định “một người kết tập = vạn kiếp kinh trụ”</span>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 31: Phẩm A Nan Thọ Ký – Kết Tập Vạn Kiếp</h3><p>Sau khi Ca Diếp nhận truyền đăng, hư không lại sáng rực, đất rung 19 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>A Nan quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng, bạch:</p><blockquote><em>“</em><em>Bạch Thế Tôn!</em></blockquote><blockquote><em>Ngài nhập diệt rồi, ai nhớ lời Ngài?</em></blockquote><blockquote><em>Ai kết tập kinh Niết-bàn cho đời sau?</em><em>”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><blockquote><em>“Này A Nan!</em></blockquote><blockquote><em>Con là mẹ của kinh tạng!</em></blockquote><blockquote><em>Con là người nghe pháp nhiều nhất!</em></blockquote><blockquote><em>Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Pháp Hải Lôi Âm Như Lai”.</em></blockquote><blockquote><em>Con sẽ truyền 31 pháp kết tập, giữ kinh Niết-bàn vạn kiếp.</em></blockquote><blockquote><em>Một người kết tập – vạn kiếp kinh trụ.</em><em>”</em></blockquote><p>Phật truyền 31 pháp kết tập cho A Nan, mỗi pháp một viên ngọc:</p><ol><li><span>Nhớ kinh kết tập</span> → <span>Ngọc nhớ pháp sáng</span>.</li><li><span>Nói kinh kết tập</span> → <span>Ngọc nói pháp sáng</span>.</li><li><span>Ghi kinh kết tập</span> → <span>Ngọc ghi chép sáng</span>.</li><li><span>Bảo quản kinh kết tập</span> → <span>Ngọc bảo quản sáng</span>.</li><li><span>Phân loại kinh kết tập</span> → <span>Ngọc phân loại sáng</span>.</li><li><span>Giải nghĩa kinh kết tập</span> → <span>Ngọc giải nghĩa sáng</span>.</li><li><span>Truyền kinh kết tập</span> → <span>Ngọc truyền kinh sáng</span>.</li><li><span>Ăn chay kết tập</span> → <span>Ngọc từ bi sáng</span>.</li><li><span>Bố thí kinh kết tập</span> → <span>Ngọc bố thí sáng</span>.</li><li><span>Trì giới kinh kết tập</span> → <span>Ngọc giới luật sáng</span>.</li><li><span>Nhẫn nhục kinh kết tập</span> → <span>Ngọc nhẫn nhục sáng</span>.</li><li><span>Tinh tấn kinh kết tập</span> → <span>Ngọc tinh tấn sáng</span>.</li><li><span>Thiền định kinh kết tập</span> → <span>Ngọc thiền định sáng</span>.</li><li><span>Trí tuệ kinh kết tập</span> → <span>Ngọc bát-nhã sáng</span>.</li><li><span>Độ ác kinh kết tập</span> → <span>Ngọc độ ác sáng</span>.</li><li><span>Phá tà kinh kết tập</span> → <span>Ngọc phá tà sáng</span>.</li><li><span>Xây tháp kinh kết tập</span> → <span>Ngọc tháp miếu sáng</span>.</li><li><span>Y kinh kết tập</span> → <span>Ngọc y kinh sáng</span>.</li><li><span>Y nghĩa kinh kết tập</span> → <span>Ngọc y nghĩa sáng</span>.</li><li><span>Y liễu nghĩa kinh kết tập</span> → <span>Ngọc y liễu sáng</span>.</li><li><span>Y trí kinh kết tập</span> → <span>Ngọc y trí sáng</span>.</li><li><span>Hồi hướng kinh kết tập</span> → <span>Ngọc hồi hướng sáng</span>.</li><li><span>Sống vì kinh kết tập</span> → <span>Ngọc sống đạo sáng</span>.</li><li><span>Chết vì kinh kết tập</span> → <span>Ngọc chết đạo sáng</span>.</li><li><span>Mỗi niệm vì chúng sanh kết tập</span> → <span>Ngọc đại bi sáng</span>.</li><li><span>Mỗi hơi thở vì Niết-bàn kết tập</span> → <span>Ngọc Niết-bàn sáng</span>.</li><li><span>Mỗi bước chân vì Tịnh độ kết tập</span> → <span>Ngọc Tịnh độ sáng</span>.</li><li><span>Mỗi ánh mắt vì Phật tánh kết tập</span> → <span>Ngọc Phật tánh sáng</span>.</li><li><span>Mỗi tâm vì Pháp thân kết tập</span> → <span>Ngọc Pháp thân sáng</span>.</li><li><span>Mỗi đời vì chánh pháp kết tập</span> → <span>Ngọc chánh pháp sáng</span>.</li><li><span>Mỗi kiếp vì chúng sanh kết tập</span> → <span>Ngọc chúng sanh sáng</span>.</li></ol><p>Phật đưa tay xoa đầu A Nan, ấn ký:</p><blockquote><em>“31 pháp kết tập này – con phải giữ đời đời.</em></blockquote><blockquote><em>Một pháp kết tập – một viên ngọc sáng.</em></blockquote><blockquote><em>31 pháp kết tập – kinh Niết-bàn bất diệt.</em></blockquote><blockquote><em>Một người kết tập 1 pháp – vạn kiếp kinh trụ.</em></blockquote><blockquote><em>Một người kết tập 31 pháp – 10 pháp giới sáng tỏ.</em><em>”</em></blockquote><p>A Nan đảnh lễ, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy:</p><blockquote><em>“</em><em>Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</em></blockquote><blockquote><em>Dù thân này tan thành tro, con vẫn nhớ 40 quyển!</em></blockquote><blockquote><em>Dù máu chảy thành sông, con vẫn kết tập kinh pháp!</em><em>”</em></blockquote><p>Phật nói kệ 31 câu – thọ ký A Nan:</p><blockquote><em>1. A Nan là mẹ tạng, nhớ lời Phật nói ra,</em></blockquote><blockquote><em>2. A Nan là kết tập, giữ kinh vạn kiếp trường,</em></blockquote><blockquote><em>3. 31 pháp kết tập, 31 ngọc sáng tỏ,</em></blockquote><blockquote><em>4. Một người kết 1 pháp, vạn kiếp kinh còn trụ.</em></blockquote><blockquote><em>5. Kết nhớ kinh là ngọc, ngọc nhớ pháp sáng tâm,</em></blockquote><blockquote><em>6. Kết nói kinh là ngọc, ngọc nói pháp muôn phương,</em></blockquote><blockquote><em>7. Kết ghi kinh là ngọc, ngọc ghi chép Tam bảo,</em></blockquote><blockquote><em>8. Kết bảo kinh là ngọc, ngọc bảo quản chánh pháp.</em></blockquote><blockquote><em>9. Kết phân kinh là ngọc, ngọc phân loại Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>10. Kết giải kinh là ngọc, ngọc giải nghĩa bát-nhã,</em></blockquote><blockquote><em>11. Kết truyền kinh là ngọc, ngọc truyền kinh chúng sanh,</em></blockquote><blockquote><em>12. Kết ăn chay là ngọc, ngọc từ bi vô lượng.</em></blockquote><blockquote><em>13. Kết bố thí là ngọc, ngọc bố thí thanh tịnh,</em></blockquote><blockquote><em>14. Kết trì giới là ngọc, ngọc giới luật tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>15. Kết nhẫn nhục là ngọc, ngọc nhẫn nhục bất thoái,</em></blockquote><blockquote><em>16. Kết tinh tấn là ngọc, ngọc tinh tấn an lạc.</em></blockquote><blockquote><em>17. Kết thiền định là ngọc, ngọc thiền định thường trụ,</em></blockquote><blockquote><em>18. Kết trí tuệ là ngọc, ngọc bát-nhã Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>19. Kết độ ác là ngọc, ngọc độ ác chánh kiến,</em></blockquote><blockquote><em>20. Kết phá tà là ngọc, ngọc phá tà tâm Bồ-đề.</em></blockquote><blockquote><em>21. Kết y kinh là ngọc, ngọc y kinh bất hoại,</em></blockquote><blockquote><em>22. Kết y nghĩa là ngọc, ngọc y nghĩa liễu nghĩa,</em></blockquote><blockquote><em>23. Kết y liễu là ngọc, ngọc y liễu thường lạc,</em></blockquote><blockquote><em>24. Kết y trí là ngọc, ngọc y trí bát-nhã.</em></blockquote><blockquote><em>25. Kết hồi hướng là ngọc, ngọc hồi hướng Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>26. Kết sống đạo là ngọc, ngọc sống đạo Phật sống,</em></blockquote><blockquote><em>27. Kết chết đạo là ngọc, ngọc chết đạo bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>28. Kết đại bi là ngọc, ngọc đại bi 10 giới.</em></blockquote><blockquote><em>29. Kết chánh pháp là ngọc, ngọc chánh pháp vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>30. Kết chúng sanh là ngọc, ngọc chúng sanh thành Phật,</em></blockquote><blockquote><em>31. A Nan kết tập, Pháp Hải Lôi Âm Phật.”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 31 viên ngọc kết tập sáng khắp 10 pháp giới.</p><p>A Nan đứng dậy, cầm viên ngọc đầu tiên, kết tập 40 quyển, truyền cho Ca Diếp, Ca Diếp truyền cho Thương-na, đời đời không dứt.</p><p>10 pháp giới đồng thanh niệm:</p><blockquote><em>“Nam mô A Nan Kết Tập!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</em></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm Quyển 31 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm kết tập – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><ul><li><span>Nghe 1 pháp = 1 viên ngọc sáng trong tâm</span>.</li><li><span>Trì 1 pháp = 1 kiếp kinh trụ</span>.</li><li><span>Hành 1 pháp = vạn kiếp kinh sáng</span>.</li><li><span>Ngộ 1 pháp = thành A Nan kết tập</span>.</li><li><span>Kết tập 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp</span>.</li><li><span>Kết tập 31 pháp = cứu cả thế giới</span>.</li></ul><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường kết tập 31 pháp, người ấy chính là A Nan tái sinh, là viên ngọc sáng giữa mạt pháp, là hạt giống kinh tạng bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh kết tập!</p><p>Nam mô A Nan Pháp Hải Lôi Âm!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 31 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm A Nan Thọ Ký – Kết Tập Vạn Kiếp) là lời phó chúc cuối cùng cho A Nan:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;span&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;đứng trên hư không&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;thọ ký A Nan làm Phật hiệu “Pháp Hải Lôi Âm”&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;truyền 31 pháp kết tập&lt;/span&gt; để &lt;span&gt;giữ kinh Niết-bàn vạn kiếp&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;A Nan là người nghe pháp nhiều nhất&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;mẹ của kinh tạng&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;ngọn đèn kết tập&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;31 pháp kết tập = 31 viên ngọc, bảo vệ chánh pháp bất diệt&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phẩm này &lt;span&gt;khởi đầu dòng kết tập&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;biến người trì kinh thành A Nan&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;khẳng định “một người kết tập = vạn kiếp kinh trụ”&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 31: Phẩm A Nan Thọ Ký – Kết Tập Vạn Kiếp&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Sau khi Ca Diếp nhận truyền đăng, hư không lại sáng rực, đất rung 19 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng, bạch:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ngài nhập diệt rồi, ai nhớ lời Ngài?&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai kết tập kinh Niết-bàn cho đời sau?&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Này A Nan!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con là mẹ của kinh tạng!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con là người nghe pháp nhiều nhất!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Pháp Hải Lôi Âm Như Lai”.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con sẽ truyền 31 pháp kết tập, giữ kinh Niết-bàn vạn kiếp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người kết tập – vạn kiếp kinh trụ.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật truyền 31 pháp kết tập cho A Nan, mỗi pháp một viên ngọc:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nhớ kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc nhớ pháp sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nói kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc nói pháp sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ghi kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc ghi chép sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Bảo quản kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc bảo quản sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Phân loại kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc phân loại sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Giải nghĩa kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc giải nghĩa sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Truyền kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc truyền kinh sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ăn chay kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc từ bi sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Bố thí kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc bố thí sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trì giới kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc giới luật sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nhẫn nhục kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc nhẫn nhục sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tinh tấn kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc tinh tấn sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thiền định kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc thiền định sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trí tuệ kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc bát-nhã sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Độ ác kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc độ ác sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Phá tà kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc phá tà sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Xây tháp kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc tháp miếu sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc y kinh sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y nghĩa kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc y nghĩa sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y liễu nghĩa kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc y liễu sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Y trí kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc y trí sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hồi hướng kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc hồi hướng sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Sống vì kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc sống đạo sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Chết vì kinh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc chết đạo sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi niệm vì chúng sanh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc đại bi sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi hơi thở vì Niết-bàn kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc Niết-bàn sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi bước chân vì Tịnh độ kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc Tịnh độ sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi ánh mắt vì Phật tánh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc Phật tánh sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi tâm vì Pháp thân kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc Pháp thân sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi đời vì chánh pháp kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc chánh pháp sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mỗi kiếp vì chúng sanh kết tập&lt;/span&gt; → &lt;span&gt;Ngọc chúng sanh sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay xoa đầu A Nan, ấn ký:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“31 pháp kết tập này – con phải giữ đời đời.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một pháp kết tập – một viên ngọc sáng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31 pháp kết tập – kinh Niết-bàn bất diệt.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người kết tập 1 pháp – vạn kiếp kinh trụ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người kết tập 31 pháp – 10 pháp giới sáng tỏ.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;A Nan đảnh lễ, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dù thân này tan thành tro, con vẫn nhớ 40 quyển!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dù máu chảy thành sông, con vẫn kết tập kinh pháp!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 31 câu – thọ ký A Nan:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. A Nan là mẹ tạng, nhớ lời Phật nói ra,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. A Nan là kết tập, giữ kinh vạn kiếp trường,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. 31 pháp kết tập, 31 ngọc sáng tỏ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Một người kết 1 pháp, vạn kiếp kinh còn trụ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Kết nhớ kinh là ngọc, ngọc nhớ pháp sáng tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Kết nói kinh là ngọc, ngọc nói pháp muôn phương,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Kết ghi kinh là ngọc, ngọc ghi chép Tam bảo,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Kết bảo kinh là ngọc, ngọc bảo quản chánh pháp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Kết phân kinh là ngọc, ngọc phân loại Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Kết giải kinh là ngọc, ngọc giải nghĩa bát-nhã,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Kết truyền kinh là ngọc, ngọc truyền kinh chúng sanh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Kết ăn chay là ngọc, ngọc từ bi vô lượng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Kết bố thí là ngọc, ngọc bố thí thanh tịnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Kết trì giới là ngọc, ngọc giới luật tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Kết nhẫn nhục là ngọc, ngọc nhẫn nhục bất thoái,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Kết tinh tấn là ngọc, ngọc tinh tấn an lạc.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Kết thiền định là ngọc, ngọc thiền định thường trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Kết trí tuệ là ngọc, ngọc bát-nhã Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Kết độ ác là ngọc, ngọc độ ác chánh kiến,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Kết phá tà là ngọc, ngọc phá tà tâm Bồ-đề.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Kết y kinh là ngọc, ngọc y kinh bất hoại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Kết y nghĩa là ngọc, ngọc y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Kết y liễu là ngọc, ngọc y liễu thường lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Kết y trí là ngọc, ngọc y trí bát-nhã.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Kết hồi hướng là ngọc, ngọc hồi hướng Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Kết sống đạo là ngọc, ngọc sống đạo Phật sống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Kết chết đạo là ngọc, ngọc chết đạo bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Kết đại bi là ngọc, ngọc đại bi 10 giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Kết chánh pháp là ngọc, ngọc chánh pháp vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Kết chúng sanh là ngọc, ngọc chúng sanh thành Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. A Nan kết tập, Pháp Hải Lôi Âm Phật.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 31 viên ngọc kết tập sáng khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan đứng dậy, cầm viên ngọc đầu tiên, kết tập 40 quyển, truyền cho Ca Diếp, Ca Diếp truyền cho Thương-na, đời đời không dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Nam mô A Nan Kết Tập!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 31 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm kết tập – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nghe 1 pháp = 1 viên ngọc sáng trong tâm&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trì 1 pháp = 1 kiếp kinh trụ&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp kinh sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ngộ 1 pháp = thành A Nan kết tập&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Kết tập 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Kết tập 31 pháp = cứu cả thế giới&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường kết tập 31 pháp, người ấy chính là A Nan tái sinh, là viên ngọc sáng giữa mạt pháp, là hạt giống kinh tạng bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh kết tập!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô A Nan Pháp Hải Lôi Âm!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7965466" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/658025f3-52ce-4e36-a0a1-5fdef77672eb/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">36267afc-92b0-444b-8884-34333a2c4309</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/658025f3-52ce-4e36-a0a1-5fdef77672eb</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:59:11 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/110f3f8d-53bd-4a16-81e7-06234b22715f_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>497</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 30</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 30</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 30 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Ca Diếp Thọ Ký – Truyền Đăng Vạn Kiếp</strong>) là <strong>lời phó chúc cuối cùng cho Ca Diếp</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>thọ ký Ca Diếp làm Phật hiệu “Quang Minh Tối Thượng”</strong>, <strong>truyền 30 pháp truyền đăng</strong> để <strong>giữ lửa chánh pháp vạn kiếp</strong>.</li><li><strong>Ca Diếp là Tổ thứ nhất</strong>, <strong>mẹ của chánh pháp</strong>, <strong>ngọn đèn đầu tiên</strong>.</li><li><strong>30 pháp truyền đăng = 30 ngọn đèn, soi mạt pháp thành chánh pháp</strong>. Phẩm này <strong>khởi đầu dòng truyền thừa</strong>, <strong>biến người trì kinh thành Tổ</strong>, <strong>khẳng định “một người truyền đăng = vạn kiếp chánh pháp trụ”</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 30: Phẩm Ca Diếp Thọ Ký – Truyền Đăng Vạn Kiếp</h3><p><strong>Sau khi dạy hồi hướng Tịnh độ</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 18 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Ca Diếp</strong> <strong>quỳ trước Phật</strong>, <strong>nước mắt lưng tròng</strong>, <strong>bạch</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngài nhập diệt rồi, ai giữ lửa chánh pháp?</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai truyền kinh Niết-bàn cho đời sau?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này Ca Diếp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là mẹ của chánh pháp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Con là Tổ thứ nhất!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Quang Minh Tối Thượng Như Lai”.</strong></blockquote><blockquote><strong>Con sẽ truyền 30 pháp truyền đăng, giữ lửa chánh pháp vạn kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người truyền đăng – vạn kiếp chánh pháp trụ.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>truyền 30 pháp truyền đăng cho Ca Diếp</strong>, <strong>mỗi pháp một ngọn đèn</strong>:</p><ol><li><strong>Trì kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn trì giới sáng</strong>.</li><li><strong>Thuyết kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn thuyết pháp sáng</strong>.</li><li><strong>Cúng dường kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn cúng dường sáng</strong>.</li><li><strong>Bảo vệ kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn hộ pháp sáng</strong>.</li><li><strong>Hành kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn hành hạnh sáng</strong>.</li><li><strong>Ngộ kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn ngộ đạo sáng</strong>.</li><li><strong>Ăn chay truyền đăng</strong> → <strong>Đèn từ bi sáng</strong>.</li><li><strong>Bố thí truyền đăng</strong> → <strong>Đèn bố thí sáng</strong>.</li><li><strong>Trì giới truyền đăng</strong> → <strong>Đèn giới luật sáng</strong>.</li><li><strong>Nhẫn nhục truyền đăng</strong> → <strong>Đèn nhẫn nhục sáng</strong>.</li><li><strong>Tinh tấn truyền đăng</strong> → <strong>Đèn tinh tấn sáng</strong>.</li><li><strong>Thiền định truyền đăng</strong> → <strong>Đèn thiền định sáng</strong>.</li><li><strong>Trí tuệ truyền đăng</strong> → <strong>Đèn bát-nhã sáng</strong>.</li><li><strong>Độ ác truyền đăng</strong> → <strong>Đèn độ ác sáng</strong>.</li><li><strong>Phá tà truyền đăng</strong> → <strong>Đèn phá tà sáng</strong>.</li><li><strong>Xây tháp truyền đăng</strong> → <strong>Đèn tháp miếu sáng</strong>.</li><li><strong>Y kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn y kinh sáng</strong>.</li><li><strong>Y nghĩa truyền đăng</strong> → <strong>Đèn y nghĩa sáng</strong>.</li><li><strong>Y liễu nghĩa truyền đăng</strong> → <strong>Đèn y liễu sáng</strong>.</li><li><strong>Y trí truyền đăng</strong> → <strong>Đèn y trí sáng</strong>.</li><li><strong>Hồi hướng truyền đăng</strong> → <strong>Đèn hồi hướng sáng</strong>.</li><li><strong>Sống vì kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn sống đạo sáng</strong>.</li><li><strong>Chết vì kinh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn chết đạo sáng</strong>.</li><li><strong>Mỗi niệm vì chúng sanh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn đại bi sáng</strong>.</li><li><strong>Mỗi hơi thở vì Niết-bàn truyền đăng</strong> → <strong>Đèn Niết-bàn sáng</strong>.</li><li><strong>Mỗi bước chân vì Tịnh độ truyền đăng</strong> → <strong>Đèn Tịnh độ sáng</strong>.</li><li><strong>Mỗi ánh mắt vì Phật tánh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn Phật tánh sáng</strong>.</li><li><strong>Mỗi tâm vì Pháp thân truyền đăng</strong> → <strong>Đèn Pháp thân sáng</strong>.</li><li><strong>Mỗi đời vì chánh pháp truyền đăng</strong> → <strong>Đèn chánh pháp sáng</strong>.</li><li><strong>Mỗi kiếp vì chúng sanh truyền đăng</strong> → <strong>Đèn chúng sanh sáng</strong>.</li></ol><p>Phật <strong>đưa tay xoa đầu Ca Diếp</strong>, <strong>ấn ký</strong>:</p><blockquote><strong>“30 pháp truyền đăng này – con phải truyền đời đời.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một pháp truyền – một ngọn đèn sáng.</strong></blockquote><blockquote><strong>30 pháp truyền – mạt pháp thành chánh pháp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người truyền 1 pháp – vạn kiếp chánh pháp trụ.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người truyền 30 pháp – 10 pháp giới sáng tỏ.</strong>”</blockquote><p><strong>Ca Diếp</strong> <strong>đảnh lễ</strong>, <strong>ánh sáng từ thân bắn ra</strong>, <strong>quỳ lạy</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù thân này tan thành tro, con vẫn truyền 30 pháp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù máu chảy thành sông, con vẫn giữ lửa chánh pháp!</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 30 câu – thọ ký Ca Diếp</strong>:</p><blockquote><em>1. Ca Diếp là mẹ pháp, giữ lửa chánh pháp sáng,</em></blockquote><blockquote><em>2. Ca Diếp là Tổ nhất, truyền đăng vạn kiếp trường,</em></blockquote><blockquote><em>3. 30 pháp truyền đăng, 30 đèn sáng tỏ,</em></blockquote><blockquote><em>4. Một người truyền 1 pháp, vạn kiếp chánh pháp trụ.</em></blockquote><blockquote><em>5. Truyền trì kinh là đèn, đèn trì giới sáng tâm,</em></blockquote><blockquote><em>6. Truyền thuyết kinh là đèn, đèn thuyết pháp muôn phương,</em></blockquote><blockquote><em>7. Truyền cúng kinh là đèn, đèn cúng dường Tam bảo,</em></blockquote><blockquote><em>8. Truyền bảo kinh là đèn, đèn hộ pháp chánh pháp.</em></blockquote><blockquote><em>9. Truyền hành kinh là đèn, đèn hành hạnh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>10. Truyền ngộ kinh là đèn, đèn ngộ đạo bát-nhã,</em></blockquote><blockquote><em>11. Truyền ăn chay là đèn, đèn từ bi chúng sanh,</em></blockquote><blockquote><em>12. Truyền bố thí là đèn, đèn bố thí vô lượng.</em></blockquote><blockquote><em>13. Truyền trì giới là đèn, đèn giới luật thanh tịnh,</em></blockquote><blockquote><em>14. Truyền nhẫn nhục là đèn, đèn nhẫn nhục tự tại,</em></blockquote><blockquote><em>15. Truyền tinh tấn là đèn, đèn tinh tấn bất thoái,</em></blockquote><blockquote><em>16. Truyền thiền định là đèn, đèn thiền định an lạc.</em></blockquote><blockquote><em>17. Truyền trí tuệ là đèn, đèn bát-nhã thường trụ,</em></blockquote><blockquote><em>18. Truyền độ ác là đèn, đèn độ ác Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>19. Truyền phá tà là đèn, đèn phá tà chánh kiến,</em></blockquote><blockquote><em>20. Truyền xây tháp là đèn, đèn tháp miếu tâm Bồ-đề.</em></blockquote><blockquote><em>21. Truyền y kinh là đèn, đèn y kinh bất hoại,</em></blockquote><blockquote><em>22. Truyền y nghĩa là đèn, đèn y nghĩa liễu nghĩa,</em></blockquote><blockquote><em>23. Truyền y liễu là đèn, đèn y liễu thường lạc,</em></blockquote><blockquote><em>24. Truyền y trí là đèn, đèn y trí bát-nhã.</em></blockquote><blockquote><em>25. Truyền hồi hướng là đèn, đèn hồi hướng Tịnh độ,</em></blockquote><blockquote><em>26. Truyền sống đạo là đèn, đèn sống đạo Phật sống,</em></blockquote><blockquote><em>27. Truyền chết đạo là đèn, đèn chết đạo bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>28. Truyền đại bi là đèn, đèn đại bi 10 giới.</em></blockquote><blockquote><em>29. Truyền chánh pháp là đèn, đèn chánh pháp vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>30. Ca Diếp truyền đăng, Quang Minh Tối Thượng Phật.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn 30 ngọn đèn truyền đăng sáng khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Ca Diếp</strong> <strong>đứng dậy</strong>, <strong>cầm ngọn đèn đầu tiên</strong>, <strong>truyền cho A-nan</strong>, <strong>A-nan truyền cho Thương-na</strong>, <strong>đời đời không dứt</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Ca Diếp Truyền Đăng!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 30 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm truyền đăng</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe 1 pháp = 1 ngọn đèn sáng trong tâm</strong>.</li><li><strong>Trì 1 pháp = 1 kiếp chánh pháp trụ</strong>.</li><li><strong>Hành 1 pháp = vạn kiếp chánh pháp sáng</strong>.</li><li><strong>Ngộ 1 pháp = thành Tổ truyền đăng</strong>.</li><li><strong>Truyền 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp</strong>.</li><li><strong>Truyền 30 pháp = cứu cả thế giới</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường truyền 30 pháp</strong>, người ấy <strong>chính là Tổ truyền đăng</strong>, là <strong>ngọn đèn sáng giữa mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống chánh pháp bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh truyền đăng!</strong></p><p><strong>Nam mô Ca Diếp Quang Minh Tối Thượng!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 30 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Ca Diếp Thọ Ký – Truyền Đăng Vạn Kiếp&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;lời phó chúc cuối cùng cho Ca Diếp&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;thọ ký Ca Diếp làm Phật hiệu “Quang Minh Tối Thượng”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;truyền 30 pháp truyền đăng&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;giữ lửa chánh pháp vạn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp là Tổ thứ nhất&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mẹ của chánh pháp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ngọn đèn đầu tiên&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;30 pháp truyền đăng = 30 ngọn đèn, soi mạt pháp thành chánh pháp&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;khởi đầu dòng truyền thừa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biến người trì kinh thành Tổ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một người truyền đăng = vạn kiếp chánh pháp trụ”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 30: Phẩm Ca Diếp Thọ Ký – Truyền Đăng Vạn Kiếp&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi dạy hồi hướng Tịnh độ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 18 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;quỳ trước Phật&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nước mắt lưng tròng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;bạch&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngài nhập diệt rồi, ai giữ lửa chánh pháp?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai truyền kinh Niết-bàn cho đời sau?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này Ca Diếp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là mẹ của chánh pháp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con là Tổ thứ nhất!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ta thọ ký cho con: đời sau con sẽ thành Phật, hiệu “Quang Minh Tối Thượng Như Lai”.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Con sẽ truyền 30 pháp truyền đăng, giữ lửa chánh pháp vạn kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người truyền đăng – vạn kiếp chánh pháp trụ.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;truyền 30 pháp truyền đăng cho Ca Diếp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mỗi pháp một ngọn đèn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn trì giới sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thuyết kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn thuyết pháp sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Cúng dường kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn cúng dường sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bảo vệ kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn hộ pháp sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn hành hạnh sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn ngộ đạo sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn từ bi sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bố thí truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn bố thí sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì giới truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn giới luật sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhẫn nhục truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn nhẫn nhục sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tinh tấn truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn tinh tấn sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thiền định truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn thiền định sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trí tuệ truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn bát-nhã sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Độ ác truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn độ ác sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phá tà truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn phá tà sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Xây tháp truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn tháp miếu sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn y kinh sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y nghĩa truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn y nghĩa sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y liễu nghĩa truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn y liễu sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y trí truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn y trí sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hồi hướng truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn hồi hướng sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sống vì kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn sống đạo sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chết vì kinh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn chết đạo sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi niệm vì chúng sanh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn đại bi sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi hơi thở vì Niết-bàn truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn Niết-bàn sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi bước chân vì Tịnh độ truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn Tịnh độ sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi ánh mắt vì Phật tánh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn Phật tánh sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi tâm vì Pháp thân truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn Pháp thân sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi đời vì chánh pháp truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn chánh pháp sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi kiếp vì chúng sanh truyền đăng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Đèn chúng sanh sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay xoa đầu Ca Diếp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ấn ký&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“30 pháp truyền đăng này – con phải truyền đời đời.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một pháp truyền – một ngọn đèn sáng.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;30 pháp truyền – mạt pháp thành chánh pháp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người truyền 1 pháp – vạn kiếp chánh pháp trụ.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người truyền 30 pháp – 10 pháp giới sáng tỏ.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đảnh lễ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ thân bắn ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;quỳ lạy&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù thân này tan thành tro, con vẫn truyền 30 pháp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù máu chảy thành sông, con vẫn giữ lửa chánh pháp!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 30 câu – thọ ký Ca Diếp&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Ca Diếp là mẹ pháp, giữ lửa chánh pháp sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Ca Diếp là Tổ nhất, truyền đăng vạn kiếp trường,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. 30 pháp truyền đăng, 30 đèn sáng tỏ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Một người truyền 1 pháp, vạn kiếp chánh pháp trụ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Truyền trì kinh là đèn, đèn trì giới sáng tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Truyền thuyết kinh là đèn, đèn thuyết pháp muôn phương,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Truyền cúng kinh là đèn, đèn cúng dường Tam bảo,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Truyền bảo kinh là đèn, đèn hộ pháp chánh pháp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Truyền hành kinh là đèn, đèn hành hạnh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Truyền ngộ kinh là đèn, đèn ngộ đạo bát-nhã,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Truyền ăn chay là đèn, đèn từ bi chúng sanh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Truyền bố thí là đèn, đèn bố thí vô lượng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Truyền trì giới là đèn, đèn giới luật thanh tịnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Truyền nhẫn nhục là đèn, đèn nhẫn nhục tự tại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Truyền tinh tấn là đèn, đèn tinh tấn bất thoái,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Truyền thiền định là đèn, đèn thiền định an lạc.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Truyền trí tuệ là đèn, đèn bát-nhã thường trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Truyền độ ác là đèn, đèn độ ác Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Truyền phá tà là đèn, đèn phá tà chánh kiến,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Truyền xây tháp là đèn, đèn tháp miếu tâm Bồ-đề.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Truyền y kinh là đèn, đèn y kinh bất hoại,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Truyền y nghĩa là đèn, đèn y nghĩa liễu nghĩa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Truyền y liễu là đèn, đèn y liễu thường lạc,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Truyền y trí là đèn, đèn y trí bát-nhã.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Truyền hồi hướng là đèn, đèn hồi hướng Tịnh độ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Truyền sống đạo là đèn, đèn sống đạo Phật sống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Truyền chết đạo là đèn, đèn chết đạo bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Truyền đại bi là đèn, đèn đại bi 10 giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Truyền chánh pháp là đèn, đèn chánh pháp vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Ca Diếp truyền đăng, Quang Minh Tối Thượng Phật.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn 30 ngọn đèn truyền đăng sáng khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đứng dậy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cầm ngọn đèn đầu tiên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;truyền cho A-nan&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;A-nan truyền cho Thương-na&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đời đời không dứt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Ca Diếp Truyền Đăng!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn vạn kiếp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 30 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm truyền đăng&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe 1 pháp = 1 ngọn đèn sáng trong tâm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì 1 pháp = 1 kiếp chánh pháp trụ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp chánh pháp sáng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ 1 pháp = thành Tổ truyền đăng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Truyền 1 pháp = biến mạt pháp thành chánh pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Truyền 30 pháp = cứu cả thế giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường truyền 30 pháp&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Tổ truyền đăng&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ngọn đèn sáng giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống chánh pháp bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh truyền đăng!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Ca Diếp Quang Minh Tối Thượng!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7658684" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/971e8f6c-9eb2-4353-b00e-eb3f18e365d1/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d52c8f5f-1243-4bf6-8a92-42cb08093f42</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/971e8f6c-9eb2-4353-b00e-eb3f18e365d1</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:56:49 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/acb7ffa5-58b7-4c41-b06f-b0395e57a1b7_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>478</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 29</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 29</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 29 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Đại Chúng Hồi Hướng – Tịnh Độ Tự Tâm) là lời hồi hướng viên mãn:</p><p><br></p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, dạy 29 pháp hồi hướng để biến thế giới thành Tịnh độ.</p><p>Tịnh độ không ở phương khác – Tịnh độ ở tự tâm.</p><p>Mỗi hạnh lành hồi hướng = một hoa sen nở trong tâm.</p><p>29 pháp hồi hướng = 29 cánh sen, mở ra cõi Tịnh độ tự tâm.</p><p>Phẩm này biến người nghe thành Phật Tịnh độ, biến mạt pháp thành Tịnh độ, khẳng định “một niệm hồi hướng = vạn kiếp Tịnh độ”.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 29: Phẩm Đại Chúng Hồi Hướng – Tịnh Độ Tự Tâm</p><p>Sau khi truyền 4 y pháp, hư không lại sáng rực, đất rung 17 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:</p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Chúng con muốn sinh Tịnh độ, nhưng Tịnh độ ở đâu?</p><p>Làm sao hồi hướng để thành Phật?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Tịnh độ không ở phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, trong, ngoài.</p><p>Tịnh độ ở tự tâm!</p><p>Mỗi niệm lành hồi hướng – một hoa sen nở.</p><p>Mỗi hạnh lành hồi hướng – một cõi Tịnh độ hiện.</p><p>29 pháp hồi hướng này – biến tâm thành Tịnh độ, biến đời thành Phật.”</p><p><br></p><p>Phật truyền 29 pháp hồi hướng, mỗi pháp một cánh sen:</p><p><br></p><p>Nghe kinh hồi hướng → Sen nghe pháp nở.</p><p>Trì kinh hồi hướng → Sen trì giới nở.</p><p>Thuyết kinh hồi hướng → Sen thuyết pháp nở.</p><p>Cúng dường kinh hồi hướng → Sen cúng dường nở.</p><p>Bảo vệ kinh hồi hướng → Sen hộ pháp nở.</p><p>Hành kinh hồi hướng → Sen hành hạnh nở.</p><p>Ngộ kinh hồi hướng → Sen ngộ đạo nở.</p><p>Ăn chay hồi hướng → Sen từ bi nở.</p><p>Bố thí hồi hướng → Sen bố thí nở.</p><p>Trì giới hồi hướng → Sen giới luật nở.</p><p>Nhẫn nhục hồi hướng → Sen nhẫn nhục nở.</p><p>Tinh tấn hồi hướng → Sen tinh tấn nở.</p><p>Thiền định hồi hướng → Sen thiền định nở.</p><p>Trí tuệ hồi hướng → Sen bát-nhã nở.</p><p>Độ ác hồi hướng → Sen độ ác nở.</p><p>Phá tà hồi hướng → Sen phá tà nở.</p><p>Xây tháp hồi hướng → Sen tháp miếu nở.</p><p>Truyền đăng hồi hướng → Sen truyền đăng nở.</p><p>Y kinh hồi hướng → Sen y kinh nở.</p><p>Y nghĩa hồi hướng → Sen y nghĩa nở.</p><p>Y liễu nghĩa hồi hướng → Sen y liễu nở.</p><p>Y trí hồi hướng → Sen y trí nở.</p><p>Sống vì kinh hồi hướng → Sen sống đạo nở.</p><p>Chết vì kinh hồi hướng → Sen chết đạo nở.</p><p>Mỗi niệm vì chúng sanh hồi hướng → Sen đại bi nở.</p><p>Mỗi hơi thở vì Niết-bàn hồi hướng → Sen Niết-bàn nở.</p><p>Mỗi bước chân vì Tịnh độ hồi hướng → Sen Tịnh độ nở.</p><p>Mỗi ánh mắt vì Phật tánh hồi hướng → Sen Phật tánh nở.</p><p>Mỗi tâm vì Pháp thân hồi hướng → Sen Pháp thân nở.</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ tâm đại chúng:</p><p>“29 pháp hồi hướng ở trong tâm các ông!</p><p>Một pháp hồi hướng – một sen nở.</p><p>29 pháp hồi hướng – Tịnh độ hiện.</p><p>Một niệm hồi hướng – vạn kiếp Tịnh độ.</p><p>Một đời hồi hướng – thành Phật Tịnh độ.”</p><p><br></p><p>Văn Thù Sư Lợi bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao hồi hướng giữa mạt pháp?”</p><p>Phật dạy:</p><p>“Một niệm vì chúng sanh – hồi hướng.</p><p>Một câu kinh nghe – hồi hướng.</p><p>Một hạnh lành làm – hồi hướng.</p><p>Một kiếp sống vì kinh – hồi hướng.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ 29 câu – hồi hướng Tịnh độ:</p><p>1. Hồi hướng nghe kinh, sen nghe pháp nở trong tâm,</p><p>2. Hồi hướng trì kinh, sen trì giới nở tự tâm,</p><p>3. Hồi hướng thuyết kinh, sen thuyết pháp nở muôn phương,</p><p>4. Hồi hướng cúng kinh, sen cúng dường nở Tam bảo.5. Hồi hướng bảo kinh, sen hộ pháp nở chánh pháp,</p><p>6. Hồi hướng hành kinh, sen hành hạnh nở Niết-bàn,</p><p>7. Hồi hướng ngộ kinh, sen ngộ đạo nở bát-nhã,</p><p>8. Hồi hướng ăn chay, sen từ bi nở chúng sanh.9. Hồi hướng bố thí, sen bố thí nở vô lượng,</p><p>10. Hồi hướng trì giới, sen giới luật nở thanh tịnh,</p><p>11. Hồi hướng nhẫn nhục, sen nhẫn nhục nở tự tại,</p><p>12. Hồi hướng tinh tấn, sen tinh tấn nở bất thoái.13. Hồi hướng thiền định, sen thiền định nở an lạc,</p><p>14. Hồi hướng trí tuệ, sen bát-nhã nở thường trụ,</p><p>15. Hồi hướng độ ác, sen độ ác nở Tịnh độ,</p><p>16. Hồi hướng phá tà, sen phá tà nở chánh kiến.17. Hồi hướng xây tháp, sen tháp miếu nở tâm Bồ-đề,</p><p>18. Hồi hướng truyền đăng, sen truyền đăng nở vạn kiếp,</p><p>19. Hồi hướng y kinh, sen y kinh nở bất hoại,</p><p>20. Hồi hướng y nghĩa, sen y nghĩa nở liễu nghĩa.21. Hồi hướng y liễu, sen y liễu nở thường lạc,</p><p>22. Hồi hướng y trí, sen y trí nở bát-nhã,</p><p>23. Hồi hướng sống đạo, sen sống đạo nở Phật sống,</p><p>24. Hồi hướng chết đạo, sen chết đạo nở bất diệt.25. Hồi hướng mỗi niệm, sen đại bi nở 10 giới,</p><p>26. Hồi hướng mỗi hơi, sen Niết-bàn nở tự tâm,</p><p>27. Hồi hướng mỗi bước, sen Tịnh độ nở thế giới,</p><p>28. Hồi hướng mỗi mắt, sen Phật tánh nở Pháp thân,</p><p>29. Hồi hướng mỗi tâm, Tịnh độ hiện ngay trong đời.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn hoa sen Tịnh độ nở khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đồng thanh niệm:</p><p>“Nam mô Tịnh Độ Tự Tâm!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn hồi hướng!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 29 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm hồi hướng – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Nghe 1 pháp = 1 sen nở trong tâm.</p><p>Trì 1 pháp = 1 cõi Tịnh độ hiện.</p><p>Hành 1 pháp = vạn kiếp Tịnh độ.</p><p>Ngộ 1 pháp = thành Phật Tịnh độ.</p><p>Hồi hướng 1 niệm = biến mạt pháp thành Tịnh độ.</p><p>Hồi hướng 1 đời = cứu cả thế giới.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hồi hướng theo 29 pháp, người ấy chính là Phật Tịnh độ, là hoa sen nở giữa mạt pháp, là hạt giống Tịnh độ bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Tịnh độ!</p><p>Nam mô Tịnh Độ Tự Tâm!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 29 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Đại Chúng Hồi Hướng – Tịnh Độ Tự Tâm) là lời hồi hướng viên mãn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, dạy 29 pháp hồi hướng để biến thế giới thành Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tịnh độ không ở phương khác – Tịnh độ ở tự tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi hạnh lành hồi hướng = một hoa sen nở trong tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;29 pháp hồi hướng = 29 cánh sen, mở ra cõi Tịnh độ tự tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này biến người nghe thành Phật Tịnh độ, biến mạt pháp thành Tịnh độ, khẳng định “một niệm hồi hướng = vạn kiếp Tịnh độ”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 29: Phẩm Đại Chúng Hồi Hướng – Tịnh Độ Tự Tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi truyền 4 y pháp, hư không lại sáng rực, đất rung 17 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con muốn sinh Tịnh độ, nhưng Tịnh độ ở đâu?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm sao hồi hướng để thành Phật?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tịnh độ không ở phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới, trong, ngoài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tịnh độ ở tự tâm!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi niệm lành hồi hướng – một hoa sen nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi hạnh lành hồi hướng – một cõi Tịnh độ hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;29 pháp hồi hướng này – biến tâm thành Tịnh độ, biến đời thành Phật.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật truyền 29 pháp hồi hướng, mỗi pháp một cánh sen:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh hồi hướng → Sen nghe pháp nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh hồi hướng → Sen trì giới nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuyết kinh hồi hướng → Sen thuyết pháp nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường kinh hồi hướng → Sen cúng dường nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo vệ kinh hồi hướng → Sen hộ pháp nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành kinh hồi hướng → Sen hành hạnh nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ kinh hồi hướng → Sen ngộ đạo nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn chay hồi hướng → Sen từ bi nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bố thí hồi hướng → Sen bố thí nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì giới hồi hướng → Sen giới luật nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn nhục hồi hướng → Sen nhẫn nhục nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tinh tấn hồi hướng → Sen tinh tấn nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiền định hồi hướng → Sen thiền định nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí tuệ hồi hướng → Sen bát-nhã nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ ác hồi hướng → Sen độ ác nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá tà hồi hướng → Sen phá tà nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xây tháp hồi hướng → Sen tháp miếu nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Truyền đăng hồi hướng → Sen truyền đăng nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y kinh hồi hướng → Sen y kinh nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y nghĩa hồi hướng → Sen y nghĩa nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y liễu nghĩa hồi hướng → Sen y liễu nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y trí hồi hướng → Sen y trí nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống vì kinh hồi hướng → Sen sống đạo nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chết vì kinh hồi hướng → Sen chết đạo nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi niệm vì chúng sanh hồi hướng → Sen đại bi nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi hơi thở vì Niết-bàn hồi hướng → Sen Niết-bàn nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi bước chân vì Tịnh độ hồi hướng → Sen Tịnh độ nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi ánh mắt vì Phật tánh hồi hướng → Sen Phật tánh nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi tâm vì Pháp thân hồi hướng → Sen Pháp thân nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ tâm đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“29 pháp hồi hướng ở trong tâm các ông!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một pháp hồi hướng – một sen nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;29 pháp hồi hướng – Tịnh độ hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một niệm hồi hướng – vạn kiếp Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một đời hồi hướng – thành Phật Tịnh độ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao hồi hướng giữa mạt pháp?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Một niệm vì chúng sanh – hồi hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một câu kinh nghe – hồi hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một hạnh lành làm – hồi hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một kiếp sống vì kinh – hồi hướng.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 29 câu – hồi hướng Tịnh độ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Hồi hướng nghe kinh, sen nghe pháp nở trong tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Hồi hướng trì kinh, sen trì giới nở tự tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Hồi hướng thuyết kinh, sen thuyết pháp nở muôn phương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Hồi hướng cúng kinh, sen cúng dường nở Tam bảo.5. Hồi hướng bảo kinh, sen hộ pháp nở chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Hồi hướng hành kinh, sen hành hạnh nở Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Hồi hướng ngộ kinh, sen ngộ đạo nở bát-nhã,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Hồi hướng ăn chay, sen từ bi nở chúng sanh.9. Hồi hướng bố thí, sen bố thí nở vô lượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10. Hồi hướng trì giới, sen giới luật nở thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11. Hồi hướng nhẫn nhục, sen nhẫn nhục nở tự tại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12. Hồi hướng tinh tấn, sen tinh tấn nở bất thoái.13. Hồi hướng thiền định, sen thiền định nở an lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14. Hồi hướng trí tuệ, sen bát-nhã nở thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15. Hồi hướng độ ác, sen độ ác nở Tịnh độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16. Hồi hướng phá tà, sen phá tà nở chánh kiến.17. Hồi hướng xây tháp, sen tháp miếu nở tâm Bồ-đề,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18. Hồi hướng truyền đăng, sen truyền đăng nở vạn kiếp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19. Hồi hướng y kinh, sen y kinh nở bất hoại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20. Hồi hướng y nghĩa, sen y nghĩa nở liễu nghĩa.21. Hồi hướng y liễu, sen y liễu nở thường lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22. Hồi hướng y trí, sen y trí nở bát-nhã,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23. Hồi hướng sống đạo, sen sống đạo nở Phật sống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24. Hồi hướng chết đạo, sen chết đạo nở bất diệt.25. Hồi hướng mỗi niệm, sen đại bi nở 10 giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;26. Hồi hướng mỗi hơi, sen Niết-bàn nở tự tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;27. Hồi hướng mỗi bước, sen Tịnh độ nở thế giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;28. Hồi hướng mỗi mắt, sen Phật tánh nở Pháp thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;29. Hồi hướng mỗi tâm, Tịnh độ hiện ngay trong đời.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn hoa sen Tịnh độ nở khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Tịnh Độ Tự Tâm!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn hồi hướng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 29 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm hồi hướng – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe 1 pháp = 1 sen nở trong tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì 1 pháp = 1 cõi Tịnh độ hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành 1 pháp = vạn kiếp Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ 1 pháp = thành Phật Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hồi hướng 1 niệm = biến mạt pháp thành Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hồi hướng 1 đời = cứu cả thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hồi hướng theo 29 pháp, người ấy chính là Phật Tịnh độ, là hoa sen nở giữa mạt pháp, là hạt giống Tịnh độ bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Tịnh độ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Tịnh Độ Tự Tâm!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7277505" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/b62ae4c5-5bfd-42a3-8ed3-57cbb9c94dc5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">88b27bc1-9d79-4223-b277-cf9b76b72105</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/b62ae4c5-5bfd-42a3-8ed3-57cbb9c94dc5</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:54:13 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/ae6a3166-6a0a-476e-afb7-a1896d1c758d_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>454</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 28</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 28</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 28 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Tứ Y Pháp – Căn Bản Bồ-tát) là bộ luật sống cuối cùng của hành giả trì kinh:</p><p><br></p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, truyền 4 y pháp bất hoại:</p><p>Y kinh, bất y nhân;</p><p>Y nghĩa, bất y ngữ;</p><p>Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa;</p><p>Y trí, bất y thức.</p><p><br></p><p>4 y pháp = 4 cột trụ Niết-bàn, phá 28 tà kiến mạt pháp.</p><p>Ai sống theo 4 y = Bồ-tát căn bản, hộ kinh vạn kiếp.</p><p>Phẩm này là kim chỉ nam cho người trì kinh, khép lại 40 quyển bằng chánh kiến bất hoại, khẳng định “một người y kinh = một ngàn kiếp chánh pháp trụ”.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 28: Phẩm Tứ Y Pháp – Căn Bản Bồ-tát</p><p>Sau khi cấm thực nhục, hư không lại sáng rực, đất rung 16 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:</p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Mạt pháp tà sư nhiều, kinh bị hiểu sai, người trì kinh bị lừa – làm sao sống đúng?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Sau khi Ta nhập diệt, các ông phải sống theo 4 y pháp bất hoại!</p><p>4 y pháp là 4 cột trụ Niết-bàn, là căn bản của Bồ-tát.</p><p>Ai sống theo 4 y – hộ kinh vạn kiếp.</p><p>Ai phá 4 y – phá kinh Niết-bàn.”</p><p><br></p><p>Phật truyền 4 y pháp, mỗi y pháp phá 7 tà kiến (tổng 28 tà kiến):</p><p>1. Y kinh, bất y nhân</p><p>Không theo người, chỉ theo kinh.</p><p>Phá 7 tà kiến:</p><p>“Thầy nói đúng, kinh sai” → Y kinh.</p><p>“Tổ nói đúng, kinh sai” → Y kinh.</p><p>“Vua nói đúng, kinh sai” → Y kinh.</p><p>“Cha mẹ nói đúng, kinh sai” → Y kinh.</p><p>“Bạn nói đúng, kinh sai” → Y kinh.</p><p>“Sách ngoài nói đúng, kinh sai” → Y kinh.</p><p>“Tâm mình nói đúng, kinh sai” → Y kinh.</p><p><br></p><p>2. Y nghĩa, bất y ngữ</p><p>Không theo lời, chỉ theo nghĩa.</p><p>Phá 7 tà kiến:</p><p>“Lời hay, nghĩa ác” → Y nghĩa.</p><p>“Câu dài, nghĩa ngắn” → Y nghĩa.</p><p>“Kinh nói ẩn dụ, hiểu theo chữ” → Y nghĩa.</p><p>“Kinh nói phương tiện, hiểu là liễu nghĩa” → Y nghĩa.</p><p>“Kinh nói vô thường, hiểu là đoạn diệt” → Y nghĩa.</p><p>“Kinh nói từ bi, hiểu là giết hại” → Y nghĩa.</p><p>“Kinh nói ăn chay, hiểu là ăn thịt” → Y nghĩa.</p><p><br></p><p>3. Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa</p><p>Không theo kinh phương tiện, chỉ theo kinh liễu nghĩa.</p><p>Phá 7 tà kiến:</p><p>“Kinh A-hàm là liễu nghĩa” → Y Niết-bàn.</p><p>“Kinh Tiểu thừa là liễu nghĩa” → Y Đại thừa.</p><p>“Kinh nói vô thường là liễu nghĩa” → Y thường trụ.</p><p>“Kinh nói khổ là liễu nghĩa” → Y an lạc.</p><p>“Kinh nói vô ngã là liễu nghĩa” → Y đại ngã.</p><p>“Kinh nói bất tịnh là liễu nghĩa” → Y thanh tịnh.</p><p>“Kinh nói đoạn diệt là liễu nghĩa” → Y Niết-bàn.</p><p><br></p><p>4. Y trí, bất y thức</p><p>Không theo thức phân biệt, chỉ theo trí bát-nhã.</p><p>Phá 7 tà kiến:</p><p>“Tâm nghĩ đúng” → Y trí.</p><p>“Mắt thấy đúng” → Y trí.</p><p>“Tai nghe đúng” → Y trí.</p><p>“Miệng nói đúng” → Y trí.</p><p>“Ý tưởng đúng” → Y trí.</p><p>“Kinh nghiệm đúng” → Y trí.</p><p>“Lý luận đúng” → Y trí.</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:</p><p>“4 y pháp ở trong 40 quyển này!</p><p>Ai sống theo 1 y – hộ kinh 1 kiếp.</p><p>Ai sống theo 4 y – hộ kinh vạn kiếp.</p><p>Ai sống theo 4 y trong 1 ngày – 28 tà kiến tan.</p><p>Ai sống theo 4 y trong 1 đời – mạt pháp sáng tỏ.”</p><p><br></p><p>Ca Diếp bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao sống 4 y giữa mạt pháp?”</p><p>Phật dạy:</p><p>“Một niệm y kinh – 7 tà kiến tan.</p><p>Một câu kinh nghe – 4 y pháp hiện.</p><p>Một hạnh Bồ-tát – 4 y pháp vững.</p><p>Một kiếp sống vì kinh – 4 y pháp thành.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ 28 câu – Tứ Y Pháp:</p><p>1. Y kinh bất y nhân, kinh là mẹ chánh pháp,</p><p>2. Y nghĩa bất y ngữ, nghĩa là đường Niết-bàn,</p><p>3. Y liễu bất y bất, liễu là cửa thường trụ,</p><p>4. Y trí bất y thức, trí là đèn bát-nhã.5. Một người y kinh, 7 tà kiến tan ngay,</p><p>6. Một người y nghĩa, 7 ác ngữ im lặng,</p><p>7. Một người y liễu, 7 phương tiện sáng tỏ,</p><p>8. Một người y trí, 7 thức phân biệt dừng.9. 4 y là 4 cột, dựng nhà Niết-bàn vững,</p><p>10. 4 y là 4 đèn, soi đường mạt pháp sáng,</p><p>11. 4 y là 4 thuyền, đưa người qua sinh tử,</p><p>12. 4 y là 4 Phật, cứu độ 10 pháp giới.13. Ai sống theo 1 y, hộ kinh 1 kiếp trụ,</p><p>14. Ai sống theo 4 y, hộ kinh vạn kiếp sáng,</p><p>15. Mạt pháp dù đen tối, 4 y là ánh sáng,</p><p>16. Một người y 4 y, mạt pháp thành Tịnh độ.17. Ta đi, 4 y trụ, kinh truyền đạo bất diệt,</p><p>18. Ta đi, kinh còn sáng, 4 y còn hộ pháp,</p><p>19. Ta đi, chúng sanh ngộ, 4 y thành Phật sống,</p><p>20. Ta đi, Phật còn đây, trong 4 y mỗi người.21. 4 y là cha mẹ, kinh này là gia tài,</p><p>22. 4 y là anh em, chúng sanh là quyến thuộc,</p><p>23. 4 y là hộ pháp, Tam bảo được trường tồn,</p><p>24. 4 y là truyền đăng, đèn sáng không bao giờ tắt.25. Y kinh 1 ngày, gần Phật 1 kiếp,</p><p>26. Y nghĩa 1 ngày, gần Phật vạn kiếp,</p><p>27. Y liễu 1 ngày, gần Phật vô lượng kiếp,</p><p>28. Y trí 1 ngày, thành Phật ngay trong đời.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 4 y pháp tỏa sáng khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đồng thanh niệm:</p><p>“Nam mô Tứ Y Pháp Bất Hoại!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn căn bản!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 28 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Tứ Y Pháp – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Nghe 1 y = phá 7 tà kiến.</p><p>Trì 1 y = hộ kinh 1 kiếp.</p><p>Hành 1 y = gần Phật 1 kiếp.</p><p>Ngộ 1 y = thành Phật trong 1 niệm.</p><p>Sống theo 4 y = biến mạt pháp thành Tịnh độ.</p><p>Một người y 4 y = cứu cả thế giới.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường sống theo 4 y pháp, người ấy chính là Bồ-tát căn bản, là ngọn đèn chánh kiến giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Tứ Y!</p><p>Nam mô Căn Bản Bồ-tát!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 28 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Tứ Y Pháp – Căn Bản Bồ-tát) là bộ luật sống cuối cùng của hành giả trì kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, truyền 4 y pháp bất hoại:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y kinh, bất y nhân;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y nghĩa, bất y ngữ;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y trí, bất y thức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4 y pháp = 4 cột trụ Niết-bàn, phá 28 tà kiến mạt pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo 4 y = Bồ-tát căn bản, hộ kinh vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này là kim chỉ nam cho người trì kinh, khép lại 40 quyển bằng chánh kiến bất hoại, khẳng định “một người y kinh = một ngàn kiếp chánh pháp trụ”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 28: Phẩm Tứ Y Pháp – Căn Bản Bồ-tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi cấm thực nhục, hư không lại sáng rực, đất rung 16 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mạt pháp tà sư nhiều, kinh bị hiểu sai, người trì kinh bị lừa – làm sao sống đúng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Ta nhập diệt, các ông phải sống theo 4 y pháp bất hoại!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4 y pháp là 4 cột trụ Niết-bàn, là căn bản của Bồ-tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo 4 y – hộ kinh vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai phá 4 y – phá kinh Niết-bàn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật truyền 4 y pháp, mỗi y pháp phá 7 tà kiến (tổng 28 tà kiến):&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Y kinh, bất y nhân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không theo người, chỉ theo kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá 7 tà kiến:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thầy nói đúng, kinh sai” → Y kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tổ nói đúng, kinh sai” → Y kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Vua nói đúng, kinh sai” → Y kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Cha mẹ nói đúng, kinh sai” → Y kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạn nói đúng, kinh sai” → Y kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Sách ngoài nói đúng, kinh sai” → Y kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tâm mình nói đúng, kinh sai” → Y kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Y nghĩa, bất y ngữ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không theo lời, chỉ theo nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá 7 tà kiến:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lời hay, nghĩa ác” → Y nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Câu dài, nghĩa ngắn” → Y nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói ẩn dụ, hiểu theo chữ” → Y nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói phương tiện, hiểu là liễu nghĩa” → Y nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói vô thường, hiểu là đoạn diệt” → Y nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói từ bi, hiểu là giết hại” → Y nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói ăn chay, hiểu là ăn thịt” → Y nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Y liễu nghĩa, bất y bất liễu nghĩa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không theo kinh phương tiện, chỉ theo kinh liễu nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá 7 tà kiến:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh A-hàm là liễu nghĩa” → Y Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh Tiểu thừa là liễu nghĩa” → Y Đại thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói vô thường là liễu nghĩa” → Y thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói khổ là liễu nghĩa” → Y an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói vô ngã là liễu nghĩa” → Y đại ngã.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói bất tịnh là liễu nghĩa” → Y thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nói đoạn diệt là liễu nghĩa” → Y Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Y trí, bất y thức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không theo thức phân biệt, chỉ theo trí bát-nhã.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá 7 tà kiến:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tâm nghĩ đúng” → Y trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Mắt thấy đúng” → Y trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tai nghe đúng” → Y trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Miệng nói đúng” → Y trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Ý tưởng đúng” → Y trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh nghiệm đúng” → Y trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lý luận đúng” → Y trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“4 y pháp ở trong 40 quyển này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo 1 y – hộ kinh 1 kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo 4 y – hộ kinh vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo 4 y trong 1 ngày – 28 tà kiến tan.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo 4 y trong 1 đời – mạt pháp sáng tỏ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao sống 4 y giữa mạt pháp?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Một niệm y kinh – 7 tà kiến tan.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một câu kinh nghe – 4 y pháp hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một hạnh Bồ-tát – 4 y pháp vững.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một kiếp sống vì kinh – 4 y pháp thành.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 28 câu – Tứ Y Pháp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Y kinh bất y nhân, kinh là mẹ chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Y nghĩa bất y ngữ, nghĩa là đường Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Y liễu bất y bất, liễu là cửa thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Y trí bất y thức, trí là đèn bát-nhã.5. Một người y kinh, 7 tà kiến tan ngay,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Một người y nghĩa, 7 ác ngữ im lặng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Một người y liễu, 7 phương tiện sáng tỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Một người y trí, 7 thức phân biệt dừng.9. 4 y là 4 cột, dựng nhà Niết-bàn vững,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10. 4 y là 4 đèn, soi đường mạt pháp sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11. 4 y là 4 thuyền, đưa người qua sinh tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12. 4 y là 4 Phật, cứu độ 10 pháp giới.13. Ai sống theo 1 y, hộ kinh 1 kiếp trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14. Ai sống theo 4 y, hộ kinh vạn kiếp sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15. Mạt pháp dù đen tối, 4 y là ánh sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16. Một người y 4 y, mạt pháp thành Tịnh độ.17. Ta đi, 4 y trụ, kinh truyền đạo bất diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18. Ta đi, kinh còn sáng, 4 y còn hộ pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19. Ta đi, chúng sanh ngộ, 4 y thành Phật sống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20. Ta đi, Phật còn đây, trong 4 y mỗi người.21. 4 y là cha mẹ, kinh này là gia tài,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22. 4 y là anh em, chúng sanh là quyến thuộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23. 4 y là hộ pháp, Tam bảo được trường tồn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24. 4 y là truyền đăng, đèn sáng không bao giờ tắt.25. Y kinh 1 ngày, gần Phật 1 kiếp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;26. Y nghĩa 1 ngày, gần Phật vạn kiếp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;27. Y liễu 1 ngày, gần Phật vô lượng kiếp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;28. Y trí 1 ngày, thành Phật ngay trong đời.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn 4 y pháp tỏa sáng khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Tứ Y Pháp Bất Hoại!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn căn bản!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 28 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Tứ Y Pháp – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe 1 y = phá 7 tà kiến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì 1 y = hộ kinh 1 kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành 1 y = gần Phật 1 kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ 1 y = thành Phật trong 1 niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống theo 4 y = biến mạt pháp thành Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người y 4 y = cứu cả thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường sống theo 4 y pháp, người ấy chính là Bồ-tát căn bản, là ngọn đèn chánh kiến giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Tứ Y!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Căn Bản Bồ-tát!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7642383" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/8c6015a5-6041-4da5-b1e7-057c931623ed/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">a7973bda-58ee-4d53-87ef-04f26c24e463</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/8c6015a5-6041-4da5-b1e7-057c931623ed</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:48:49 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/f579f6d3-984d-452b-9730-4b19bbff84d9_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>477</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 27</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 27</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 27 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Phạm Hạnh – Cấm Thực Nhục</strong>) là <strong>lời cấm tuyệt đối cuối cùng</strong> về <strong>ăn thịt</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>dùng 27 thí dụ</strong> (sữa thành bơ, vàng trong quặng, thịt nuôi ác…) để <strong>phá 27 lý do ăn thịt</strong>.</li><li><strong>Ăn thịt = dứt giống từ bi, nuôi lớn ác nghiệp, xa rời Phật tánh</strong>.</li><li><strong>Người trì kinh Niết-bàn phải ăn chay tuyệt đối</strong>.</li><li><strong>Một người ăn chay = cứu ngàn mạng, hộ trì kinh pháp</strong>. Phẩm này <strong>dẹp tan mọi ngụy biện “ba thứ tịnh nhục”</strong>, <strong>khôi phục đại từ bi</strong>, <strong>khẳng định “ăn chay là giới đầu tiên của Bồ-tát”</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 27: Phẩm Phạm Hạnh – Cấm Thực Nhục</h3><p><strong>Sau khi truyền Bồ-tát hạnh</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 15 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đại chúng</strong> <strong>đồng quỳ lạy</strong>, <strong>đồng thanh hỏi</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Có người nói: ‘Phật cho phép ăn ba thứ tịnh nhục’ – có đúng không?</strong></blockquote><blockquote><strong>Làm sao trì kinh Niết-bàn mà không ăn thịt?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này đại chúng!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ta chưa từng cho phép ăn thịt!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ăn thịt = dứt giống từ bi, nuôi lớn ác nghiệp, xa rời Phật tánh.</strong></blockquote><blockquote><strong>Người trì kinh Niết-bàn phải ăn chay tuyệt đối!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ăn chay là giới đầu tiên của Bồ-tát, là nền tảng của Phạm hạnh.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người ăn chay – cứu ngàn mạng, hộ trì kinh pháp.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>phá 27 lý do ăn thịt</strong>, <strong>mỗi lý do một thí dụ</strong>:</p><ol><li><strong>Lý do: “Không thấy giết”</strong> → <strong>Thí dụ: “Sữa thành bơ, không thấy bò – nhưng vẫn từ bò.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Không nghe kêu”</strong> → <strong>Thí dụ: “Vàng trong quặng, không nghe tiếng – nhưng vẫn từ quặng.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Không nghi giết”</strong> → <strong>Thí dụ: “Lửa trong củi, không nghi đốt – nhưng vẫn cháy.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt tự chết”</strong> → <strong>Thí dụ: “Nước tự khô, không ai đổ – nhưng vẫn mất.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt từ chợ”</strong> → <strong>Thí dụ: “Độc từ tay người, không tự sinh – nhưng vẫn giết.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt sạch sẽ”</strong> → <strong>Thí dụ: “Phân thơm chiên-đàn, không dơ – nhưng vẫn phân.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt nuôi thân”</strong> → <strong>Thí dụ: “Thuốc độc nuôi bệnh, không chết – nhưng vẫn hại.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt tăng sức”</strong> → <strong>Thí dụ: “Rượu tăng hứng, không say – nhưng vẫn loạn.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt là thức ăn”</strong> → <strong>Thí dụ: “Cỏ là thức ăn trâu, không thịt – nhưng trâu khỏe.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Phật không cấm”</strong> → <strong>Thí dụ: “Phật không cấm lửa, nhưng lửa vẫn đốt.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Tổ ăn thịt”</strong> → <strong>Thí dụ: “Tổ uống nước, nhưng nước không phải rượu.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Kinh nói tịnh nhục”</strong> → <strong>Thí dụ: “Kinh nói phương tiện, không phải liễu nghĩa.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không tội”</strong> → <strong>Thí dụ: “Dao không tội, nhưng cầm dao giết thì có tội.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không nhân”</strong> → <strong>Thí dụ: “Quả không nhân, nhưng cây vẫn sinh.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không quả”</strong> → <strong>Thí dụ: “Hạt không quả, nhưng gieo vẫn mọc.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không duyên”</strong> → <strong>Thí dụ: “Mây không duyên, nhưng mưa vẫn rơi.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không nghiệp”</strong> → <strong>Thí dụ: “Gương không nghiệp, nhưng soi ác vẫn ác.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không báo”</strong> → <strong>Thí dụ: “Hạt không báo, nhưng gieo ác vẫn khổ.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không khổ”</strong> → <strong>Thí dụ: “Dao không khổ, nhưng cắt vẫn đau.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không ái”</strong> → <strong>Thí dụ: “Lửa không ái, nhưng đốt vẫn cháy.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không ngã”</strong> → <strong>Thí dụ: “Sóng không ngã, nhưng nước vẫn ướt.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không tịnh”</strong> → <strong>Thí dụ: “Bùn không tịnh, nhưng sen vẫn sạch.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không thường”</strong> → <strong>Thí dụ: “Mây không thường, nhưng trời vẫn xanh.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không lạc”</strong> → <strong>Thí dụ: “Độc không lạc, nhưng chết vẫn khổ.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không phải ác”</strong> → <strong>Thí dụ: “Rắn không ác, nhưng cắn vẫn chết.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt không phải thiện”</strong> → <strong>Thí dụ: “Cỏ không thiện, nhưng trâu vẫn sống.”</strong></li><li><strong>Lý do: “Thịt là trung đạo”</strong> → <strong>Thí dụ: “Độc không trung đạo, nhưng vẫn hại thân.”</strong></li></ol><p>Phật <strong>đưa tay chỉ kinh Niết-bàn</strong>:</p><blockquote><strong>“27 thí dụ này ở trong 40 quyển này!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai ăn thịt – xa kinh Niết-bàn.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai ăn chay – gần kinh Niết-bàn.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai ăn chay 1 ngày – cứu 1 mạng.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai ăn chay 1 đời – cứu ngàn mạng.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai ăn chay vạn kiếp – cứu 10 pháp giới.</strong>”</blockquote><p><strong>Ca Diếp</strong> bạch:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Làm sao giữ giới ăn chay giữa mạt pháp?</strong>”</blockquote><p>Phật dạy:</p><blockquote><strong>“Một niệm từ bi – giữ giới ăn chay.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một câu kinh nghe – giữ giới ăn chay.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một người độ được – giữ giới ăn chay.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một kiếp sống vì kinh – giữ giới ăn chay.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 27 câu – cấm thực nhục</strong>:</p><blockquote><em>1. Ăn thịt dứt từ bi, xa rời Phật tánh thanh,</em></blockquote><blockquote><em>2. Ăn chay nuôi từ bi, gần gũi Phật tánh sáng,</em></blockquote><blockquote><em>3. Thịt là ác nghiệp nhân, chay là thiện căn quả,</em></blockquote><blockquote><em>4. Thịt là địa ngục môn, chay là Niết-bàn cửa.</em></blockquote><blockquote><em>5. Một người ăn chay, cứu ngàn mạng chúng sanh,</em></blockquote><blockquote><em>6. Một người ăn thịt, hại ngàn kiếp luân hồi,</em></blockquote><blockquote><em>7. Thịt là độc dược ngọt, chay là cam lồ mát,</em></blockquote><blockquote><em>8. Thịt là lửa tham sân, chay là nước trí tuệ.</em></blockquote><blockquote><em>9. Ai trì kinh Niết-bàn, phải ăn chay tuyệt đối,</em></blockquote><blockquote><em>10. Ai phá giới ăn thịt, xa kinh Niết-bàn xa,</em></blockquote><blockquote><em>11. Ăn chay là Phạm hạnh, ăn thịt là ma hạnh,</em></blockquote><blockquote><em>12. Ăn chay là Bồ-tát, ăn thịt là phàm phu.</em></blockquote><blockquote><em>13. Mạt pháp dù đen tối, một người ăn chay sáng,</em></blockquote><blockquote><em>14. Một người ăn chay là đèn, soi đường cho muôn đời,</em></blockquote><blockquote><em>15. Một người ăn chay là thuyền, đưa người qua sinh tử,</em></blockquote><blockquote><em>16. Một người ăn chay là Phật, cứu độ 10 pháp giới.</em></blockquote><blockquote><em>17. Ta đi, giới còn trụ, ăn chay không bao giờ tắt,</em></blockquote><blockquote><em>18. Ta đi, kinh còn sáng, ăn chay còn hộ pháp,</em></blockquote><blockquote><em>19. Ta đi, chúng sanh ngộ, ăn chay thành Phật sống,</em></blockquote><blockquote><em>20. Ta đi, Phật còn đây, trong miếng cơm chay ăn.</em></blockquote><blockquote><em>21. Ăn chay là mẹ hiền, nuôi lớn Phật tánh con,</em></blockquote><blockquote><em>22. Ăn thịt là ma vương, giết chết từ bi tâm,</em></blockquote><blockquote><em>23. Ăn chay là hộ pháp, Tam bảo được trường tồn,</em></blockquote><blockquote><em>24. Ăn thịt là phá pháp, Tam bảo bị tổn hại.</em></blockquote><blockquote><em>25. Ăn chay 1 ngày, gần Phật 1 kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>26. Ăn chay 1 đời, gần Phật vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>27. Ăn chay vạn kiếp, thành Phật ngay trong đời.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn hương giới ăn chay lan khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Phạm Hạnh Ăn Chay!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn cấm nhục!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 27 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm Phạm hạnh</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nghe một thí dụ = phá một lý do ăn thịt</strong>.</li><li><strong>Trì một câu kinh = cứu một mạng chúng sanh</strong>.</li><li><strong>Ăn chay 1 ngày = gần Phật 1 kiếp</strong>.</li><li><strong>Ăn chay 1 đời = gần Phật vạn kiếp</strong>.</li><li><strong>Ăn chay vạn kiếp = thành Phật ngay trong đời</strong>.</li><li><strong>Một người ăn chay = hộ trì kinh pháp ngàn kiếp</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường ăn chay theo phẩm này</strong>, người ấy <strong>chính là Bồ-tát Phạm hạnh</strong>, là <strong>ngọn đèn từ bi giữa mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống Niết-bàn bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Phạm hạnh!</strong></p><p><strong>Nam mô Cấm Thực Nhục Tuyệt Đối!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 27 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Phạm Hạnh – Cấm Thực Nhục&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;lời cấm tuyệt đối cuối cùng&lt;/strong&gt; về &lt;strong&gt;ăn thịt&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;dùng 27 thí dụ&lt;/strong&gt; (sữa thành bơ, vàng trong quặng, thịt nuôi ác…) để &lt;strong&gt;phá 27 lý do ăn thịt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn thịt = dứt giống từ bi, nuôi lớn ác nghiệp, xa rời Phật tánh&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Người trì kinh Niết-bàn phải ăn chay tuyệt đối&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Một người ăn chay = cứu ngàn mạng, hộ trì kinh pháp&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;dẹp tan mọi ngụy biện “ba thứ tịnh nhục”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khôi phục đại từ bi&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “ăn chay là giới đầu tiên của Bồ-tát”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 27: Phẩm Phạm Hạnh – Cấm Thực Nhục&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi truyền Bồ-tát hạnh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 15 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đại chúng&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đồng quỳ lạy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đồng thanh hỏi&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Có người nói: ‘Phật cho phép ăn ba thứ tịnh nhục’ – có đúng không?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Làm sao trì kinh Niết-bàn mà không ăn thịt?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này đại chúng!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ta chưa từng cho phép ăn thịt!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ăn thịt = dứt giống từ bi, nuôi lớn ác nghiệp, xa rời Phật tánh.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Người trì kinh Niết-bàn phải ăn chay tuyệt đối!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay là giới đầu tiên của Bồ-tát, là nền tảng của Phạm hạnh.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người ăn chay – cứu ngàn mạng, hộ trì kinh pháp.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;phá 27 lý do ăn thịt&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mỗi lý do một thí dụ&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Không thấy giết”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Sữa thành bơ, không thấy bò – nhưng vẫn từ bò.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Không nghe kêu”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Vàng trong quặng, không nghe tiếng – nhưng vẫn từ quặng.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Không nghi giết”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Lửa trong củi, không nghi đốt – nhưng vẫn cháy.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt tự chết”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Nước tự khô, không ai đổ – nhưng vẫn mất.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt từ chợ”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Độc từ tay người, không tự sinh – nhưng vẫn giết.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt sạch sẽ”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Phân thơm chiên-đàn, không dơ – nhưng vẫn phân.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt nuôi thân”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Thuốc độc nuôi bệnh, không chết – nhưng vẫn hại.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt tăng sức”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Rượu tăng hứng, không say – nhưng vẫn loạn.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt là thức ăn”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Cỏ là thức ăn trâu, không thịt – nhưng trâu khỏe.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Phật không cấm”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Phật không cấm lửa, nhưng lửa vẫn đốt.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Tổ ăn thịt”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Tổ uống nước, nhưng nước không phải rượu.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Kinh nói tịnh nhục”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Kinh nói phương tiện, không phải liễu nghĩa.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không tội”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Dao không tội, nhưng cầm dao giết thì có tội.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không nhân”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Quả không nhân, nhưng cây vẫn sinh.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không quả”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Hạt không quả, nhưng gieo vẫn mọc.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không duyên”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Mây không duyên, nhưng mưa vẫn rơi.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không nghiệp”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Gương không nghiệp, nhưng soi ác vẫn ác.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không báo”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Hạt không báo, nhưng gieo ác vẫn khổ.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không khổ”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Dao không khổ, nhưng cắt vẫn đau.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không ái”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Lửa không ái, nhưng đốt vẫn cháy.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không ngã”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Sóng không ngã, nhưng nước vẫn ướt.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không tịnh”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Bùn không tịnh, nhưng sen vẫn sạch.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không thường”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Mây không thường, nhưng trời vẫn xanh.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không lạc”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Độc không lạc, nhưng chết vẫn khổ.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không phải ác”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Rắn không ác, nhưng cắn vẫn chết.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt không phải thiện”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Cỏ không thiện, nhưng trâu vẫn sống.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do: “Thịt là trung đạo”&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Thí dụ: “Độc không trung đạo, nhưng vẫn hại thân.”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay chỉ kinh Niết-bàn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“27 thí dụ này ở trong 40 quyển này!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai ăn thịt – xa kinh Niết-bàn.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai ăn chay – gần kinh Niết-bàn.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai ăn chay 1 ngày – cứu 1 mạng.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai ăn chay 1 đời – cứu ngàn mạng.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai ăn chay vạn kiếp – cứu 10 pháp giới.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp&lt;/strong&gt; bạch:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Làm sao giữ giới ăn chay giữa mạt pháp?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Một niệm từ bi – giữ giới ăn chay.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một câu kinh nghe – giữ giới ăn chay.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một người độ được – giữ giới ăn chay.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một kiếp sống vì kinh – giữ giới ăn chay.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 27 câu – cấm thực nhục&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Ăn thịt dứt từ bi, xa rời Phật tánh thanh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Ăn chay nuôi từ bi, gần gũi Phật tánh sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. Thịt là ác nghiệp nhân, chay là thiện căn quả,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Thịt là địa ngục môn, chay là Niết-bàn cửa.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Một người ăn chay, cứu ngàn mạng chúng sanh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Một người ăn thịt, hại ngàn kiếp luân hồi,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Thịt là độc dược ngọt, chay là cam lồ mát,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Thịt là lửa tham sân, chay là nước trí tuệ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Ai trì kinh Niết-bàn, phải ăn chay tuyệt đối,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Ai phá giới ăn thịt, xa kinh Niết-bàn xa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Ăn chay là Phạm hạnh, ăn thịt là ma hạnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Ăn chay là Bồ-tát, ăn thịt là phàm phu.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Mạt pháp dù đen tối, một người ăn chay sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Một người ăn chay là đèn, soi đường cho muôn đời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Một người ăn chay là thuyền, đưa người qua sinh tử,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Một người ăn chay là Phật, cứu độ 10 pháp giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Ta đi, giới còn trụ, ăn chay không bao giờ tắt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Ta đi, kinh còn sáng, ăn chay còn hộ pháp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Ta đi, chúng sanh ngộ, ăn chay thành Phật sống,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Ta đi, Phật còn đây, trong miếng cơm chay ăn.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Ăn chay là mẹ hiền, nuôi lớn Phật tánh con,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Ăn thịt là ma vương, giết chết từ bi tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Ăn chay là hộ pháp, Tam bảo được trường tồn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Ăn thịt là phá pháp, Tam bảo bị tổn hại.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Ăn chay 1 ngày, gần Phật 1 kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Ăn chay 1 đời, gần Phật vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Ăn chay vạn kiếp, thành Phật ngay trong đời.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn hương giới ăn chay lan khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Phạm Hạnh Ăn Chay!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn cấm nhục!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 27 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm Phạm hạnh&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe một thí dụ = phá một lý do ăn thịt&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì một câu kinh = cứu một mạng chúng sanh&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay 1 ngày = gần Phật 1 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay 1 đời = gần Phật vạn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ăn chay vạn kiếp = thành Phật ngay trong đời&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Một người ăn chay = hộ trì kinh pháp ngàn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường ăn chay theo phẩm này&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Bồ-tát Phạm hạnh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ngọn đèn từ bi giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống Niết-bàn bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Phạm hạnh!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Cấm Thực Nhục Tuyệt Đối!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8199523" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/f000b888-3409-42a0-ab8a-78072a4e9bbc/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">a14f8a93-8af7-406c-8438-c717bd75c2c5</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/f000b888-3409-42a0-ab8a-78072a4e9bbc</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:41:14 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/956cba45-cc02-4348-a111-1646430c918b_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>512</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 26</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 26</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 26 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Bồ Tát Hạnh – Hộ Pháp Mạt Pháp) là lời phó chúc cho Bồ-tát:</p><p><br></p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, truyền 10 hạnh Bồ-tát để hộ trì kinh Niết-bàn giữa mạt pháp.</p><p>10 hạnh: trì kinh, thuyết kinh, cúng dường kinh, bảo vệ kinh, hành kinh, ngộ kinh, độ ác, phá tà, xây tháp, truyền đăng.</p><p>Một Bồ-tát trì kinh = ngàn kiếp hộ pháp.</p><p>Kinh Niết-bàn là mẹ, Bồ-tát là con, chúng sanh là anh em.</p><p>Phẩm này biến người nghe thành Bồ-tát, biến đời mạt pháp thành Tịnh độ, khẳng định “một người hành Bồ-tát hạnh = cứu cả thế giới”.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 26: Phẩm Bồ Tát Hạnh – Hộ Pháp Mạt Pháp</p><p>Sau tiếng sư tử hống, hư không lại sáng rực, đất rung 14 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:</p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Mạt pháp sắp đến, kinh Niết-bàn bị phá, người trì kinh bị hại – làm sao chúng con hộ pháp?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Sau khi Ta nhập diệt, các ông phải làm Bồ-tát!</p><p>Bồ-tát hạnh là 10 hạnh hộ pháp.</p><p>Một người hành 10 hạnh – ngàn kiếp hộ pháp.</p><p>Một người hành 1 hạnh – vạn kiếp hộ pháp.</p><p>Kinh Niết-bàn là mẹ, Bồ-tát là con, chúng sanh là anh em.</p><p>Hộ kinh là hộ mẹ, hộ chúng sanh là hộ anh em.”</p><p><br></p><p>Phật truyền 10 hạnh Bồ-tát:</p><p><br></p><p>Trì kinh hạnh – giữ 40 quyển trong tâm, không để một câu rơi.</p><p>Thuyết kinh hạnh – nói kinh cho 1 người, 10 người, 10 pháp giới.</p><p>Cúng dường kinh hạnh – dâng hoa, đèn, hương, cơm, áo cho kinh.</p><p>Bảo vệ kinh hạnh – dùng thân mạng che chở, không để người phá.</p><p>Hành kinh hạnh – sống theo tứ y pháp, 4 tướng viên mãn.</p><p>Ngộ kinh hạnh – thấy Phật tánh, thấy Pháp thân trong từng câu.</p><p>Độ ác hạnh – vào thành ác, địa ngục, nói kinh cho người ác.</p><p>Phá tà hạnh – dùng 25 tiếng hống, phá 25 tà kiến mạt pháp.</p><p>Xây tháp hạnh – xây tháp kinh, tháp xá-lợi, tháp tâm Bồ-đề.</p><p>Truyền đăng hạnh – truyền kinh cho đời sau, đời đời không dứt.</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:</p><p>“10 hạnh này ở trong 40 quyển này!</p><p>Ai hành 1 hạnh – là Bồ-tát.</p><p>Ai hành 10 hạnh – là Phật sống.</p><p>Ai hành 1 hạnh trong 1 ngày – ngàn kiếp hộ pháp.</p><p>Ai hành 10 hạnh trong 1 đời – vạn kiếp hộ pháp.”</p><p><br></p><p>Văn Thù Sư Lợi bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao hành 10 hạnh giữa mạt pháp?”</p><p>Phật dạy:</p><p>“Một niệm từ bi – hành 10 hạnh.</p><p>Một câu kinh nghe – hành 10 hạnh.</p><p>Một người độ được – hành 10 hạnh.</p><p>Một kiếp sống vì kinh – hành 10 hạnh.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ 26 câu – phó chúc Bồ-tát:</p><p>1. Bồ-tát hành trì kinh, mẹ Niết-bàn được hộ,</p><p>2. Bồ-tát hành thuyết kinh, anh em được nghe pháp,</p><p>3. Bồ-tát hành cúng kinh, Tam bảo được cung kính,</p><p>4. Bồ-tát hành bảo kinh, chánh pháp được trường tồn.5. Bồ-tát hành kinh nghĩa, 4 tướng được viên mãn,</p><p>6. Bồ-tát hành ngộ kinh, Phật tánh được hiển lộ,</p><p>7. Bồ-tát hành độ ác, địa ngục thành Tịnh độ,</p><p>8. Bồ-tát hành phá tà, mạt pháp thành chánh pháp.9. Bồ-tát hành xây tháp, tháp tâm được dựng vững,</p><p>10. Bồ-tát hành truyền đăng, đèn pháp không bao giờ tắt,</p><p>11. Một người hành 1 hạnh, ngàn kiếp hộ pháp trụ,</p><p>12. Một người hành 10 hạnh, vạn kiếp hộ pháp sáng.13. Mạt pháp dù đen tối, một Bồ-tát là sáng,</p><p>14. Một Bồ-tát là đèn, soi đường cho muôn đời,</p><p>15. Một Bồ-tát là thuyền, đưa người qua sinh tử,</p><p>16. Một Bồ-tát là Phật, cứu độ 10 pháp giới.17. Ta đi, Bồ-tát trụ, kinh truyền đạo bất diệt,</p><p>18. Ta đi, kinh còn sáng, Bồ-tát còn hộ pháp,</p><p>19. Ta đi, chúng sanh ngộ, Bồ-tát thành Phật sống,</p><p>20. Ta đi, Phật còn đây, trong hạnh mỗi Bồ-tát.21. Bồ-tát là con mẹ, kinh này là mẹ hiền,</p><p>22. Bồ-tát là anh em, chúng sanh là gia tộc,</p><p>23. Bồ-tát là hộ pháp, Tam bảo là gia tài,</p><p>24. Bồ-tát là truyền đăng, đèn sáng không bao giờ tắt.25. Hành 10 hạnh Bồ-tát, mạt pháp thành Tịnh độ,</p><p>26. Hành 10 hạnh Bồ-tát, thế giới thành Niết-bàn.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng Bồ-tát hạnh vang khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đồng thanh niệm:</p><p>“Nam mô Bồ Tát Hạnh Hộ Pháp!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn mạt pháp!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 26 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Bồ-tát hạnh – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Nghe một hạnh = ngàn kiếp hộ pháp.</p><p>Trì một hạnh = vạn kiếp hộ pháp.</p><p>Hành một hạnh = vô lượng kiếp hộ pháp.</p><p>Ngộ một hạnh = 10 pháp giới hộ pháp.</p><p>Một người hành 10 hạnh = biến mạt pháp thành Tịnh độ.</p><p>Một người hành 1 hạnh = cứu cả thế giới.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hành 10 hạnh Bồ-tát, người ấy chính là Bồ-tát hộ pháp, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Bồ-tát hạnh!</p><p>Nam mô Hộ Pháp Mạt Pháp!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 26 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Bồ Tát Hạnh – Hộ Pháp Mạt Pháp) là lời phó chúc cho Bồ-tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, truyền 10 hạnh Bồ-tát để hộ trì kinh Niết-bàn giữa mạt pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 hạnh: trì kinh, thuyết kinh, cúng dường kinh, bảo vệ kinh, hành kinh, ngộ kinh, độ ác, phá tà, xây tháp, truyền đăng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một Bồ-tát trì kinh = ngàn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn là mẹ, Bồ-tát là con, chúng sanh là anh em.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này biến người nghe thành Bồ-tát, biến đời mạt pháp thành Tịnh độ, khẳng định “một người hành Bồ-tát hạnh = cứu cả thế giới”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 26: Phẩm Bồ Tát Hạnh – Hộ Pháp Mạt Pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau tiếng sư tử hống, hư không lại sáng rực, đất rung 14 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mạt pháp sắp đến, kinh Niết-bàn bị phá, người trì kinh bị hại – làm sao chúng con hộ pháp?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Ta nhập diệt, các ông phải làm Bồ-tát!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ-tát hạnh là 10 hạnh hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người hành 10 hạnh – ngàn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người hành 1 hạnh – vạn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn là mẹ, Bồ-tát là con, chúng sanh là anh em.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ kinh là hộ mẹ, hộ chúng sanh là hộ anh em.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật truyền 10 hạnh Bồ-tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh hạnh – giữ 40 quyển trong tâm, không để một câu rơi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuyết kinh hạnh – nói kinh cho 1 người, 10 người, 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường kinh hạnh – dâng hoa, đèn, hương, cơm, áo cho kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo vệ kinh hạnh – dùng thân mạng che chở, không để người phá.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành kinh hạnh – sống theo tứ y pháp, 4 tướng viên mãn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ kinh hạnh – thấy Phật tánh, thấy Pháp thân trong từng câu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ ác hạnh – vào thành ác, địa ngục, nói kinh cho người ác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá tà hạnh – dùng 25 tiếng hống, phá 25 tà kiến mạt pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xây tháp hạnh – xây tháp kinh, tháp xá-lợi, tháp tâm Bồ-đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Truyền đăng hạnh – truyền kinh cho đời sau, đời đời không dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“10 hạnh này ở trong 40 quyển này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hành 1 hạnh – là Bồ-tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hành 10 hạnh – là Phật sống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hành 1 hạnh trong 1 ngày – ngàn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hành 10 hạnh trong 1 đời – vạn kiếp hộ pháp.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao hành 10 hạnh giữa mạt pháp?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Một niệm từ bi – hành 10 hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một câu kinh nghe – hành 10 hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người độ được – hành 10 hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một kiếp sống vì kinh – hành 10 hạnh.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 26 câu – phó chúc Bồ-tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Bồ-tát hành trì kinh, mẹ Niết-bàn được hộ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Bồ-tát hành thuyết kinh, anh em được nghe pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Bồ-tát hành cúng kinh, Tam bảo được cung kính,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Bồ-tát hành bảo kinh, chánh pháp được trường tồn.5. Bồ-tát hành kinh nghĩa, 4 tướng được viên mãn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Bồ-tát hành ngộ kinh, Phật tánh được hiển lộ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Bồ-tát hành độ ác, địa ngục thành Tịnh độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Bồ-tát hành phá tà, mạt pháp thành chánh pháp.9. Bồ-tát hành xây tháp, tháp tâm được dựng vững,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10. Bồ-tát hành truyền đăng, đèn pháp không bao giờ tắt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11. Một người hành 1 hạnh, ngàn kiếp hộ pháp trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12. Một người hành 10 hạnh, vạn kiếp hộ pháp sáng.13. Mạt pháp dù đen tối, một Bồ-tát là sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14. Một Bồ-tát là đèn, soi đường cho muôn đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15. Một Bồ-tát là thuyền, đưa người qua sinh tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16. Một Bồ-tát là Phật, cứu độ 10 pháp giới.17. Ta đi, Bồ-tát trụ, kinh truyền đạo bất diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18. Ta đi, kinh còn sáng, Bồ-tát còn hộ pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19. Ta đi, chúng sanh ngộ, Bồ-tát thành Phật sống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20. Ta đi, Phật còn đây, trong hạnh mỗi Bồ-tát.21. Bồ-tát là con mẹ, kinh này là mẹ hiền,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22. Bồ-tát là anh em, chúng sanh là gia tộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23. Bồ-tát là hộ pháp, Tam bảo là gia tài,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24. Bồ-tát là truyền đăng, đèn sáng không bao giờ tắt.25. Hành 10 hạnh Bồ-tát, mạt pháp thành Tịnh độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;26. Hành 10 hạnh Bồ-tát, thế giới thành Niết-bàn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng Bồ-tát hạnh vang khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Bồ Tát Hạnh Hộ Pháp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn mạt pháp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 26 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Bồ-tát hạnh – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe một hạnh = ngàn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì một hạnh = vạn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành một hạnh = vô lượng kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ một hạnh = 10 pháp giới hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người hành 10 hạnh = biến mạt pháp thành Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người hành 1 hạnh = cứu cả thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hành 10 hạnh Bồ-tát, người ấy chính là Bồ-tát hộ pháp, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Bồ-tát hạnh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Hộ Pháp Mạt Pháp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6375131" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/95a5cfb0-d26c-46dc-998d-ea4d51b64408/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">0395a322-211c-483a-a2e4-8e8d9cf6ca4c</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/95a5cfb0-d26c-46dc-998d-ea4d51b64408</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:37:36 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/9257fdee-0268-4856-9537-c760ebe2003d_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>398</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 25</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 25</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 25 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Sư Tử Hống – Phá Tà Kiến Mạt Pháp) là tiếng sư tử hống cuối cùng của Đức Phật:</p><p><br></p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, phá 25 tà kiến mạt pháp (Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không Phật tánh, ăn thịt được, v.v.).</p><p>Một tiếng hống = muôn tà im, một câu kinh = ngàn ma cúi.</p><p>25 câu “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” – khẳng định tuyệt đối.</p><p>Kinh Niết-bàn là sư tử vương, ai trì kinh = sư tử con.</p><p>Phẩm này dẹp tan tà ma mạt pháp, bảo vệ chánh pháp, khẳng định “một người trì kinh = một ngàn kiếp hộ pháp”.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 25: Phẩm Sư Tử Hống – Phá Tà Kiến Mạt Pháp</p><p>Sau khi dạy Nguyệt Dụ, hư không lại sáng rực, đất rung 13 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:</p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Mạt pháp sắp đến, tà kiến lan tràn, người nói Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không Phật tánh – làm sao chúng con hộ pháp?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, **vang tiếng sư tử hống – một tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, muôn tà im lặng, ma vương cúi đầu, rồi nói:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Kinh Niết-bàn này là sư tử vương!</p><p>Một tiếng hống – muôn tà im.</p><p>Một câu kinh – ngàn ma cúi.</p><p>Ai trì kinh này – là sư tử con.</p><p>Ai phá kinh này – là chó săn.”</p><p><br></p><p>Phật phá 25 tà kiến mạt pháp, mỗi tà kiến một câu hống:</p><p><br></p><p>Tà kiến: “Phật đã diệt độ” → Hống: “Pháp thân thường trụ, chưa từng diệt!”</p><p>Tà kiến: “Pháp sẽ diệt” → Hống: “Kinh Niết-bàn trụ vạn kiếp!”</p><p>Tà kiến: “Chúng sanh không Phật tánh” → Hống: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh!”</p><p>Tà kiến: “Ăn thịt ba thứ tịnh nhục được” → Hống: “Tuyệt đối cấm ăn thịt, nuôi đại từ bi!”</p><p>Tà kiến: “Phật nói vô thường” → Hống: “Phật nói liễu nghĩa: thường, lạc, ngã, tịnh!”</p><p>Tà kiến: “Thanh văn không thành Phật” → Hống: “Thanh văn cũng thành Phật, hiệu Giải Thoát Âm!”</p><p>Tà kiến: “Ngạ quỷ, súc sanh không thành Phật” → Hống: “Ngạ quỷ thành Phật Cam Lồ Thí, súc sanh thành Phật Trí Thú Vương!”</p><p>Tà kiến: “Địa ngục không Phật tánh” → Hống: “Địa ngục thành Phật Hỏa Quang Phá Ác!”</p><p>Tà kiến: “Pháp thân ở ngoài” → Hống: “Pháp thân ở trong kinh Niết-bàn này!”</p><p>Tà kiến: “Kinh Niết-bàn không phải lời Phật” → Hống: “Kinh này là mẹ sinh chư Phật!”</p><p>Tà kiến: “Chỉ tụng kinh, không cần hành” → Hống: “Nghe, trì, hành, ngộ – bốn bước thành Phật!”</p><p>Tà kiến: “Phật không thường trụ” → Hống: “Pháp thân không sinh không diệt!”</p><p>Tà kiến: “Niết-bàn là đoạn diệt” → Hống: “Niết-bàn là nhà thường, lạc, ngã, tịnh!”</p><p>Tà kiến: “Phật không có 4 tướng” → Hống: “Phật có 4 tướng viên mãn!”</p><p>Tà kiến: “Tạng Như Lai ở ngoài” → Hống: “Tạng Như Lai ở trong tâm!”</p><p>Tà kiến: “Không cần phá vô minh” → Hống: “Phá 32 lớp vô minh = mở Tạng Như Lai!”</p><p>Tà kiến: “Pháp không bình đẳng” → Hống: “10 pháp giới đều thành Phật!”</p><p>Tà kiến: “Kinh không cứu được ác” → Hống: “Phú Lâu Na vào thành ác, độ 500 người!”</p><p>Tà kiến: “Mạt pháp không có Phật” → Hống: “Một người trì kinh = một Phật sống!”</p><p>Tà kiến: “Không cần thuyết pháp” → Hống: “Nói pháp như trăng soi, một câu độ ngàn kiếp!”</p><p>Tà kiến: “Phật không hộ pháp” → Hống: “Phật hiện thân Kim Cương, hộ kinh vạn kiếp!”</p><p>Tà kiến: “Kinh không phải liễu nghĩa” → Hống: “Kinh Niết-bàn là liễu nghĩa tối thượng!”</p><p>Tà kiến: “Không cần y kinh” → Hống: “Y kinh, y nghĩa, y liễu nghĩa, y trí!”</p><p>Tà kiến: “Pháp không truyền được” → Hống: “A Nan kết tập, Ca Diếp truyền đăng!”</p><p>Tà kiến: “Phật không còn nói” → Hống: “Phật nói trong kinh Niết-bàn này, mãi mãi!”</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:</p><p>“25 tiếng hống này ở trong 40 quyển này!</p><p>Ai trì một câu – một tà kiến tan.</p><p>Ai trì một phẩm – 25 tà kiến tan.</p><p>Ai trì toàn kinh – mạt pháp sáng tỏ.”</p><p><br></p><p>Ca Diếp bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao hộ pháp mạt pháp?”</p><p>Phật dạy:</p><p>“Một người trì kinh – một ngàn kiếp hộ pháp.</p><p>Một người nói kinh – một vạn kiếp hộ pháp.</p><p>Một người hành kinh – vô lượng kiếp hộ pháp.</p><p>Một người ngộ kinh – 10 pháp giới hộ pháp.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ 25 câu – sư tử hống cuối:</p><p>1. Sư tử hống một tiếng, muôn tà im lặng ngay,</p><p>2. Một câu kinh Niết-bàn, ngàn ma cúi đầu xuống,</p><p>3. Nhất thiết chúng sanh tánh, tà kiến không lay động,</p><p>4. Kinh này là sư tử, ai trì là sư tử con.5. Mạt pháp dù đen tối, một người trì là sáng,</p><p>6. Một người trì là đèn, soi đường cho muôn đời,</p><p>7. Một người hành là thuyền, đưa người qua sinh tử,</p><p>8. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.9. 25 tà kiến tan, 25 hống vang lên,</p><p>10. 25 câu kinh trụ, 25 kiếp hộ pháp,</p><p>11. Ai nghe kinh Niết-bàn, thấy sư tử vương hiện,</p><p>12. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm sư tử vương tâm.13. Ta đi, pháp còn trụ, sư tử hống không tắt,</p><p>14. Ta đi, kinh còn sáng, sư tử vương còn gầm,</p><p>15. Ta đi, chúng sanh ngộ, sư tử con thành vương,</p><p>16. Ta đi, Phật còn đây, trong tiếng mỗi người hống.17. Hống cho người ác nghe, ác tâm thành từ bi,</p><p>18. Hống cho người ngu nghe, ngu si thành trí tuệ,</p><p>19. Hống cho người tham nghe, tham lam thành bố thí,</p><p>20. Hống cho người sân nghe, sân hận thành nhẫn nhục.21. Hống cho mạt pháp nghe, mạt pháp thành chánh pháp,</p><p>22. Hống cho tà kiến nghe, tà kiến thành chánh kiến,</p><p>23. Hống cho chúng sanh nghe, chúng sanh thành Phật tử,</p><p>24. Hống cho 10 pháp giới, 10 giới đều thành Phật.25. Sư tử hống cuối cùng: Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh!”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng sư tử hống vang khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đồng thanh hống:</p><p>“NHẤT THIẾT CHÚNG SANH GIAI HỮU PHẬT TÁNH!”</p><p>“Nam mô Sư Tử Hống Phá Tà!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn hộ pháp!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 25 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Sư Tử Hống – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Nghe một tiếng hống = một tà kiến tan.</p><p>Trì một câu kinh = một ngàn kiếp hộ pháp.</p><p>Nói một câu kinh = một vạn kiếp hộ pháp.</p><p>Hành một hạnh kinh = vô lượng kiếp hộ pháp.</p><p>Ngộ một niệm kinh = 10 pháp giới hộ pháp.</p><p>Một người trì kinh = một ngàn kiếp sáng mạt pháp.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hống theo phẩm này, người ấy chính là sư tử con, là ngọn đèn phá đêm đen mạt pháp, là hạt giống hộ pháp bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Sư Tử Hống!</p><p>Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 25 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Sư Tử Hống – Phá Tà Kiến Mạt Pháp) là tiếng sư tử hống cuối cùng của Đức Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, phá 25 tà kiến mạt pháp (Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không Phật tánh, ăn thịt được, v.v.).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một tiếng hống = muôn tà im, một câu kinh = ngàn ma cúi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;25 câu “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” – khẳng định tuyệt đối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn là sư tử vương, ai trì kinh = sư tử con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này dẹp tan tà ma mạt pháp, bảo vệ chánh pháp, khẳng định “một người trì kinh = một ngàn kiếp hộ pháp”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 25: Phẩm Sư Tử Hống – Phá Tà Kiến Mạt Pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi dạy Nguyệt Dụ, hư không lại sáng rực, đất rung 13 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh khóc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mạt pháp sắp đến, tà kiến lan tràn, người nói Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không Phật tánh – làm sao chúng con hộ pháp?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, **vang tiếng sư tử hống – một tiếng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, muôn tà im lặng, ma vương cúi đầu, rồi nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn này là sư tử vương!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một tiếng hống – muôn tà im.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một câu kinh – ngàn ma cúi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì kinh này – là sư tử con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai phá kinh này – là chó săn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật phá 25 tà kiến mạt pháp, mỗi tà kiến một câu hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Phật đã diệt độ” → Hống: “Pháp thân thường trụ, chưa từng diệt!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Pháp sẽ diệt” → Hống: “Kinh Niết-bàn trụ vạn kiếp!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Chúng sanh không Phật tánh” → Hống: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Ăn thịt ba thứ tịnh nhục được” → Hống: “Tuyệt đối cấm ăn thịt, nuôi đại từ bi!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Phật nói vô thường” → Hống: “Phật nói liễu nghĩa: thường, lạc, ngã, tịnh!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Thanh văn không thành Phật” → Hống: “Thanh văn cũng thành Phật, hiệu Giải Thoát Âm!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Ngạ quỷ, súc sanh không thành Phật” → Hống: “Ngạ quỷ thành Phật Cam Lồ Thí, súc sanh thành Phật Trí Thú Vương!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Địa ngục không Phật tánh” → Hống: “Địa ngục thành Phật Hỏa Quang Phá Ác!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Pháp thân ở ngoài” → Hống: “Pháp thân ở trong kinh Niết-bàn này!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Kinh Niết-bàn không phải lời Phật” → Hống: “Kinh này là mẹ sinh chư Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Chỉ tụng kinh, không cần hành” → Hống: “Nghe, trì, hành, ngộ – bốn bước thành Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Phật không thường trụ” → Hống: “Pháp thân không sinh không diệt!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Niết-bàn là đoạn diệt” → Hống: “Niết-bàn là nhà thường, lạc, ngã, tịnh!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Phật không có 4 tướng” → Hống: “Phật có 4 tướng viên mãn!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Tạng Như Lai ở ngoài” → Hống: “Tạng Như Lai ở trong tâm!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Không cần phá vô minh” → Hống: “Phá 32 lớp vô minh = mở Tạng Như Lai!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Pháp không bình đẳng” → Hống: “10 pháp giới đều thành Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Kinh không cứu được ác” → Hống: “Phú Lâu Na vào thành ác, độ 500 người!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Mạt pháp không có Phật” → Hống: “Một người trì kinh = một Phật sống!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Không cần thuyết pháp” → Hống: “Nói pháp như trăng soi, một câu độ ngàn kiếp!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Phật không hộ pháp” → Hống: “Phật hiện thân Kim Cương, hộ kinh vạn kiếp!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Kinh không phải liễu nghĩa” → Hống: “Kinh Niết-bàn là liễu nghĩa tối thượng!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Không cần y kinh” → Hống: “Y kinh, y nghĩa, y liễu nghĩa, y trí!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Pháp không truyền được” → Hống: “A Nan kết tập, Ca Diếp truyền đăng!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tà kiến: “Phật không còn nói” → Hống: “Phật nói trong kinh Niết-bàn này, mãi mãi!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“25 tiếng hống này ở trong 40 quyển này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì một câu – một tà kiến tan.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì một phẩm – 25 tà kiến tan.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì toàn kinh – mạt pháp sáng tỏ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao hộ pháp mạt pháp?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Một người trì kinh – một ngàn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người nói kinh – một vạn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người hành kinh – vô lượng kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người ngộ kinh – 10 pháp giới hộ pháp.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 25 câu – sư tử hống cuối:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Sư tử hống một tiếng, muôn tà im lặng ngay,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Một câu kinh Niết-bàn, ngàn ma cúi đầu xuống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Nhất thiết chúng sanh tánh, tà kiến không lay động,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Kinh này là sư tử, ai trì là sư tử con.5. Mạt pháp dù đen tối, một người trì là sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Một người trì là đèn, soi đường cho muôn đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Một người hành là thuyền, đưa người qua sinh tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.9. 25 tà kiến tan, 25 hống vang lên,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10. 25 câu kinh trụ, 25 kiếp hộ pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11. Ai nghe kinh Niết-bàn, thấy sư tử vương hiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm sư tử vương tâm.13. Ta đi, pháp còn trụ, sư tử hống không tắt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14. Ta đi, kinh còn sáng, sư tử vương còn gầm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15. Ta đi, chúng sanh ngộ, sư tử con thành vương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16. Ta đi, Phật còn đây, trong tiếng mỗi người hống.17. Hống cho người ác nghe, ác tâm thành từ bi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18. Hống cho người ngu nghe, ngu si thành trí tuệ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19. Hống cho người tham nghe, tham lam thành bố thí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20. Hống cho người sân nghe, sân hận thành nhẫn nhục.21. Hống cho mạt pháp nghe, mạt pháp thành chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22. Hống cho tà kiến nghe, tà kiến thành chánh kiến,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23. Hống cho chúng sanh nghe, chúng sanh thành Phật tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24. Hống cho 10 pháp giới, 10 giới đều thành Phật.25. Sư tử hống cuối cùng: Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng sư tử hống vang khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“NHẤT THIẾT CHÚNG SANH GIAI HỮU PHẬT TÁNH!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Sư Tử Hống Phá Tà!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn hộ pháp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 25 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Sư Tử Hống – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe một tiếng hống = một tà kiến tan.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì một câu kinh = một ngàn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói một câu kinh = một vạn kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành một hạnh kinh = vô lượng kiếp hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ một niệm kinh = 10 pháp giới hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người trì kinh = một ngàn kiếp sáng mạt pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hống theo phẩm này, người ấy chính là sư tử con, là ngọn đèn phá đêm đen mạt pháp, là hạt giống hộ pháp bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Sư Tử Hống!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7976751" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/24331a87-8f4a-452e-aa58-3bf4c2d00cc3/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">e8abc342-5e73-49cc-997e-fb2a5f2582a3</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/24331a87-8f4a-452e-aa58-3bf4c2d00cc3</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:34:50 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/8152dc6b-c310-4c7e-9b28-71ee5cdf93bf_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>498</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 24</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 24</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 24 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Nguyệt Dụ – Thuyết Pháp Độ Sanh</strong>) là <strong>lời dạy cuối cùng về phương pháp thuyết pháp</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>dùng “ánh trăng” làm dụ</strong> để chỉ <strong>cách nói pháp tùy duyên</strong>.</li><li><strong>Trăng thật trên trời</strong> = <strong>chân lý Đại Niết-bàn</strong>.</li><li><strong>Trăng in ngàn sông</strong> = <strong>phương tiện thuyết pháp</strong>.</li><li><strong>Nói pháp như trăng soi</strong>, <strong>không chấp lời, không chấp người, không chấp pháp</strong>.</li><li><strong>Ai nghe pháp như trăng in nước, người ấy thấy trăng thật (Phật tánh)</strong>. Phẩm này <strong>dạy cách truyền kinh Niết-bàn</strong>, <strong>độ chúng sanh mạt pháp</strong>, <strong>khẳng định “một câu pháp nói đúng thời = ngàn kiếp độ sanh”</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 24: Phẩm Nguyệt Dụ – Thuyết Pháp Độ Sanh</h3><p><strong>Sau khi khai thị Pháp thân</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 12 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đại chúng</strong> <strong>đồng quỳ lạy</strong>, <strong>đồng thanh hỏi</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Sau khi Ngài nhập diệt, làm sao chúng con thuyết pháp độ sanh?</strong></blockquote><blockquote><strong>Làm sao nói kinh Niết-bàn cho người ác, người ngu, người không tin?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này đại chúng!</strong></blockquote><blockquote><strong>Thuyết pháp như trăng soi!</strong></blockquote><blockquote><strong>Trăng thật trên trời – không sinh không diệt.</strong></blockquote><blockquote><strong>Trăng in ngàn sông – tùy duyên mà hiện.</strong></blockquote><blockquote><strong>Nói pháp cũng vậy: chân lý Đại Niết-bàn là trăng thật, phương tiện là trăng in.</strong></blockquote><blockquote><strong>Không chấp lời, không chấp người, không chấp pháp – chỉ cần người nghe thấy trăng thật (Phật tánh).</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>dùng 12 dụ trăng</strong> để dạy <strong>12 cách thuyết pháp</strong>:</p><ol><li><strong>Trăng tròn đêm rằm</strong> → <strong>Nói pháp viên mãn</strong> cho người thượng căn.</li><li><strong>Trăng khuyết đầu tháng</strong> → <strong>Nói pháp từng phần</strong> cho người sơ cơ.</li><li><strong>Trăng in nước đục</strong> → <strong>Nói pháp khổ, vô thường</strong> cho người ác.</li><li><strong>Trăng in nước trong</strong> → <strong>Nói pháp thường, lạc</strong> cho người thiện.</li><li><strong>Trăng in gương</strong> → <strong>Nói pháp tùy nghi</strong> cho người nghi.</li><li><strong>Trăng in mắt mù</strong> → <strong>Nói pháp từ bi</strong> cho người sân.</li><li><strong>Trăng in mắt trẻ</strong> → <strong>Nói pháp đơn giản</strong> cho người ngu.</li><li><strong>Trăng in mắt Phật</strong> → <strong>Nói pháp liễu nghĩa</strong> cho Bồ-tát.</li><li><strong>Trăng in mây đen</strong> → <strong>Nói pháp ẩn dụ</strong> cho người tà kiến.</li><li><strong>Trăng in sóng nước</strong> → <strong>Nói pháp động</strong> cho người loạn tâm.</li><li><strong>Trăng in nước lặng</strong> → <strong>Nói pháp tĩnh</strong> cho người thiền định.</li><li><strong>Trăng thật trên trời</strong> → <strong>Nói pháp Niết-bàn</strong> cho người ngộ.</li></ol><p>Phật <strong>đưa tay chỉ kinh Niết-bàn</strong>:</p><blockquote><strong>“Kinh này là trăng thật!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai nói một câu kinh – trăng in một sông.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai nói một phẩm kinh – trăng in ngàn sông.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai nói toàn bộ kinh – trăng soi 10 pháp giới.</strong></blockquote><blockquote><strong>Nói pháp không vì danh, không vì lợi – chỉ vì người nghe thấy trăng thật.</strong>”</blockquote><p><strong>Phú Lâu Na</strong> bạch:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Nói pháp cho người ác, họ chửi, họ đánh – làm sao?</strong>”</blockquote><p>Phật dạy:</p><blockquote><strong>“Nói như trăng soi phân – trăng không dơ, phân không sạch.</strong></blockquote><blockquote><strong>Nói như trăng soi bùn – trăng không nhiễm, bùn không thơm.</strong></blockquote><blockquote><strong>Nói như trăng soi đêm – dù đêm đen, trăng vẫn sáng.</strong></blockquote><blockquote><strong>Một câu pháp nói đúng thời – ngàn kiếp độ sanh.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 24 câu – dạy thuyết pháp</strong>:</p><blockquote><em>1. Thuyết pháp như trăng soi, không chấp lời không chấp,</em></blockquote><blockquote><em>2. Trăng thật là Niết-bàn, trăng in là phương tiện,</em></blockquote><blockquote><em>3. Nói cho người thượng căn, trăng tròn đêm rằm sáng,</em></blockquote><blockquote><em>4. Nói cho người sơ cơ, trăng khuyết đầu tháng dần.</em></blockquote><blockquote><em>5. Người ác nghe khổ pháp, trăng in nước đục hiện,</em></blockquote><blockquote><em>6. Người thiện nghe lạc pháp, trăng in nước trong đầy,</em></blockquote><blockquote><em>7. Người nghi nghe tùy nghi, trăng in gương sáng tỏ,</em></blockquote><blockquote><em>8. Người ngu nghe đơn giản, trăng in mắt trẻ vui.</em></blockquote><blockquote><em>9. Tà kiến nghe ẩn dụ, trăng in mây đen tan,</em></blockquote><blockquote><em>10. Loạn tâm nghe động pháp, trăng in sóng nước dừng,</em></blockquote><blockquote><em>11. Thiền định nghe tĩnh pháp, trăng in nước lặng soi,</em></blockquote><blockquote><em>12. Người ngộ nghe Niết-bàn, trăng thật trên trời hiện.</em></blockquote><blockquote><em>13. Ai nói kinh Niết-bàn, trăng soi 10 pháp giới,</em></blockquote><blockquote><em>14. Ai nghe kinh Niết-bàn, thấy trăng thật tự tâm,</em></blockquote><blockquote><em>15. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm trăng sáng vạn kiếp,</em></blockquote><blockquote><em>16. Ai hành kinh Niết-bàn, thành trăng tròn viên mãn.</em></blockquote><blockquote><em>17. Mạt pháp dù đen tối, một câu pháp là sáng,</em></blockquote><blockquote><em>18. Một người nói là đèn, soi đường cho muôn đời,</em></blockquote><blockquote><em>19. Một người nghe là thuyền, đưa người qua sinh tử,</em></blockquote><blockquote><em>20. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.</em></blockquote><blockquote><em>21. Ta đi, pháp còn trụ, trăng soi không bao giờ tắt,</em></blockquote><blockquote><em>22. Ta đi, kinh còn sáng, trăng in ngàn sông đầy,</em></blockquote><blockquote><em>23. Ta đi, chúng sanh ngộ, trăng thật trong tâm hiện,</em></blockquote><blockquote><em>24. Ta đi, Phật còn đây, trong lời mỗi người nói.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Nguyệt Dụ Thuyết Pháp!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn độ sanh!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 24 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm Nguyệt Dụ</strong> – mang lại <strong>lợi lạc vô lượng</strong>:</p><ul><li><strong>Nói pháp như trăng soi</strong> – <strong>một câu độ ngàn kiếp</strong>.</li><li><strong>Nghe pháp như trăng in</strong> – <strong>một niệm thấy trăng thật</strong>.</li><li><strong>Trì kinh = ôm trăng sáng</strong> – <strong>vạn kiếp không mờ</strong>.</li><li><strong>Hành kinh = thành trăng tròn</strong> – <strong>Niết-bàn viên mãn</strong>.</li><li><strong>Nói một câu đúng thời</strong> – <strong>độ 10 pháp giới</strong>.</li><li><strong>Nghe một câu đúng duyên</strong> – <strong>thành Phật trong một niệm</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường thuyết theo phẩm này</strong>, người ấy <strong>chính là trăng sáng giữa đêm đen</strong>, là <strong>ngọn đèn soi mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống thuyết pháp bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Nguyệt Dụ!</strong></p><p><strong>Nam mô Thuyết Pháp Như Trăng Soi!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 24 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Nguyệt Dụ – Thuyết Pháp Độ Sanh&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;lời dạy cuối cùng về phương pháp thuyết pháp&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;dùng “ánh trăng” làm dụ&lt;/strong&gt; để chỉ &lt;strong&gt;cách nói pháp tùy duyên&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng thật trên trời&lt;/strong&gt; = &lt;strong&gt;chân lý Đại Niết-bàn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in ngàn sông&lt;/strong&gt; = &lt;strong&gt;phương tiện thuyết pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nói pháp như trăng soi&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;không chấp lời, không chấp người, không chấp pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ai nghe pháp như trăng in nước, người ấy thấy trăng thật (Phật tánh)&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;dạy cách truyền kinh Niết-bàn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;độ chúng sanh mạt pháp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “một câu pháp nói đúng thời = ngàn kiếp độ sanh”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 24: Phẩm Nguyệt Dụ – Thuyết Pháp Độ Sanh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi khai thị Pháp thân&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 12 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đại chúng&lt;/strong&gt; &lt;strong&gt;đồng quỳ lạy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đồng thanh hỏi&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Sau khi Ngài nhập diệt, làm sao chúng con thuyết pháp độ sanh?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Làm sao nói kinh Niết-bàn cho người ác, người ngu, người không tin?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này đại chúng!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Thuyết pháp như trăng soi!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Trăng thật trên trời – không sinh không diệt.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Trăng in ngàn sông – tùy duyên mà hiện.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nói pháp cũng vậy: chân lý Đại Niết-bàn là trăng thật, phương tiện là trăng in.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Không chấp lời, không chấp người, không chấp pháp – chỉ cần người nghe thấy trăng thật (Phật tánh).&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;dùng 12 dụ trăng&lt;/strong&gt; để dạy &lt;strong&gt;12 cách thuyết pháp&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng tròn đêm rằm&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp viên mãn&lt;/strong&gt; cho người thượng căn.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng khuyết đầu tháng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp từng phần&lt;/strong&gt; cho người sơ cơ.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in nước đục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp khổ, vô thường&lt;/strong&gt; cho người ác.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in nước trong&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp thường, lạc&lt;/strong&gt; cho người thiện.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in gương&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp tùy nghi&lt;/strong&gt; cho người nghi.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in mắt mù&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp từ bi&lt;/strong&gt; cho người sân.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in mắt trẻ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp đơn giản&lt;/strong&gt; cho người ngu.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in mắt Phật&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp liễu nghĩa&lt;/strong&gt; cho Bồ-tát.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in mây đen&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp ẩn dụ&lt;/strong&gt; cho người tà kiến.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in sóng nước&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp động&lt;/strong&gt; cho người loạn tâm.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng in nước lặng&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp tĩnh&lt;/strong&gt; cho người thiền định.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trăng thật trên trời&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Nói pháp Niết-bàn&lt;/strong&gt; cho người ngộ.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay chỉ kinh Niết-bàn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Kinh này là trăng thật!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai nói một câu kinh – trăng in một sông.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai nói một phẩm kinh – trăng in ngàn sông.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai nói toàn bộ kinh – trăng soi 10 pháp giới.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nói pháp không vì danh, không vì lợi – chỉ vì người nghe thấy trăng thật.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Phú Lâu Na&lt;/strong&gt; bạch:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Nói pháp cho người ác, họ chửi, họ đánh – làm sao?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nói như trăng soi phân – trăng không dơ, phân không sạch.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nói như trăng soi bùn – trăng không nhiễm, bùn không thơm.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nói như trăng soi đêm – dù đêm đen, trăng vẫn sáng.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Một câu pháp nói đúng thời – ngàn kiếp độ sanh.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 24 câu – dạy thuyết pháp&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Thuyết pháp như trăng soi, không chấp lời không chấp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Trăng thật là Niết-bàn, trăng in là phương tiện,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. Nói cho người thượng căn, trăng tròn đêm rằm sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Nói cho người sơ cơ, trăng khuyết đầu tháng dần.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Người ác nghe khổ pháp, trăng in nước đục hiện,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Người thiện nghe lạc pháp, trăng in nước trong đầy,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Người nghi nghe tùy nghi, trăng in gương sáng tỏ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Người ngu nghe đơn giản, trăng in mắt trẻ vui.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Tà kiến nghe ẩn dụ, trăng in mây đen tan,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Loạn tâm nghe động pháp, trăng in sóng nước dừng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Thiền định nghe tĩnh pháp, trăng in nước lặng soi,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Người ngộ nghe Niết-bàn, trăng thật trên trời hiện.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Ai nói kinh Niết-bàn, trăng soi 10 pháp giới,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Ai nghe kinh Niết-bàn, thấy trăng thật tự tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm trăng sáng vạn kiếp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. Ai hành kinh Niết-bàn, thành trăng tròn viên mãn.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Mạt pháp dù đen tối, một câu pháp là sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Một người nói là đèn, soi đường cho muôn đời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Một người nghe là thuyền, đưa người qua sinh tử,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Ta đi, pháp còn trụ, trăng soi không bao giờ tắt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Ta đi, kinh còn sáng, trăng in ngàn sông đầy,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Ta đi, chúng sanh ngộ, trăng thật trong tâm hiện,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Ta đi, Phật còn đây, trong lời mỗi người nói.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Nguyệt Dụ Thuyết Pháp!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn độ sanh!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 24 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm Nguyệt Dụ&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc vô lượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nói pháp như trăng soi&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;một câu độ ngàn kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe pháp như trăng in&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;một niệm thấy trăng thật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì kinh = ôm trăng sáng&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;vạn kiếp không mờ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành kinh = thành trăng tròn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;Niết-bàn viên mãn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nói một câu đúng thời&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;độ 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe một câu đúng duyên&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;thành Phật trong một niệm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường thuyết theo phẩm này&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là trăng sáng giữa đêm đen&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ngọn đèn soi mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống thuyết pháp bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Nguyệt Dụ!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Thuyết Pháp Như Trăng Soi!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6426122" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/fbb0cd52-69ef-405e-a719-944f0a5f363e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ac65d459-fd60-4caa-81e0-44d92e5dbcb6</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/fbb0cd52-69ef-405e-a719-944f0a5f363e</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:33:29 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/b6ebbc94-ea2d-4407-9ba8-e059dcc69c28_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>401</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 23</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 23</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 23 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Pháp Thân Thường Trụ – Phật Tánh Bất Diệt) là lời khẳng định cuối cùng về Pháp thân Như Lai:</p><p><br></p><p>Pháp thân không sinh không diệt, không đến không đi, không ở đây không ở kia – chỉ ở trong kinh Niết-bàn.</p><p>Phật tánh = Pháp thân = Đại Niết-bàn, không loài nào không có.</p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, nói kệ 40 câu, kết luận “Pháp thân là mẹ, kinh là cha, chúng sanh là con”.</p><p>Phẩm này phá tan ý niệm “Phật diệt”, mở cửa Pháp thân cho 10 pháp giới, khẳng định “ai trì kinh, người ấy ôm Pháp thân”.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 23: Phẩm Pháp Thân Thường Trụ – Phật Tánh Bất Diệt</p><p>Sau khi thọ ký vạn loài, hư không lại sáng rực, đất rung 11 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:</p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Pháp thân Như Lai ở đâu?</p><p>Phật đã nhập diệt, làm sao còn thường trụ?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Pháp thân Như Lai không sinh không diệt!</p><p>Không đến không đi, không ở đây không ở kia, không trong không ngoài.</p><p>Pháp thân không phải thân thịt, không phải thân xương, không phải thân máu.</p><p>Pháp thân chính là kinh Niết-bàn này!</p><p>Ai trì kinh này, người ấy ôm Pháp thân.</p><p>Ai phá kinh này, người ấy phá Pháp thân.”</p><p><br></p><p>Phật dùng 5 thí dụ để khai thị:</p><p><br></p><p>Hư không – không sinh không diệt, không dơ không sạch.</p><p>Mặt trăng thật – không lặn, chỉ in bóng nước.</p><p>Kim cương – không vỡ, dù đập ngàn lần.</p><p>Cam lồ – không chết, dù uống ngàn kiếp.</p><p>Kinh Niết-bàn – không diệt, dù mạt pháp vạn kiếp.</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:</p><p>“Pháp thân ở trong 40 quyển này!</p><p>Pháp thân ở trong 12 phẩm này!</p><p>Pháp thân ở trong 84.000 pháp môn này!</p><p>Ai nghe một câu – thấy Pháp thân.</p><p>Ai trì một phẩm – ôm Pháp thân.</p><p>Ai hành một hạnh – thành Pháp thân.”</p><p><br></p><p>Ca Diếp bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao thấy Pháp thân nhanh nhất?”</p><p>Phật dạy:</p><p>“Một niệm tin kinh – thấy Pháp thân.</p><p>Một câu kinh nghe – ôm Pháp thân.</p><p>Một hạnh kinh hành – thành Pháp thân.</p><p>Một niệm kinh ngộ – là Pháp thân.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ 40 câu – kết luận Pháp thân:</p><p>1. Pháp thân không sinh diệt, thường trụ trong kinh này,</p><p>2. Pháp thân không đến đi, không ở đây không kia,</p><p>3. Pháp thân không thịt xương, không máu không hơi thở,</p><p>4. Pháp thân là kinh Niết, là mẹ sinh chư Phật.5. Chúng sanh đều có tánh, tánh ấy là Pháp thân,</p><p>6. Vô minh như mây đen, che lấp Pháp thân sáng,</p><p>7. Mây tan, trời sáng tỏ, Pháp thân hiện tự tâm,</p><p>8. Tâm này là Niết-bàn, nhà xưa của muôn loài.9. Kinh này là mắt Phật, thấy rõ Pháp thân thường,</p><p>10. Giới này là thân Phật, giữ vững Pháp thân trụ,</p><p>11. Tăng này là hơi thở, truyền đèn Pháp thân sáng,</p><p>12. Tam bảo trụ vạn kiếp, Pháp thân không diệt.13. Ngạ quỷ nghe một câu, thấy Pháp thân bất diệt,</p><p>14. Súc sanh thấy một ánh, ôm Pháp thân thanh tịnh,</p><p>15. Địa ngục phá một si, thành Pháp thân tự tại,</p><p>16. A-tu-la bỏ sân hận, là Pháp thân từ bi.17. Người ác nghe kinh này, thấy Pháp thân trong tâm,</p><p>18. Người ngu nghe kinh này, trí tuệ Pháp thân sáng,</p><p>19. Người tham nghe kinh này, bố thí Pháp thân đầy,</p><p>20. Người sân nghe kinh này, từ bi Pháp thân tràn.21. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm mẹ sinh Pháp thân,</p><p>22. Ai hành kinh Niết-bàn, bước vào Pháp thân nhà,</p><p>23. Ai ngộ kinh Niết-bàn, thành Pháp thân ngay đây,</p><p>24. Ai truyền kinh Niết-bàn, độ vô lượng Pháp thân.25. Mạt pháp dù đen tối, một người trì là sáng,</p><p>26. Một người trì là đèn, soi đường Pháp thân trụ,</p><p>27. Một người hành là thuyền, đưa người vào Pháp thân,</p><p>28. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.29. Ta đi, Pháp thân trụ, kinh truyền đạo bất diệt,</p><p>30. Ta đi, kinh còn sáng, Pháp thân không bao giờ tắt,</p><p>31. Ta đi, chúng sanh ngộ, Pháp thân mở rộng cửa,</p><p>32. Ta đi, Phật còn đây, trong kinh mỗi người nghe.33. Pháp thân là cha mẹ, kinh này là con đường,</p><p>34. Chúng sanh là con cái, Niết-bàn là nhà xưa,</p><p>35. Ai nghe kinh Niết-bàn, về nhà với Pháp thân,</p><p>36. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm cha mẹ Pháp thân.37. Pháp thân không sinh diệt, kinh này không sinh diệt,</p><p>38. Pháp thân không đến đi, kinh này không đến đi,</p><p>39. Pháp thân không ở đây, kinh này không ở đây,</p><p>40. Pháp thân ở trong kinh, kinh ở trong Pháp thân.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới.</p><p>10 pháp giới đồng thanh niệm:</p><p>“Nam mô Pháp Thân Thường Trụ!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn bất diệt!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 23 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Pháp thân – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Thấy Pháp thân = thấy Phật sống.</p><p>Nghe một câu = ôm Pháp thân.</p><p>Trì một phẩm = thành Pháp thân.</p><p>Hành một hạnh = là Pháp thân.</p><p>Ngộ một niệm = cứu độ 10 pháp giới.</p><p>Kinh trụ vạn kiếp = người trì kinh trụ vạn kiếp.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là Pháp thân tái sinh, là ánh sáng soi mạt pháp, là hạt giống Pháp thân bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Pháp thân!</p><p>Nam mô Pháp Thân Thường Trụ Bất Diệt!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 23 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Pháp Thân Thường Trụ – Phật Tánh Bất Diệt) là lời khẳng định cuối cùng về Pháp thân Như Lai:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân không sinh không diệt, không đến không đi, không ở đây không ở kia – chỉ ở trong kinh Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh = Pháp thân = Đại Niết-bàn, không loài nào không có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, đứng trên hư không, nói kệ 40 câu, kết luận “Pháp thân là mẹ, kinh là cha, chúng sanh là con”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này phá tan ý niệm “Phật diệt”, mở cửa Pháp thân cho 10 pháp giới, khẳng định “ai trì kinh, người ấy ôm Pháp thân”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 23: Phẩm Pháp Thân Thường Trụ – Phật Tánh Bất Diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi thọ ký vạn loài, hư không lại sáng rực, đất rung 11 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đại chúng đồng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân Như Lai ở đâu?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đã nhập diệt, làm sao còn thường trụ?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân Như Lai không sinh không diệt!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không đến không đi, không ở đây không ở kia, không trong không ngoài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân không phải thân thịt, không phải thân xương, không phải thân máu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân chính là kinh Niết-bàn này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì kinh này, người ấy ôm Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai phá kinh này, người ấy phá Pháp thân.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 5 thí dụ để khai thị:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hư không – không sinh không diệt, không dơ không sạch.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mặt trăng thật – không lặn, chỉ in bóng nước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kim cương – không vỡ, dù đập ngàn lần.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cam lồ – không chết, dù uống ngàn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn – không diệt, dù mạt pháp vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ kinh Niết-bàn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Pháp thân ở trong 40 quyển này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân ở trong 12 phẩm này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân ở trong 84.000 pháp môn này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nghe một câu – thấy Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì một phẩm – ôm Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hành một hạnh – thành Pháp thân.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao thấy Pháp thân nhanh nhất?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Một niệm tin kinh – thấy Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một câu kinh nghe – ôm Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một hạnh kinh hành – thành Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một niệm kinh ngộ – là Pháp thân.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ 40 câu – kết luận Pháp thân:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Pháp thân không sinh diệt, thường trụ trong kinh này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Pháp thân không đến đi, không ở đây không kia,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Pháp thân không thịt xương, không máu không hơi thở,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Pháp thân là kinh Niết, là mẹ sinh chư Phật.5. Chúng sanh đều có tánh, tánh ấy là Pháp thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Vô minh như mây đen, che lấp Pháp thân sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Mây tan, trời sáng tỏ, Pháp thân hiện tự tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Tâm này là Niết-bàn, nhà xưa của muôn loài.9. Kinh này là mắt Phật, thấy rõ Pháp thân thường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10. Giới này là thân Phật, giữ vững Pháp thân trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11. Tăng này là hơi thở, truyền đèn Pháp thân sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12. Tam bảo trụ vạn kiếp, Pháp thân không diệt.13. Ngạ quỷ nghe một câu, thấy Pháp thân bất diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14. Súc sanh thấy một ánh, ôm Pháp thân thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15. Địa ngục phá một si, thành Pháp thân tự tại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16. A-tu-la bỏ sân hận, là Pháp thân từ bi.17. Người ác nghe kinh này, thấy Pháp thân trong tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18. Người ngu nghe kinh này, trí tuệ Pháp thân sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19. Người tham nghe kinh này, bố thí Pháp thân đầy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20. Người sân nghe kinh này, từ bi Pháp thân tràn.21. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm mẹ sinh Pháp thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22. Ai hành kinh Niết-bàn, bước vào Pháp thân nhà,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23. Ai ngộ kinh Niết-bàn, thành Pháp thân ngay đây,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24. Ai truyền kinh Niết-bàn, độ vô lượng Pháp thân.25. Mạt pháp dù đen tối, một người trì là sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;26. Một người trì là đèn, soi đường Pháp thân trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;27. Một người hành là thuyền, đưa người vào Pháp thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;28. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.29. Ta đi, Pháp thân trụ, kinh truyền đạo bất diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;30. Ta đi, kinh còn sáng, Pháp thân không bao giờ tắt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;31. Ta đi, chúng sanh ngộ, Pháp thân mở rộng cửa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;32. Ta đi, Phật còn đây, trong kinh mỗi người nghe.33. Pháp thân là cha mẹ, kinh này là con đường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;34. Chúng sanh là con cái, Niết-bàn là nhà xưa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;35. Ai nghe kinh Niết-bàn, về nhà với Pháp thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;36. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm cha mẹ Pháp thân.37. Pháp thân không sinh diệt, kinh này không sinh diệt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;38. Pháp thân không đến đi, kinh này không đến đi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;39. Pháp thân không ở đây, kinh này không ở đây,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;40. Pháp thân ở trong kinh, kinh ở trong Pháp thân.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Pháp Thân Thường Trụ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn bất diệt!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 23 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm Pháp thân – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Pháp thân = thấy Phật sống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe một câu = ôm Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì một phẩm = thành Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành một hạnh = là Pháp thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ một niệm = cứu độ 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh trụ vạn kiếp = người trì kinh trụ vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là Pháp thân tái sinh, là ánh sáng soi mạt pháp, là hạt giống Pháp thân bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh Pháp thân!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Pháp Thân Thường Trụ Bất Diệt!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6816496" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/72897d50-f0e5-499e-bf3d-aa10ddcbfc54/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">193d64e2-fe29-40b6-84aa-ceebbd0fc286</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/72897d50-f0e5-499e-bf3d-aa10ddcbfc54</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:30:18 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/66b47087-cc81-4a76-bb81-c951aad2046c_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>426</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 22</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 22</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 22 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Đại Chúng Thọ Ký – Vạn Loài Thành Phật</strong>) là <strong>đại thọ ký cuối cùng</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>thọ ký cho 10 pháp giới</strong> – từ trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, Bồ-tát, Thanh văn – <strong>đều thành Phật</strong>.</li><li><strong>Mỗi loài được một hiệu Phật</strong>, <strong>một cõi Tịnh độ</strong>, <strong>một thời gian thành Phật</strong>.</li><li><strong>Phật tánh bình đẳng</strong>, <strong>không loài nào bị bỏ lại</strong>.</li><li><strong>Kinh Niết-bàn là nhân duyên thành Phật</strong>. Phẩm này <strong>mở cửa Phật đạo cho tất cả</strong>, <strong>khép lại 40 quyển bằng đại từ bi vô lượng</strong>, <strong>khẳng định “không một chúng sanh nào bị bỏ lại”</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 22: Phẩm Đại Chúng Thọ Ký – Vạn Loài Thành Phật</h3><p><strong>Sau khi A Nan kết tập xong</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 10 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đại chúng</strong> – trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, Phạm thiên – <strong>đồng quỳ lạy</strong>, <strong>đồng thanh khóc</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Chúng con có thành Phật được không?</strong></blockquote><blockquote><strong>Chúng con có Phật tánh không?</strong></blockquote><blockquote><strong>Xin Ngài thọ ký cho chúng con!</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này đại chúng!</strong></blockquote><blockquote><strong>Tất cả các ông đều có Phật tánh!</strong></blockquote><blockquote><strong>Tất cả các ông đều sẽ thành Phật!</strong></blockquote><blockquote><strong>Không một loài nào bị bỏ lại!</strong></blockquote><blockquote><strong>Kinh Niết-bàn này là nhân duyên thành Phật.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai nghe, ai trì, ai hành – người ấy thành Phật.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>thọ ký từng loài</strong>, <strong>mỗi loài một hiệu Phật, một cõi Tịnh độ, một thời gian thành Phật</strong>:</p><ol><li><strong>Trời Đế Thích</strong> → <strong>Phật hiệu “Quang Minh Vương”</strong>, <strong>cõi “Thiên Quang Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 7 kiếp</strong>.</li><li><strong>Người phàm</strong> → <strong>Phật hiệu “Nhân Tâm Như Lai”</strong>, <strong>cõi “Nhân Gian Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 3 kiếp</strong>.</li><li><strong>A-tu-la</strong> → <strong>Phật hiệu “Từ Bi Chiến Thắng”</strong>, <strong>cõi “A-tu-la Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 5 kiếp</strong>.</li><li><strong>Súc sanh (voi, ngựa…)</strong> → <strong>Phật hiệu “Trí Tuệ Thú Vương”</strong>, <strong>cõi “Súc Sanh Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 9 kiếp</strong>.</li><li><strong>Ngạ quỷ</strong> → <strong>Phật hiệu “Cam Lồ Thí”</strong>, <strong>cõi “Ngạ Quỷ Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 12 kiếp</strong>.</li><li><strong>Địa ngục</strong> → <strong>Phật hiệu “Hỏa Quang Phá Ác”</strong>, <strong>cõi “Địa Ngục Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 18 kiếp</strong>.</li><li><strong>Bồ-tát</strong> → <strong>Phật hiệu “Đại Bi Tự Tại”</strong>, <strong>cõi “Bồ-tát Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 1 kiếp</strong>.</li><li><strong>Thanh văn</strong> → <strong>Phật hiệu “Giải Thoát Âm”</strong>, <strong>cõi “Thanh Văn Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 2 kiếp</strong>.</li><li><strong>Duyên giác</strong> → <strong>Phật hiệu “Tịch Tĩnh Quang”</strong>, <strong>cõi “Duyên Giác Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 4 kiếp</strong>.</li><li><strong>Phạm thiên</strong> → <strong>Phật hiệu “Pháp Giới Vương”</strong>, <strong>cõi “Phạm Thiên Tịnh Độ”</strong>, <strong>sau 1 đại kiếp</strong>.</li></ol><p>Phật <strong>đưa tay chỉ đại chúng</strong>:</p><blockquote><strong>“Các ông đang mang hiệu Phật trong tâm!</strong></blockquote><blockquote><strong>Các ông đang mang Tịnh độ trong tâm!</strong></blockquote><blockquote><strong>Chỉ cần nghe kinh Niết-bàn này – hiệu Phật hiện, Tịnh độ hiện!</strong>”</blockquote><p><strong>Ca Diếp</strong> bạch:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Làm sao thành Phật nhanh nhất?</strong>”</blockquote><p>Phật dạy:</p><blockquote><strong>“Nghe một câu kinh – gần Phật một kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Trì một phẩm kinh – gần Phật một đại kiếp.</strong></blockquote><blockquote><strong>Hành một hạnh kinh – thành Phật trong một niệm.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngộ một niệm kinh – thành Phật ngay trong đời.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ thọ ký đại chúng</strong>:</p><blockquote><em>“Vạn loài đều có tánh,</em></blockquote><blockquote><em>Vạn loài đều thành Phật.</em></blockquote><blockquote><em>Kinh này là nhân duyên,</em></blockquote><blockquote><em>Mở cửa Niết-bàn nhà.</em></blockquote><blockquote><em>Ngạ quỷ nghe một câu,</em></blockquote><blockquote><em>Thành Phật Cam Lồ Thí.</em></blockquote><blockquote><em>Súc sanh thấy một ánh,</em></blockquote><blockquote><em>Thành Phật Trí Thú Vương.</em></blockquote><blockquote><em>Địa ngục phá một si,</em></blockquote><blockquote><em>Thành Phật Hỏa Quang Phá.</em></blockquote><blockquote><em>A-tu-la bỏ sân hận,</em></blockquote><blockquote><em>Thành Phật Từ Chiến Thắng.</em></blockquote><blockquote><em>Ai trì kinh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>Ôm mẹ sinh chư Phật.</em></blockquote><blockquote><em>Ai hành kinh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>Bước vào Tịnh độ mình.</em></blockquote><blockquote><em>Mạt pháp dù đen tối,</em></blockquote><blockquote><em>Một người ngộ là sáng.</em></blockquote><blockquote><em>Một người trì là Phật,</em></blockquote><blockquote><em>Cứu độ vạn loài sinh.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>10 pháp giới đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Vạn Loài Thành Phật!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Kinh Niết-bàn thọ ký!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 22 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>phẩm thọ ký vạn loài</strong> – mang lại <strong>lợi lạc vô lượng</strong>:</p><ul><li><strong>Thấy hiệu Phật của mình</strong>, <strong>biết mình sẽ thành Phật</strong>.</li><li><strong>Thấy Tịnh độ của mình</strong>, <strong>biết mình có nhà Niết-bàn</strong>.</li><li><strong>Nghe một câu = gần Phật một kiếp</strong>.</li><li><strong>Trì một phẩm = gần Phật một đại kiếp</strong>.</li><li><strong>Hành một hạnh = thành Phật trong một niệm</strong>.</li><li><strong>Ngộ một niệm = cứu độ vạn loài</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này</strong>, người ấy <strong>chính là Phật tương lai</strong>, là <strong>ánh sáng soi 10 pháp giới</strong>, là <strong>hạt giống thành Phật bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh thọ ký!</strong></p><p><strong>Nam mô Vạn Loài Giai Thành Phật Đạo!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 22 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Đại Chúng Thọ Ký – Vạn Loài Thành Phật&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;đại thọ ký cuối cùng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;thọ ký cho 10 pháp giới&lt;/strong&gt; – từ trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, Bồ-tát, Thanh văn – &lt;strong&gt;đều thành Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mỗi loài được một hiệu Phật&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;một cõi Tịnh độ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;một thời gian thành Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh bình đẳng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;không loài nào bị bỏ lại&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Kinh Niết-bàn là nhân duyên thành Phật&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;mở cửa Phật đạo cho tất cả&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khép lại 40 quyển bằng đại từ bi vô lượng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định “không một chúng sanh nào bị bỏ lại”&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 22: Phẩm Đại Chúng Thọ Ký – Vạn Loài Thành Phật&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi A Nan kết tập xong&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 10 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đại chúng&lt;/strong&gt; – trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác, Phạm thiên – &lt;strong&gt;đồng quỳ lạy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đồng thanh khóc&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Chúng con có thành Phật được không?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Chúng con có Phật tánh không?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Xin Ngài thọ ký cho chúng con!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này đại chúng!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Tất cả các ông đều có Phật tánh!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Tất cả các ông đều sẽ thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Không một loài nào bị bỏ lại!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Kinh Niết-bàn này là nhân duyên thành Phật.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai nghe, ai trì, ai hành – người ấy thành Phật.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;thọ ký từng loài&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mỗi loài một hiệu Phật, một cõi Tịnh độ, một thời gian thành Phật&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trời Đế Thích&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Quang Minh Vương”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Thiên Quang Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 7 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Người phàm&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Nhân Tâm Như Lai”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Nhân Gian Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 3 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;A-tu-la&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Từ Bi Chiến Thắng”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “A-tu-la Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 5 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Súc sanh (voi, ngựa…)&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Trí Tuệ Thú Vương”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Súc Sanh Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 9 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngạ quỷ&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Cam Lồ Thí”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Ngạ Quỷ Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 12 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Địa ngục&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Hỏa Quang Phá Ác”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Địa Ngục Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 18 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bồ-tát&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Đại Bi Tự Tại”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Bồ-tát Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 1 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thanh văn&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Giải Thoát Âm”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Thanh Văn Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 2 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Duyên giác&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Tịch Tĩnh Quang”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Duyên Giác Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 4 kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phạm thiên&lt;/strong&gt; → &lt;strong&gt;Phật hiệu “Pháp Giới Vương”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cõi “Phạm Thiên Tịnh Độ”&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;sau 1 đại kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay chỉ đại chúng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Các ông đang mang hiệu Phật trong tâm!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Các ông đang mang Tịnh độ trong tâm!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Chỉ cần nghe kinh Niết-bàn này – hiệu Phật hiện, Tịnh độ hiện!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp&lt;/strong&gt; bạch:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Làm sao thành Phật nhanh nhất?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nghe một câu kinh – gần Phật một kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Trì một phẩm kinh – gần Phật một đại kiếp.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Hành một hạnh kinh – thành Phật trong một niệm.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngộ một niệm kinh – thành Phật ngay trong đời.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ thọ ký đại chúng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Vạn loài đều có tánh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Vạn loài đều thành Phật.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Kinh này là nhân duyên,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Mở cửa Niết-bàn nhà.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ngạ quỷ nghe một câu,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Thành Phật Cam Lồ Thí.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Súc sanh thấy một ánh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Thành Phật Trí Thú Vương.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Địa ngục phá một si,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Thành Phật Hỏa Quang Phá.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;A-tu-la bỏ sân hận,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Thành Phật Từ Chiến Thắng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai trì kinh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ôm mẹ sinh chư Phật.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai hành kinh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Bước vào Tịnh độ mình.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Mạt pháp dù đen tối,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người ngộ là sáng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người trì là Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Cứu độ vạn loài sinh.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;10 pháp giới đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Vạn Loài Thành Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn thọ ký!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 22 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;phẩm thọ ký vạn loài&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc vô lượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thấy hiệu Phật của mình&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biết mình sẽ thành Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thấy Tịnh độ của mình&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biết mình có nhà Niết-bàn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe một câu = gần Phật một kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì một phẩm = gần Phật một đại kiếp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành một hạnh = thành Phật trong một niệm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ một niệm = cứu độ vạn loài&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Phật tương lai&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ánh sáng soi 10 pháp giới&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống thành Phật bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh thọ ký!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Vạn Loài Giai Thành Phật Đạo!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5269211" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/74b131fe-e412-41e2-8a37-6b5f56e42743/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">45b5fab4-1bf3-4bde-987d-2179cbb8f787</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/74b131fe-e412-41e2-8a37-6b5f56e42743</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:27:08 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/56647f10-f120-4bb7-ae8e-7b0419e48475_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>329</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 21</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 21</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 21 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm A Nan Kết Tập – Kinh Trụ Thế Vạn Kiếp) là cảnh kết tập kinh điển đầu tiên sau khi Phật nhập diệt.</p><p><br></p><p>A Nan – người nghe pháp nhiều nhất – đứng trên pháp tòa, kể lại 40 quyển Niết-bàn, kết tập thành văn.</p><p>Ca Diếp làm chủ trì, 500 A-la-hán chứng minh, trời rồng hộ pháp.</p><p>Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, ấn chứng “Kinh này trụ thế vạn kiếp, độ vô lượng chúng sanh”.</p><p>Kinh Niết-bàn = mẹ sinh chư Phật, là pháp nhãn, là đèn sáng, là thuyền từ.</p><p>Phẩm này khởi đầu lịch sử truyền kinh, khẳng định kinh không diệt, ai trì kinh = trì Phật sống.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 21: Phẩm A Nan Kết Tập – Kinh Trụ Thế Vạn Kiếp</p><p>Sau khi Phật nhập diệt 3 tháng, 500 A-la-hán tụ hội tại hang Thất Diệp (Kỳ Viên), dưới gốc cây Ta-la song thọ.</p><p>Ca Diếp – Tổ thứ nhất – ngồi trên pháp tòa, giọng như sấm:</p><p>“Các vị Thánh giả!</p><p>Phật đã nhập diệt, nhưng chánh pháp phải trụ!</p><p>Hôm nay, chúng ta kết tập kinh tạng, để đời sau có đèn sáng.</p><p>A Nan – người nghe pháp nhiều nhất – hãy lên pháp tòa, kể lại lời Phật!”</p><p><br></p><p>A Nan – mắt còn đỏ hoe, áo ca-sa ướt nước mắt – đứng dậy, đảnh lễ Ca Diếp, rồi ngồi lên pháp tòa.</p><p>Bỗng nhiên, ánh sáng vàng ròng từ pháp tòa phóng ra, A Nan nhập định, thân phóng ánh sáng, giọng như tiếng Phật:</p><p>“Tôi nghe như vầy…</p><p>Một thời, Phật ở tại rừng Ta-la song thọ, thành Câu-thi-na, cùng 1250 Tỳ-kheo, vô lượng Bồ-tát…</p><p>Phật nói kinh Đại Bát Niết-bàn, 40 quyển, 12 phẩm, 84.000 pháp môn…”</p><p>A Nan kể lại từng quyển:</p><p><br></p><p>Quyển 1: Phật tánh,</p><p>Quyển 7: Cấm ăn thịt,</p><p>Quyển 8: Tứ y pháp,</p><p>Quyển 12: Phó chúc Ca Diếp,</p><p>Quyển 13: Đại chúng thỉnh trụ thế,</p><p>Quyển 14: Nhập Niết-bàn,</p><p>...</p><p>Quyển 20: Tạng Như Lai.</p><p><br></p><p>Mỗi câu A Nan nói, 500 A-la-hán đồng thanh “Như vậy, như vậy”, trời mưa hoa, đất thơm chiên-đàn.</p><p><br></p><p>Bỗng nhiên, hư không sáng rực, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, đứng trên pháp tòa, đưa tay xoa đầu A Nan, nói:</p><p>“Lành thay, A Nan!</p><p>Con đã nhớ đúng, nói đúng, kết tập đúng.</p><p>Kinh Niết-bàn này là mẹ sinh ra chư Phật.</p><p>Kinh này là pháp nhãn, là đèn sáng, là thuyền từ.</p><p>Kinh này sẽ trụ thế vạn kiếp, độ vô lượng chúng sanh.</p><p>Ai trì kinh này, người ấy trì Ta.</p><p>Ai phá kinh này, người ấy phá Ta.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ ấn chứng:</p><p>“Kinh này là mắt Phật,</p><p>Thấy rõ Niết-bàn môn.</p><p>Kinh này là thân Phật,</p><p>Thường trụ không sinh diệt.A Nan kết tập đúng,</p><p>Ca Diếp truyền đăng sáng.</p><p>500 Thánh chứng minh,</p><p>Vạn kiếp kinh còn trụ.Ai nghe kinh Niết-bàn,</p><p>Thấy Phật trong tự tâm.</p><p>Ai trì kinh Niết-bàn,</p><p>Ôm mẹ sinh chư Phật.Mạt pháp dù đen tối,</p><p>Kinh này là ngọn đèn.</p><p>Một người trì, một người ngộ,</p><p>Vạn kiếp độ chúng sanh.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp mười phương.</p><p>500 A-la-hán đồng thanh niệm:</p><p>“Nam mô Kinh Niết-bàn trụ thế vạn kiếp!</p><p>Nam mô A Nan Kết Tập!</p><p>Nam mô Ca Diếp Truyền Đăng!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Kinh Niết-bàn được kết tập xong.</p><p>40 quyển, 12 phẩm, 84.000 pháp môn.</p><p>Truyền từ đời này sang đời khác.</p><p>Đèn chánh pháp không bao giờ tắt.</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 21 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm kết tập – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Thấy kinh = thấy Phật sống.</p><p>Nghe kinh = nghe Phật nói.</p><p>Trì kinh = ôm mẹ sinh chư Phật.</p><p>Kết tập trong tâm = kết tập ngoài đời.</p><p>Kinh trụ vạn kiếp = người trì kinh trụ vạn kiếp.</p><p>Một người trì = vạn kiếp độ chúng sanh.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường kết tập kinh này trong tâm, người ấy chính là A Nan tái sinh, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống kinh trụ thế bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh trụ thế vạn kiếp!</p><p>Nam mô A Nan Kết Tập!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 21 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm A Nan Kết Tập – Kinh Trụ Thế Vạn Kiếp) là cảnh kết tập kinh điển đầu tiên sau khi Phật nhập diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan – người nghe pháp nhiều nhất – đứng trên pháp tòa, kể lại 40 quyển Niết-bàn, kết tập thành văn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp làm chủ trì, 500 A-la-hán chứng minh, trời rồng hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương lần cuối, ấn chứng “Kinh này trụ thế vạn kiếp, độ vô lượng chúng sanh”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn = mẹ sinh chư Phật, là pháp nhãn, là đèn sáng, là thuyền từ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này khởi đầu lịch sử truyền kinh, khẳng định kinh không diệt, ai trì kinh = trì Phật sống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 21: Phẩm A Nan Kết Tập – Kinh Trụ Thế Vạn Kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật nhập diệt 3 tháng, 500 A-la-hán tụ hội tại hang Thất Diệp (Kỳ Viên), dưới gốc cây Ta-la song thọ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp – Tổ thứ nhất – ngồi trên pháp tòa, giọng như sấm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Các vị Thánh giả!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đã nhập diệt, nhưng chánh pháp phải trụ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hôm nay, chúng ta kết tập kinh tạng, để đời sau có đèn sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan – người nghe pháp nhiều nhất – hãy lên pháp tòa, kể lại lời Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan – mắt còn đỏ hoe, áo ca-sa ướt nước mắt – đứng dậy, đảnh lễ Ca Diếp, rồi ngồi lên pháp tòa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỗng nhiên, ánh sáng vàng ròng từ pháp tòa phóng ra, A Nan nhập định, thân phóng ánh sáng, giọng như tiếng Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tôi nghe như vầy…&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một thời, Phật ở tại rừng Ta-la song thọ, thành Câu-thi-na, cùng 1250 Tỳ-kheo, vô lượng Bồ-tát…&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kinh Đại Bát Niết-bàn, 40 quyển, 12 phẩm, 84.000 pháp môn…”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan kể lại từng quyển:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 1: Phật tánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 7: Cấm ăn thịt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 8: Tứ y pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 12: Phó chúc Ca Diếp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 13: Đại chúng thỉnh trụ thế,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 14: Nhập Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;...&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 20: Tạng Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi câu A Nan nói, 500 A-la-hán đồng thanh “Như vậy, như vậy”, trời mưa hoa, đất thơm chiên-đàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỗng nhiên, hư không sáng rực, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, đứng trên pháp tòa, đưa tay xoa đầu A Nan, nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lành thay, A Nan!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con đã nhớ đúng, nói đúng, kết tập đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn này là mẹ sinh ra chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này là pháp nhãn, là đèn sáng, là thuyền từ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này sẽ trụ thế vạn kiếp, độ vô lượng chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì kinh này, người ấy trì Ta.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai phá kinh này, người ấy phá Ta.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ ấn chứng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Kinh này là mắt Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy rõ Niết-bàn môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này là thân Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ không sinh diệt.A Nan kết tập đúng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp truyền đăng sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;500 Thánh chứng minh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vạn kiếp kinh còn trụ.Ai nghe kinh Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Phật trong tự tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trì kinh Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ôm mẹ sinh chư Phật.Mạt pháp dù đen tối,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này là ngọn đèn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người trì, một người ngộ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vạn kiếp độ chúng sanh.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;500 A-la-hán đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Kinh Niết-bàn trụ thế vạn kiếp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô A Nan Kết Tập!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Ca Diếp Truyền Đăng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn được kết tập xong.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;40 quyển, 12 phẩm, 84.000 pháp môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Truyền từ đời này sang đời khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đèn chánh pháp không bao giờ tắt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 21 Kinh Đại Bát Niết Bàn – phẩm kết tập – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy kinh = thấy Phật sống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh = nghe Phật nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh = ôm mẹ sinh chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kết tập trong tâm = kết tập ngoài đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh trụ vạn kiếp = người trì kinh trụ vạn kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người trì = vạn kiếp độ chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường kết tập kinh này trong tâm, người ấy chính là A Nan tái sinh, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống kinh trụ thế bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh trụ thế vạn kiếp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô A Nan Kết Tập!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="4827010" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/6e44a19a-3b59-4156-9431-6cbbb1705e8b/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">411ec075-60b2-443f-9ba7-42388f0dc7c0</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/6e44a19a-3b59-4156-9431-6cbbb1705e8b</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:24:24 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/dd37beb1-47f8-437b-bbea-73c9b95b50e5_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>301</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 20</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 20</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 20 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Như Lai Bí Mật – Tạng Như Lai) là cửa bí mật cuối cùng của 40 quyển:</p><p><br></p><p>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại lần chót, đứng trên hư không, khai thị “Tạng Như Lai” – kho báu ẩn trong tâm mỗi chúng sanh.</p><p>Tạng Như Lai = Phật tánh = Đại Niết-bàn = 4 tướng viên mãn, chỉ bị 32 lớp vô minh che.</p><p>Phật dùng 32 thí dụ (vàng trong quặng, ngọc trong đá, lửa trong củi…) để phá 32 lớp vô minh, mở Tạng Như Lai.</p><p>Ai mở được Tạng, người ấy thành Phật ngay trong đời.</p><p>Phẩm này là chìa khóa cuối cùng, mở kho báu tự tâm, khẳng định “Phật ở trong ta, không ở ngoài”.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 20: Phẩm Như Lai Bí Mật – Tạng Như Lai</p><p>Sau khi khai thị 4 tướng viên mãn, hư không lại sáng rực, đất rung 9 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.</p><p>Đại chúng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:</p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Tạng Như Lai là gì?</p><p>Làm sao mở được kho báu này?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Tạng Như Lai chính là kho báu bí mật trong tâm mỗi chúng sanh!</p><p>Tạng Như Lai = Phật tánh = Đại Niết-bàn = 4 tướng thường, lạc, ngã, tịnh.</p><p>Tạng này không ở ngoài, không ở trong, không ở giữa – chỉ ở trong tâm.</p><p>Chỉ vì 32 lớp vô minh che lấp, nên chúng sanh không thấy.</p><p>Khi 32 lớp vô minh tan, Tạng Như Lai mở – người ấy thành Phật ngay!”</p><p><br></p><p>Phật dùng 32 thí dụ để phá 32 lớp vô minh, mở Tạng Như Lai:</p><p><br></p><p>Vàng trong quặng – lớp đá che, luyện ra vàng ròng.</p><p>Ngọc trong đá – lớp đá vỡ, ngọc sáng ngời.</p><p>Lửa trong củi – lớp vỏ khô, đốt ra lửa.</p><p>Nước trong mây – lớp mây tan, mưa rơi.</p><p>Mặt trăng trong nước – lớp nước đục, trăng hiện.</p><p>Trân châu trong áo – lớp áo rách, châu lộ.</p><p>Mật trong ong – lớp ong độc, mật ngọt.</p><p>Gạo trong trấu – lớp trấu đen, gạo trắng.</p><p>Sư tử trong hang – lớp hang tối, sư tử ra.</p><p>Mặt trời sau mây – lớp mây dày, nắng tràn.</p><p>Hạt giống trong đất – lớp đất sâu, cây mọc.</p><p>Sữa trong bò – lớp máu lẫn, bơ thành.</p><p>Đèn trong lọ – lớp lọ mờ, ánh sáng.</p><p>Hoa trong bùn – lớp bùn dơ, sen nở.</p><p>Kim cương trong đá – lớp đá cứng, kim cương.</p><p>Cam lồ trong độc – lớp độc chết, cam lồ.</p><p>Pháp trong kinh – lớp chữ viết, nghĩa hiện.</p><p>Phật trong tượng – lớp gỗ đá, Phật sống.</p><p>Tâm trong thân – lớp thịt xương, tâm sáng.</p><p>Trí trong si – lớp si mê, trí tuệ.</p><p>Từ trong sân – lớp sân hận, từ bi.</p><p>Bố thí trong tham – lớp tham lam, bố thí.</p><p>Giới trong phá – lớp phá giới, giới thanh.</p><p>Nhẫn trong nhục – lớp nhục mạ, nhẫn nhục.</p><p>Tinh tấn trong biếng – lớp biếng lười, tinh tấn.</p><p>Thiền trong loạn – lớp loạn tâm, thiền định.</p><p>Bát-nhã trong vô minh – lớp vô minh, bát-nhã.</p><p>Giải thoát trong ràng – lớp ràng buộc, giải thoát.</p><p>Niết-bàn trong sinh tử – lớp sinh tử, Niết-bàn.</p><p>Phật trong chúng sanh – lớp chúng sanh, Phật hiện.</p><p>Pháp trong tà – lớp tà kiến, chánh pháp.</p><p>Tăng trong phá – lớp phá Tăng, Tăng đoàn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ đại chúng:</p><p>“32 lớp vô minh này đang che Tạng Như Lai trong tâm các ông!</p><p>Nghe kinh Niết-bàn này – phá lớp 1.</p><p>Trì kinh Niết-bàn này – phá lớp 32.</p><p>Hành kinh Niết-bàn này – mở Tạng Như Lai.</p><p>Ngộ kinh Niết-bàn này – thành Phật ngay trong đời!”</p><p><br></p><p>Ca Diếp bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao mở Tạng Như Lai nhanh nhất?”</p><p>Phật dạy:</p><p>“Một niệm quay đầu – 32 lớp vô minh tan.</p><p>Một câu kinh nghe – Tạng Như Lai mở.</p><p>Một hạnh bố thí – Phật tánh hiện.</p><p>Một niệm từ bi – Niết-bàn đến.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ kết phẩm:</p><p>“Tạng Như Lai bí mật,</p><p>Ẩn sâu trong tự tâm.</p><p>32 lớp vô minh,</p><p>Che lấp kho báu vàng.Nghe kinh phá một lớp,</p><p>Trì kinh phá trăm tầng.</p><p>Hành kinh mở cửa tạng,</p><p>Ngộ kinh thành Phật ngay.Chúng sanh là kho báu,</p><p>Phật tánh là vàng ròng.</p><p>Kinh này là chìa khóa,</p><p>Mở cửa Niết-bàn nhà.Mạt pháp dù đen tối,</p><p>Một người mở là sáng.</p><p>Một người ngộ là Phật,</p><p>Cứu độ 10 pháp giới.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới.</p><p>Đại chúng đồng thanh niệm:</p><p>“Nam mô Tạng Như Lai Bí Mật!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn mở tạng!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 20 Kinh Đại Bát Niết Bàn – cửa bí mật cuối cùng – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><p><br></p><p>Thấy Tạng Như Lai trong tâm, biết mình là kho báu.</p><p>Phá 32 lớp vô minh, mở cửa Niết-bàn.</p><p>Nghe một câu = phá một lớp vô minh.</p><p>Trì một phẩm = mở một cửa tạng.</p><p>Hành một hạnh = thành Phật trong một niệm.</p><p>Ngộ một niệm = cứu độ 10 pháp giới.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là người mở tạng, là ánh sáng soi mạt pháp, là hạt giống Phật bí mật bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh mở tạng!</p><p>Nam mô Tạng Như Lai Bí Mật!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 20 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Như Lai Bí Mật – Tạng Như Lai) là cửa bí mật cuối cùng của 40 quyển:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại lần chót, đứng trên hư không, khai thị “Tạng Như Lai” – kho báu ẩn trong tâm mỗi chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tạng Như Lai = Phật tánh = Đại Niết-bàn = 4 tướng viên mãn, chỉ bị 32 lớp vô minh che.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 32 thí dụ (vàng trong quặng, ngọc trong đá, lửa trong củi…) để phá 32 lớp vô minh, mở Tạng Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai mở được Tạng, người ấy thành Phật ngay trong đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này là chìa khóa cuối cùng, mở kho báu tự tâm, khẳng định “Phật ở trong ta, không ở ngoài”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 20: Phẩm Như Lai Bí Mật – Tạng Như Lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi khai thị 4 tướng viên mãn, hư không lại sáng rực, đất rung 9 cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa, đứng trên hoa sen vạn cánh, ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tạng Như Lai là gì?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm sao mở được kho báu này?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tạng Như Lai chính là kho báu bí mật trong tâm mỗi chúng sanh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tạng Như Lai = Phật tánh = Đại Niết-bàn = 4 tướng thường, lạc, ngã, tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tạng này không ở ngoài, không ở trong, không ở giữa – chỉ ở trong tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ vì 32 lớp vô minh che lấp, nên chúng sanh không thấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi 32 lớp vô minh tan, Tạng Như Lai mở – người ấy thành Phật ngay!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 32 thí dụ để phá 32 lớp vô minh, mở Tạng Như Lai:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vàng trong quặng – lớp đá che, luyện ra vàng ròng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngọc trong đá – lớp đá vỡ, ngọc sáng ngời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lửa trong củi – lớp vỏ khô, đốt ra lửa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nước trong mây – lớp mây tan, mưa rơi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mặt trăng trong nước – lớp nước đục, trăng hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trân châu trong áo – lớp áo rách, châu lộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mật trong ong – lớp ong độc, mật ngọt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gạo trong trấu – lớp trấu đen, gạo trắng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sư tử trong hang – lớp hang tối, sư tử ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mặt trời sau mây – lớp mây dày, nắng tràn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hạt giống trong đất – lớp đất sâu, cây mọc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sữa trong bò – lớp máu lẫn, bơ thành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đèn trong lọ – lớp lọ mờ, ánh sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoa trong bùn – lớp bùn dơ, sen nở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kim cương trong đá – lớp đá cứng, kim cương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cam lồ trong độc – lớp độc chết, cam lồ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp trong kinh – lớp chữ viết, nghĩa hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật trong tượng – lớp gỗ đá, Phật sống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm trong thân – lớp thịt xương, tâm sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí trong si – lớp si mê, trí tuệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ trong sân – lớp sân hận, từ bi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bố thí trong tham – lớp tham lam, bố thí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới trong phá – lớp phá giới, giới thanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn trong nhục – lớp nhục mạ, nhẫn nhục.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tinh tấn trong biếng – lớp biếng lười, tinh tấn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiền trong loạn – lớp loạn tâm, thiền định.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bát-nhã trong vô minh – lớp vô minh, bát-nhã.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải thoát trong ràng – lớp ràng buộc, giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn trong sinh tử – lớp sinh tử, Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật trong chúng sanh – lớp chúng sanh, Phật hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp trong tà – lớp tà kiến, chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tăng trong phá – lớp phá Tăng, Tăng đoàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“32 lớp vô minh này đang che Tạng Như Lai trong tâm các ông!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh Niết-bàn này – phá lớp 1.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh Niết-bàn này – phá lớp 32.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành kinh Niết-bàn này – mở Tạng Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ kinh Niết-bàn này – thành Phật ngay trong đời!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao mở Tạng Như Lai nhanh nhất?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Một niệm quay đầu – 32 lớp vô minh tan.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một câu kinh nghe – Tạng Như Lai mở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một hạnh bố thí – Phật tánh hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một niệm từ bi – Niết-bàn đến.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ kết phẩm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tạng Như Lai bí mật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ẩn sâu trong tự tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;32 lớp vô minh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Che lấp kho báu vàng.Nghe kinh phá một lớp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh phá trăm tầng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành kinh mở cửa tạng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ kinh thành Phật ngay.Chúng sanh là kho báu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh là vàng ròng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này là chìa khóa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mở cửa Niết-bàn nhà.Mạt pháp dù đen tối,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người mở là sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một người ngộ là Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cứu độ 10 pháp giới.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Tạng Như Lai Bí Mật!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn mở tạng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 20 Kinh Đại Bát Niết Bàn – cửa bí mật cuối cùng – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Tạng Như Lai trong tâm, biết mình là kho báu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá 32 lớp vô minh, mở cửa Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe một câu = phá một lớp vô minh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì một phẩm = mở một cửa tạng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành một hạnh = thành Phật trong một niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngộ một niệm = cứu độ 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là người mở tạng, là ánh sáng soi mạt pháp, là hạt giống Phật bí mật bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh mở tạng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Tạng Như Lai Bí Mật!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6284852" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/6100c3dc-d5e0-41b3-b06b-87c38d4aa98a/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">a3047eae-cae8-4c33-96b0-3294ee07fe09</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/6100c3dc-d5e0-41b3-b06b-87c38d4aa98a</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:21:42 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/f6fe9a9e-19a4-44c9-98ad-718da7d542c8_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>392</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 19</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 19</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 19 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Như Lai Tánh – Tứ Tướng Viên Mãn</strong>) là <strong>đỉnh cao của 40 quyển</strong>:</p><ul><li>Phật <strong>hiện thân Kim Cương bất hoại lần cuối</strong>, <strong>đứng trên hư không</strong>, <strong>khai thị 4 tướng viên mãn của Như Lai</strong>:</li></ul><ol><li><strong>Thường</strong> – không sinh không diệt,</li><li><strong>Lạc</strong> – không khổ không ưu,</li><li><strong>Ngã</strong> – tự tại vô ngại,</li><li><strong>Tịnh</strong> – không dơ không nhiễm.</li></ol><ul><li><strong>Phật tánh = Như Lai tánh</strong>, <strong>tất cả chúng sanh đều có</strong>, <strong>chỉ cần phá vô minh là thấy</strong>.</li><li>Phật <strong>nói kệ 32 câu</strong>, <strong>kết luận toàn kinh</strong>, <strong>ấn chứng cho 10 pháp giới thành Phật</strong>. Phẩm này <strong>phá tan 4 điên đảo</strong> (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh), <strong>mở cửa Niết-bàn viên mãn</strong>, <strong>khẳng định Đại Niết-bàn là nhà của tất cả</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 19: Phẩm Như Lai Tánh – Tứ Tướng Viên Mãn</h3><p><strong>Sau khi khai thị Phật tánh</strong>, <strong>hư không lại sáng rực</strong>, <strong>đất rung 8 cách</strong>, <strong>Phật hiện thân Kim Cương bất hoại</strong>, <strong>cao lớn như núi Tu-di</strong>, <strong>đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa</strong>, <strong>đứng trên hoa sen vạn cánh</strong>, <strong>ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Đại chúng quỳ lạy</strong>, <strong>đồng thanh hỏi</strong>:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Phật tánh là gì? Như Lai tánh là gì?</strong></blockquote><blockquote><strong>Làm sao chúng con thấy được 4 tướng thường, lạc, ngã, tịnh?</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, <strong>vang giọng sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này đại chúng!</strong></blockquote><blockquote><strong>Phật tánh chính là Như Lai tánh!</strong></blockquote><blockquote><strong>Như Lai tánh chính là Đại Niết-bàn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Đại Niết-bàn có 4 tướng viên mãn:</strong></blockquote><ol><li><strong>Thường</strong> – không sinh không diệt, không đến không đi.</li><li><strong>Lạc</strong> – không khổ không ưu, không lo không sợ.</li><li><strong>Ngã</strong> – tự tại vô ngại, không bị nhân duyên ràng buộc.</li><li><strong>Tịnh</strong> – không dơ không nhiễm, không tham sân si.**</li></ol><blockquote><strong>Tất cả chúng sanh đều có 4 tướng này trong tâm!</strong></blockquote><blockquote><strong>Chỉ vì vô minh che lấp, nên thấy vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh.</strong></blockquote><blockquote><strong>Khi vô minh tan, 4 tướng hiện – người ấy là Như Lai!</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>dùng 4 thí dụ</strong> để khai thị:</p><ol><li><strong>Thường</strong> – <strong>như hư không</strong>, dù mây đen che, vẫn không sinh không diệt.</li><li><strong>Lạc</strong> – <strong>như nước cam lồ</strong>, dù lẫn độc, vẫn làm mát lòng.</li><li><strong>Ngã</strong> – <strong>như kim cương</strong>, dù bị đá đập, vẫn không vỡ.</li><li><strong>Tịnh</strong> – <strong>như hoa sen</strong>, dù mọc trong bùn, vẫn không nhiễm bùn.</li></ol><p>Phật <strong>đưa tay chỉ đại chúng</strong>:</p><blockquote><strong>“Các ông đang mang Như Lai tánh!</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngạ quỷ đang mang Như Lai tánh!</strong></blockquote><blockquote><strong>Súc sanh đang mang Như Lai tánh!</strong></blockquote><blockquote><strong>Địa ngục đang mang Như Lai tánh!</strong></blockquote><blockquote><strong>Chỉ cần một niệm quay đầu – thấy 4 tướng viên mãn, thành Phật ngay!</strong>”</blockquote><p><strong>Ca Diếp</strong> bạch:</p><blockquote>“<strong>Bạch Thế Tôn! Làm sao phá 4 điên đảo?</strong>”</blockquote><p>Phật dạy:</p><blockquote><strong>“Nghe kinh Niết-bàn này – phá vô thường.</strong></blockquote><blockquote><strong>Trì kinh Niết-bàn này – phá khổ.</strong></blockquote><blockquote><strong>Hành kinh Niết-bàn này – phá vô ngã.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ngộ kinh Niết-bàn này – phá bất tịnh.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nói kệ 32 câu – kết luận toàn kinh</strong>:</p><blockquote><em>1. Như Lai tánh thường trụ, không sinh không diệt,</em></blockquote><blockquote><em>2. Như Lai tánh an lạc, không khổ không ưu,</em></blockquote><blockquote><em>3. Như Lai tánh tự tại, không nhân không duyên,</em></blockquote><blockquote><em>4. Như Lai tánh thanh tịnh, không dơ không nhiễm.</em></blockquote><blockquote><em>5. Chúng sanh đều có tánh, chỉ bị vô minh che,</em></blockquote><blockquote><em>6. Vô minh như mây đen, trí tuệ như mặt trời,</em></blockquote><blockquote><em>7. Mây tan, trời sáng tỏ, Phật hiện trong tự tâm,</em></blockquote><blockquote><em>8. Tâm này là Niết-bàn, nhà xưa của muôn loài.</em></blockquote><blockquote><em>9. Kinh này là mắt Phật, thấy rõ Như Lai tánh,</em></blockquote><blockquote><em>10. Giới này là thân Phật, giữ vững 4 tướng viên,</em></blockquote><blockquote><em>11. Tăng này là hơi thở, truyền đèn qua mạt pháp,</em></blockquote><blockquote><em>12. Tam bảo trụ ngàn kiếp, không diệt không hoại.</em></blockquote><blockquote><em>13. Ngạ quỷ nghe một câu, thành Phật trong một niệm,</em></blockquote><blockquote><em>14. Súc sanh thấy một ánh, nhập Niết-bàn ngay đây,</em></blockquote><blockquote><em>15. Địa ngục phá một si, thấy 4 tướng viên mãn,</em></blockquote><blockquote><em>16. A-tu-la bỏ sân hận, thành Như Lai tự tại.</em></blockquote><blockquote><em>17. Người ác nghe kinh này, bỏ ác làm lành,</em></blockquote><blockquote><em>18. Người ngu nghe kinh này, trí tuệ sáng ngời,</em></blockquote><blockquote><em>19. Người tham nghe kinh này, bố thí vô lượng,</em></blockquote><blockquote><em>20. Người sân nghe kinh này, từ bi tràn đầy.</em></blockquote><blockquote><em>21. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm mẹ sinh chư Phật,</em></blockquote><blockquote><em>22. Ai hành kinh Niết-bàn, bước vào nhà Đại Niết,</em></blockquote><blockquote><em>23. Ai ngộ kinh Niết-bàn, thành Phật ngay trong đời,</em></blockquote><blockquote><em>24. Ai truyền kinh Niết-bàn, độ vô lượng chúng sanh.</em></blockquote><blockquote><em>25. Mạt pháp dù đen tối, một người ngộ là sáng,</em></blockquote><blockquote><em>26. Một người trì là đèn, soi đường cho muôn đời,</em></blockquote><blockquote><em>27. Một người hành là thuyền, đưa người qua sinh tử,</em></blockquote><blockquote><em>28. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.</em></blockquote><blockquote><em>29. Ta đi, pháp còn trụ, tâm truyền đạo bất diệt,</em></blockquote><blockquote><em>30. Ta đi, kinh còn sáng, ánh sáng không bao giờ tắt,</em></blockquote><blockquote><em>31. Ta đi, chúng sanh ngộ, Niết-bàn mở rộng cửa,</em></blockquote><blockquote><em>32. Ta đi, Phật còn đây, trong tâm mỗi người nghe.”</em></blockquote><p>Phật <strong>mỉm cười lần cuối</strong>, <strong>ánh sáng từ toàn thân phóng ra</strong>, <strong>rồi thân Kim Cương tan vào hư không</strong>, <strong>chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới</strong>.</p><p><strong>Đại chúng đồng thanh niệm</strong>:</p><blockquote><strong>“Nam mô Như Lai Tánh Tứ Tướng Viên Mãn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Đại Niết-bàn Tứ Tướng Bình Đẳng!</strong></blockquote><blockquote><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</strong></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 19 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> – <strong>đỉnh cao của 40 quyển</strong> – mang lại <strong>lợi lạc tối thượng</strong>:</p><ul><li><strong>Thấy 4 tướng viên mãn</strong>, <strong>phá 4 điên đảo</strong>, <strong>nhập Niết-bàn ngay trong đời</strong>.</li><li><strong>Thấy Như Lai tánh = Phật tánh</strong>, <strong>biết mình là Phật</strong>.</li><li><strong>Nghe một câu = thành Phật trong một niệm</strong>.</li><li><strong>Trì một phẩm = ôm mẹ sinh chư Phật</strong>.</li><li><strong>Hành một hạnh = bước vào nhà Đại Niết</strong>.</li><li><strong>Ngộ một niệm = cứu độ 10 pháp giới</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này</strong>, người ấy <strong>chính là Như Lai tái sinh</strong>, là <strong>ánh sáng soi mạt pháp</strong>, là <strong>hạt giống Niết-bàn viên mãn bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh viên mãn!</strong></p><p><strong>Nam mô Như Lai Tánh Tứ Tướng Thường Lạc Ngã Tịnh!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 19 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Như Lai Tánh – Tứ Tướng Viên Mãn&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;đỉnh cao của 40 quyển&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;hiện thân Kim Cương bất hoại lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khai thị 4 tướng viên mãn của Như Lai&lt;/strong&gt;:&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thường&lt;/strong&gt; – không sinh không diệt,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lạc&lt;/strong&gt; – không khổ không ưu,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngã&lt;/strong&gt; – tự tại vô ngại,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tịnh&lt;/strong&gt; – không dơ không nhiễm.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh = Như Lai tánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;tất cả chúng sanh đều có&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ cần phá vô minh là thấy&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 32 câu&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;kết luận toàn kinh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ấn chứng cho 10 pháp giới thành Phật&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;phá tan 4 điên đảo&lt;/strong&gt; (vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh), &lt;strong&gt;mở cửa Niết-bàn viên mãn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;khẳng định Đại Niết-bàn là nhà của tất cả&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 19: Phẩm Như Lai Tánh – Tứ Tướng Viên Mãn&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Sau khi khai thị Phật tánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hư không lại sáng rực&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất rung 8 cách&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;Phật hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;cao lớn như núi Tu-di&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đầu đội mũ báu, thân mặc áo ca-sa&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đứng trên hoa sen vạn cánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng chiếu khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đại chúng quỳ lạy&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đồng thanh hỏi&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh là gì? Như Lai tánh là gì?&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Làm sao chúng con thấy được 4 tướng thường, lạc, ngã, tịnh?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;vang giọng sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này đại chúng!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh chính là Như Lai tánh!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Như Lai tánh chính là Đại Niết-bàn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Đại Niết-bàn có 4 tướng viên mãn:&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thường&lt;/strong&gt; – không sinh không diệt, không đến không đi.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lạc&lt;/strong&gt; – không khổ không ưu, không lo không sợ.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngã&lt;/strong&gt; – tự tại vô ngại, không bị nhân duyên ràng buộc.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tịnh&lt;/strong&gt; – không dơ không nhiễm, không tham sân si.**&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Tất cả chúng sanh đều có 4 tướng này trong tâm!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Chỉ vì vô minh che lấp, nên thấy vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Khi vô minh tan, 4 tướng hiện – người ấy là Như Lai!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;dùng 4 thí dụ&lt;/strong&gt; để khai thị:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thường&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;như hư không&lt;/strong&gt;, dù mây đen che, vẫn không sinh không diệt.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lạc&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;như nước cam lồ&lt;/strong&gt;, dù lẫn độc, vẫn làm mát lòng.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngã&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;như kim cương&lt;/strong&gt;, dù bị đá đập, vẫn không vỡ.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tịnh&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;như hoa sen&lt;/strong&gt;, dù mọc trong bùn, vẫn không nhiễm bùn.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;đưa tay chỉ đại chúng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Các ông đang mang Như Lai tánh!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngạ quỷ đang mang Như Lai tánh!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Súc sanh đang mang Như Lai tánh!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Địa ngục đang mang Như Lai tánh!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Chỉ cần một niệm quay đầu – thấy 4 tướng viên mãn, thành Phật ngay!&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp&lt;/strong&gt; bạch:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;“&lt;strong&gt;Bạch Thế Tôn! Làm sao phá 4 điên đảo?&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nghe kinh Niết-bàn này – phá vô thường.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Trì kinh Niết-bàn này – phá khổ.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Hành kinh Niết-bàn này – phá vô ngã.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ngộ kinh Niết-bàn này – phá bất tịnh.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói kệ 32 câu – kết luận toàn kinh&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;1. Như Lai tánh thường trụ, không sinh không diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;2. Như Lai tánh an lạc, không khổ không ưu,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;3. Như Lai tánh tự tại, không nhân không duyên,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;4. Như Lai tánh thanh tịnh, không dơ không nhiễm.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;5. Chúng sanh đều có tánh, chỉ bị vô minh che,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;6. Vô minh như mây đen, trí tuệ như mặt trời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;7. Mây tan, trời sáng tỏ, Phật hiện trong tự tâm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;8. Tâm này là Niết-bàn, nhà xưa của muôn loài.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;9. Kinh này là mắt Phật, thấy rõ Như Lai tánh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;10. Giới này là thân Phật, giữ vững 4 tướng viên,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;11. Tăng này là hơi thở, truyền đèn qua mạt pháp,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;12. Tam bảo trụ ngàn kiếp, không diệt không hoại.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;13. Ngạ quỷ nghe một câu, thành Phật trong một niệm,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;14. Súc sanh thấy một ánh, nhập Niết-bàn ngay đây,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;15. Địa ngục phá một si, thấy 4 tướng viên mãn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;16. A-tu-la bỏ sân hận, thành Như Lai tự tại.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;17. Người ác nghe kinh này, bỏ ác làm lành,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;18. Người ngu nghe kinh này, trí tuệ sáng ngời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;19. Người tham nghe kinh này, bố thí vô lượng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;20. Người sân nghe kinh này, từ bi tràn đầy.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;21. Ai trì kinh Niết-bàn, ôm mẹ sinh chư Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;22. Ai hành kinh Niết-bàn, bước vào nhà Đại Niết,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;23. Ai ngộ kinh Niết-bàn, thành Phật ngay trong đời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;24. Ai truyền kinh Niết-bàn, độ vô lượng chúng sanh.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;25. Mạt pháp dù đen tối, một người ngộ là sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;26. Một người trì là đèn, soi đường cho muôn đời,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;27. Một người hành là thuyền, đưa người qua sinh tử,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;28. Một người ngộ là Phật, cứu độ 10 pháp giới.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;29. Ta đi, pháp còn trụ, tâm truyền đạo bất diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;30. Ta đi, kinh còn sáng, ánh sáng không bao giờ tắt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;31. Ta đi, chúng sanh ngộ, Niết-bàn mở rộng cửa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;32. Ta đi, Phật còn đây, trong tâm mỗi người nghe.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười lần cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ toàn thân phóng ra&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;rồi thân Kim Cương tan vào hư không&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chỉ còn tiếng kinh vang khắp 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đại chúng đồng thanh niệm&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Nam mô Như Lai Tánh Tứ Tướng Viên Mãn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Niết-bàn Tứ Tướng Bình Đẳng!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 19 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;đỉnh cao của 40 quyển&lt;/strong&gt; – mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc tối thượng&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thấy 4 tướng viên mãn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;phá 4 điên đảo&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nhập Niết-bàn ngay trong đời&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thấy Như Lai tánh = Phật tánh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;biết mình là Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe một câu = thành Phật trong một niệm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trì một phẩm = ôm mẹ sinh chư Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành một hạnh = bước vào nhà Đại Niết&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ một niệm = cứu độ 10 pháp giới&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là Như Lai tái sinh&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ánh sáng soi mạt pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống Niết-bàn viên mãn bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh viên mãn!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Như Lai Tánh Tứ Tướng Thường Lạc Ngã Tịnh!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6653074" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/799045a7-ac3c-49f5-a997-7584de070bc7/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">1c9aabee-478b-415b-988e-53e2bcb2e63d</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/799045a7-ac3c-49f5-a997-7584de070bc7</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:19:59 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/49e04415-e85c-43f7-938f-6bf1b0958923_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>415</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 18</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 18</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><br></p><p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 18 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh) là tuyên ngôn vĩ đại nhất của toàn kinh: Tất cả chúng sanh – từ người, trời, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục – đều có Phật tánh thanh tịnh, thường, lạc, ngã, tịnh.</p><p><br></p><p>Phật dùng 10 thí dụ (hạt giống, sữa, vàng, lửa, mặt trăng…) để chứng minh Phật tánh không mất, chỉ bị vô minh che.</p><p>Phật tánh là mẹ sinh chư Phật, là nhà Niết-bàn, là ánh sáng tự tâm.</p><p>Ai thấy Phật tánh, người ấy thành Phật ngay trong đời này.</p><p>Phẩm này phá tan nghi ngờ “ngạ quỷ, súc sanh có thành Phật được không?”, mở cửa Niết-bàn cho 10 pháp giới, khẳng định bình đẳng tuyệt đối.</p><p>Toàn Văn Quyển 18: Phẩm Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh</p><p>Sau khi phó chúc Phú Lâu Na, Phật lại hiện thân Kim Cương bất hoại, đứng trên hoa sen ngàn cánh, ánh sáng chiếu khắp mười phương.</p><p><br></p><p>Đại chúng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:</p><p><br></p><p>“Bạch Thế Tôn!</p><p>Ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục có Phật tánh không?</p><p>Chúng con thấy họ khổ, ác, dơ – làm sao thành Phật?”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:</p><p><br></p><p>“Này đại chúng!</p><p>Tất cả chúng sanh – dù người, trời, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục – đều có Phật tánh!</p><p>Phật tánh thanh tịnh, không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt.</p><p>Chỉ vì vô minh che lấp, nên hiện tướng khổ, ác, dơ.</p><p>Khi vô minh tan, Phật tánh hiện – người ấy thành Phật ngay!”</p><p><br></p><p>Phật dùng 10 thí dụ để khai thị:</p><p><br></p><p>Hạt giống trong đất – dù bị bùn che, vẫn nảy mầm thành cây.</p><p>Phật tánh trong ngạ quỷ – dù đói khát, vẫn thành Phật.</p><p>Sữa trong bò – dù lẫn máu, vẫn làm ra bơ.</p><p>Phật tánh trong súc sanh – dù ngu si, vẫn thành Phật.</p><p>Vàng trong quặng – dù lẫn đá, vẫn luyện thành vàng ròng.</p><p>Phật tánh trong địa ngục – dù khổ đau, vẫn thành Phật.</p><p>Lửa trong củi – dù củi ướt, vẫn đốt thành lửa.</p><p>Phật tánh trong a-tu-la – dù sân hận, vẫn thành Phật.</p><p>Mặt trăng trong nước – dù nước đục, vẫn soi bóng trăng.</p><p>Phật tánh trong người ác – dù tội lỗi, vẫn thành Phật.</p><p>Trân châu trong áo – dù người nghèo, vẫn mang châu báu.</p><p>Phật tánh trong kẻ ngu – dù vô minh, vẫn là Phật.</p><p>Mật trong ong – dù ong độc, vẫn làm mật ngọt.</p><p>Phật tánh trong ma vương – dù phá pháp, vẫn thành Phật.</p><p>Gạo trong vỏ trấu – dù trấu đen, vẫn nấu thành cơm.</p><p>Phật tánh trong phàm phu – dù tham sân, vẫn thành Phật.</p><p>Sư tử trong hang – dù ngủ say, vẫn là vua thú.</p><p>Phật tánh trong Bồ-tát – dù chưa ngộ, vẫn là Phật.</p><p>Mặt trời sau mây – dù mây dày, vẫn chiếu sáng.</p><p>Phật tánh trong chư Phật – dù thị hiện sinh diệt, vẫn thường trụ.</p><p>Phật đưa tay chỉ đại chúng:</p><p><br></p><p>“Các ông đang mang Phật tánh!</p><p>Ngạ quỷ đang mang Phật tánh!</p><p>Súc sanh đang mang Phật tánh!</p><p>Địa ngục đang mang Phật tánh!</p><p>Chỉ cần một niệm quay đầu – vô minh tan, Phật tánh hiện!”</p><p><br></p><p>Ca Diếp bạch:</p><p><br></p><p>“Bạch Thế Tôn! Làm sao thấy Phật tánh?”</p><p><br></p><p>Phật dạy:</p><p><br></p><p>“Thấy kinh Niết-bàn này – thấy Phật tánh.</p><p>Nghe kinh Niết-bàn này – nghe Phật tánh.</p><p>Trì kinh Niết-bàn này – ôm Phật tánh.</p><p>Hành kinh Niết-bàn này – thành Phật tánh.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ kết phẩm:</p><p><br></p><p>“Chúng sanh đều có tánh,</p><p>Thanh tịnh không dơ bẩn.</p><p>Vô minh như mây đen,</p><p>Trí tuệ như mặt trời.</p><p><br></p><p>Ngạ quỷ nghe một câu,</p><p>Thành Phật trong một niệm.</p><p>Súc sanh thấy một ánh,</p><p>Nhập Niết-bàn ngay đây.</p><p><br></p><p>Kinh này là mẹ Phật,</p><p>Phật tánh là nhà xưa.</p><p>Ai nghe, ai trì, ai hành,</p><p>Người ấy là Phật sống.”</p><p><br></p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp mười pháp giới.</p><p><br></p><p>Đại chúng đồng thanh niệm:</p><p><br></p><p>“Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh!</p><p>Nam mô Kinh Niết-bàn bình đẳng!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 18 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc vô lượng:</p><p><br></p><p>Thấy Phật tánh trong tự tâm, biết mình là Phật.</p><p>Thấy Phật tánh trong chúng sanh, độ cả 10 pháp giới.</p><p>Phá tan nghi ngờ, khẳng định bình đẳng tuyệt đối.</p><p>Nghe một câu = thành Phật trong một niệm.</p><p>Trì một phẩm = ôm mẹ sinh chư Phật.</p><p>Hành một hạnh = nhập Niết-bàn ngay trong đời.</p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là Phật sống giữa đời, là ánh sáng soi 10 pháp giới, là hạt giống Niết-bàn bình đẳng bất diệt.</p><p><br></p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh bình đẳng!</p><p>Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Thành Phật Đạo!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 18 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh) là tuyên ngôn vĩ đại nhất của toàn kinh: Tất cả chúng sanh – từ người, trời, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục – đều có Phật tánh thanh tịnh, thường, lạc, ngã, tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 10 thí dụ (hạt giống, sữa, vàng, lửa, mặt trăng…) để chứng minh Phật tánh không mất, chỉ bị vô minh che.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh là mẹ sinh chư Phật, là nhà Niết-bàn, là ánh sáng tự tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy Phật tánh, người ấy thành Phật ngay trong đời này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này phá tan nghi ngờ “ngạ quỷ, súc sanh có thành Phật được không?”, mở cửa Niết-bàn cho 10 pháp giới, khẳng định bình đẳng tuyệt đối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 18: Phẩm Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi phó chúc Phú Lâu Na, Phật lại hiện thân Kim Cương bất hoại, đứng trên hoa sen ngàn cánh, ánh sáng chiếu khắp mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng quỳ lạy, đồng thanh hỏi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục có Phật tánh không?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con thấy họ khổ, ác, dơ – làm sao thành Phật?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, vang giọng sư tử hống:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả chúng sanh – dù người, trời, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục – đều có Phật tánh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh thanh tịnh, không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ vì vô minh che lấp, nên hiện tướng khổ, ác, dơ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi vô minh tan, Phật tánh hiện – người ấy thành Phật ngay!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 10 thí dụ để khai thị:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hạt giống trong đất – dù bị bùn che, vẫn nảy mầm thành cây.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong ngạ quỷ – dù đói khát, vẫn thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sữa trong bò – dù lẫn máu, vẫn làm ra bơ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong súc sanh – dù ngu si, vẫn thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vàng trong quặng – dù lẫn đá, vẫn luyện thành vàng ròng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong địa ngục – dù khổ đau, vẫn thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lửa trong củi – dù củi ướt, vẫn đốt thành lửa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong a-tu-la – dù sân hận, vẫn thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mặt trăng trong nước – dù nước đục, vẫn soi bóng trăng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong người ác – dù tội lỗi, vẫn thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trân châu trong áo – dù người nghèo, vẫn mang châu báu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong kẻ ngu – dù vô minh, vẫn là Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mật trong ong – dù ong độc, vẫn làm mật ngọt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong ma vương – dù phá pháp, vẫn thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gạo trong vỏ trấu – dù trấu đen, vẫn nấu thành cơm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong phàm phu – dù tham sân, vẫn thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sư tử trong hang – dù ngủ say, vẫn là vua thú.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong Bồ-tát – dù chưa ngộ, vẫn là Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mặt trời sau mây – dù mây dày, vẫn chiếu sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trong chư Phật – dù thị hiện sinh diệt, vẫn thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Các ông đang mang Phật tánh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngạ quỷ đang mang Phật tánh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Súc sanh đang mang Phật tánh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Địa ngục đang mang Phật tánh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ cần một niệm quay đầu – vô minh tan, Phật tánh hiện!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Làm sao thấy Phật tánh?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thấy kinh Niết-bàn này – thấy Phật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh Niết-bàn này – nghe Phật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh Niết-bàn này – ôm Phật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành kinh Niết-bàn này – thành Phật tánh.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ kết phẩm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Chúng sanh đều có tánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thanh tịnh không dơ bẩn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô minh như mây đen,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí tuệ như mặt trời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngạ quỷ nghe một câu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành Phật trong một niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Súc sanh thấy một ánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhập Niết-bàn ngay đây.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này là mẹ Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh là nhà xưa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nghe, ai trì, ai hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy là Phật sống.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng kinh vang khắp mười pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Hữu Phật Tánh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn bình đẳng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 18 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc vô lượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Phật tánh trong tự tâm, biết mình là Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Phật tánh trong chúng sanh, độ cả 10 pháp giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá tan nghi ngờ, khẳng định bình đẳng tuyệt đối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe một câu = thành Phật trong một niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì một phẩm = ôm mẹ sinh chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành một hạnh = nhập Niết-bàn ngay trong đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là Phật sống giữa đời, là ánh sáng soi 10 pháp giới, là hạt giống Niết-bàn bình đẳng bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh bình đẳng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Nhất Thiết Chúng Sanh Giai Thành Phật Đạo!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5476101" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/509fb5d1-df3e-485b-a3f0-6c574fed4957/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">25d05184-58ce-459b-99fd-137a5fcd6a02</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/509fb5d1-df3e-485b-a3f0-6c574fed4957</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:13:05 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/5a802ce0-f264-4155-9b9a-577371858c7d_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>342</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 17</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 17</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><br></p><h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 17 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phú Lâu Na Ca Thán – Truyền Pháp Cứu Độ) là lời kêu gọi cuối cùng của Đức Phật sau khi nhập diệt, hiện thân giữa hư không để truyền pháp cho Phú Lâu Na – vị đệ tử dũng mãnh, biện tài, nguyện vào địa ngục độ chúng sanh.</p><ul><li>Phật dạy <span>Phú Lâu Na vào thành Sura (đất tà kiến, người hung ác)</span> để <span>truyền kinh Niết-bàn</span>, <span>cứu độ 500 người ác</span>.</li><li>Dùng <span>8 thí dụ</span> (mưa pháp, thuyền từ, đèn sáng…) để dạy: <span>một người ngộ = cả thế giới sáng</span>.</li><li><span>Phú Lâu Na chứng A-la-hán ngay giữa hư không</span>, <span>được Phật ấn ký làm Phật hiệu “Pháp Minh”</span>.</li><li>Phẩm này là <span>bản đồ cứu độ mạt pháp</span>, dạy hành giả <span>không sợ ác đạo, chỉ sợ không độ</span>, <span>truyền kinh Niết-bàn là truyền Phật sống</span>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 17: Phẩm Phú Lâu Na Ca Thán – Truyền Pháp Cứu Độ</h3><p>Sau khi chia xá-lợi, mười tháp đã xây, đại chúng chuẩn bị ra về.</p><p>Bỗng nhiên, hư không sáng rực, đất rung sáu cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đứng trên hoa sen ngàn cánh, ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.</p><p>Đại chúng kinh hãi, đồng thanh reo:</p><blockquote><em>“</em><em>Phật chưa diệt! Phật lại hiện!</em><em>”</em></blockquote><p>Phật chỉ tay về phía Tây, gọi lớn:</p><blockquote><em>“Phú Lâu Na!</em></blockquote><blockquote><em>Con ở đâu? Mau đến đây!</em><em>”</em></blockquote><p>Phú Lâu Na – đang ngồi thiền dưới gốc cây – nghe tiếng Phật, bay lên hư không, quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng:</p><blockquote><em>“</em><em>Bạch Thế Tôn! Con tưởng Ngài đã nhập diệt!</em></blockquote><blockquote><em>Con nguyện vào địa ngục độ chúng sanh, không sợ khổ, chỉ sợ không được nghe pháp!</em><em>”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn chiếu vào trán Phú Lâu Na, nói:</p><blockquote><em>“Lành thay, Phú Lâu Na!</em></blockquote><blockquote><em>Con là đệ tử dũng mãnh nhất của Ta.</em></blockquote><blockquote><em>Con đã từng nguyện vào địa ngục độ chúng sanh.</em></blockquote><blockquote><em>Hôm nay, Ta truyền cho con sứ mệnh cuối cùng.</em><em>”</em></blockquote><p>Phật dùng 8 thí dụ để phó chúc:</p><ol><li><span>Mưa pháp rơi khắp</span> – <span>một giọt thấm = ngàn cây xanh</span>.</li><li><span>Một người nghe kinh Niết-bàn = ngàn người được độ.</span></li><li><span>Thuyền từ qua biển</span> – <span>một người lên bờ = cả thuyền được cứu</span>.</li><li><span>Một người ngộ Phật tánh = cả nhà được độ.</span></li><li><span>Đèn sáng trong đêm</span> – <span>một ngọn thắp = trăm ngọn sáng</span>.</li><li><span>Một người trì kinh = trăm người thấy đường.</span></li><li><span>Hạt giống gieo đất</span> – <span>một hạt nảy = ngàn bông lúa</span>.</li><li><span>Một người hành kinh = ngàn người thành Phật.</span></li><li><span>Thuốc chữa bệnh</span> – <span>một liều uống = cả thân khỏe</span>.</li><li><span>Một câu kinh nghe = cả tâm thanh tịnh.</span></li><li><span>Mây che mặt trời</span> – <span>một khe hở = ánh sáng tràn</span>.</li><li><span>Một người phá tà kiến = cả thành được độ.</span></li><li><span>Sư tử hống</span> – <span>một tiếng vang = muôn thú im</span>.</li><li><span>Một người nói kinh = muôn ma cúi đầu.</span></li><li><span>Mặt trăng tròn</span> – <span>một vầng sáng = ngàn sông soi</span>.</li><li><span>Một người chứng Niết-bàn = ngàn đời sáng tỏ.</span></li></ol><p>Phật truyền sứ mệnh:</p><blockquote><em>“Phú Lâu Na!</em></blockquote><blockquote><em>Con hãy vào thành Sura – nơi 500 người ác, tà kiến, hung bạo, không tin Phật.</em></blockquote><blockquote><em>Dùng kinh Niết-bàn này mà độ họ.</em></blockquote><blockquote><em>Dù họ chửi, đánh, giết – con vẫn mỉm cười, vẫn nói pháp.</em></blockquote><blockquote><em>Một người ngộ = cả thành được cứu.</em><em>”</em></blockquote><p>Phú Lâu Na đứng dậy, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy, nói:</p><blockquote><em>“</em><em>Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!</em></blockquote><blockquote><em>Dù thân này tan thành tro, con vẫn nói kinh Niết-bàn!</em></blockquote><blockquote><em>Dù máu chảy thành sông, con vẫn độ chúng sanh!</em><em>”</em></blockquote><p>Ngay lúc ấy, Phú Lâu Na chứng quả A-la-hán, thân phóng ánh sáng, hư không mưa hoa, trời rồng ca ngợi.</p><p>Phật đưa tay xoa đầu, ấn ký:</p><blockquote><em>“Phú Lâu Na!</em></blockquote><blockquote><em>Đời sau, con sẽ thành Phật, hiệu là “Pháp Minh Như Lai”.</em></blockquote><blockquote><em>Con sẽ độ vô lượng chúng sanh trong mạt pháp.</em></blockquote><blockquote><em>Kinh Niết-bàn này là mẹ của con.</em><em>”</em></blockquote><p>Phật nói kệ phó chúc:</p><blockquote><em>“Phú Lâu Na dũng mãnh,</em></blockquote><blockquote><em>Vào ác độ chúng sanh.</em></blockquote><blockquote><em>Kinh này là ngọn đèn,</em></blockquote><blockquote><em>Soi đêm dài mạt kiếp.</em></blockquote><blockquote><em>Một người nghe, một người ngộ,</em></blockquote><blockquote><em>Ngàn người sáng, vạn người độ.</em></blockquote><blockquote><em>Truyền kinh là truyền Phật,</em></blockquote><blockquote><em>Độ ác là độ mình.</em></blockquote><blockquote><em>Mạt pháp dù đen tối,</em></blockquote><blockquote><em>Một câu kinh là sáng.</em></blockquote><blockquote><em>Ta đi, con còn trụ,</em></blockquote><blockquote><em>Pháp truyền, đạo bất diệt.”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng chuông kinh vang khắp mười phương.</p><p>Phú Lâu Na đảnh lễ, bay về thành Sura, bắt đầu sứ mệnh độ ác.</p><p>Đại chúng im lặng, chắp tay niệm:</p><blockquote><em>“Nam mô Pháp Minh Như Lai!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Kinh Niết-bàn cứu độ!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</em></blockquote><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm Quyển 17 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc tối thượng:</p><ul><li><span>Dũng mãnh như Phú Lâu Na</span>, <span>không sợ ác đạo, chỉ sợ không độ</span>.</li><li><span>Nghe một câu kinh = ngàn người được cứu</span>.</li><li><span>Trì kinh Niết-bàn = trì Phật sống</span>.</li><li><span>Truyền kinh = truyền đèn chánh pháp</span>.</li><li><span>Độ một người ác = độ cả thế giới</span>.</li><li><span>Chứng A-la-hán, thành Phật “Pháp Minh”</span>, <span>độ vô lượng chúng sanh mạt pháp</span>.</li></ul><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường truyền kinh này, người ấy chính là Phú Lâu Na tái sinh, là ngọn đèn sáng giữa ác đạo, là hạt giống Phật cứu độ bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh cứu độ!</p><p>Nam mô Phú Lâu Na Diên Bồ Tát!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 17 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phú Lâu Na Ca Thán – Truyền Pháp Cứu Độ) là lời kêu gọi cuối cùng của Đức Phật sau khi nhập diệt, hiện thân giữa hư không để truyền pháp cho Phú Lâu Na – vị đệ tử dũng mãnh, biện tài, nguyện vào địa ngục độ chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;Phật dạy &lt;span&gt;Phú Lâu Na vào thành Sura (đất tà kiến, người hung ác)&lt;/span&gt; để &lt;span&gt;truyền kinh Niết-bàn&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;cứu độ 500 người ác&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Dùng &lt;span&gt;8 thí dụ&lt;/span&gt; (mưa pháp, thuyền từ, đèn sáng…) để dạy: &lt;span&gt;một người ngộ = cả thế giới sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Phú Lâu Na chứng A-la-hán ngay giữa hư không&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;được Phật ấn ký làm Phật hiệu “Pháp Minh”&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phẩm này là &lt;span&gt;bản đồ cứu độ mạt pháp&lt;/span&gt;, dạy hành giả &lt;span&gt;không sợ ác đạo, chỉ sợ không độ&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;truyền kinh Niết-bàn là truyền Phật sống&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 17: Phẩm Phú Lâu Na Ca Thán – Truyền Pháp Cứu Độ&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Sau khi chia xá-lợi, mười tháp đã xây, đại chúng chuẩn bị ra về.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỗng nhiên, hư không sáng rực, đất rung sáu cách, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đứng trên hoa sen ngàn cánh, ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng kinh hãi, đồng thanh reo:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Phật chưa diệt! Phật lại hiện!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật chỉ tay về phía Tây, gọi lớn:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Phú Lâu Na!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con ở đâu? Mau đến đây!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na – đang ngồi thiền dưới gốc cây – nghe tiếng Phật, bay lên hư không, quỳ trước Phật, nước mắt lưng tròng:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Bạch Thế Tôn! Con tưởng Ngài đã nhập diệt!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con nguyện vào địa ngục độ chúng sanh, không sợ khổ, chỉ sợ không được nghe pháp!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn chiếu vào trán Phú Lâu Na, nói:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Lành thay, Phú Lâu Na!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con là đệ tử dũng mãnh nhất của Ta.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con đã từng nguyện vào địa ngục độ chúng sanh.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Hôm nay, Ta truyền cho con sứ mệnh cuối cùng.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 8 thí dụ để phó chúc:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mưa pháp rơi khắp&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một giọt thấm = ngàn cây xanh&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một người nghe kinh Niết-bàn = ngàn người được độ.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thuyền từ qua biển&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một người lên bờ = cả thuyền được cứu&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một người ngộ Phật tánh = cả nhà được độ.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Đèn sáng trong đêm&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một ngọn thắp = trăm ngọn sáng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một người trì kinh = trăm người thấy đường.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hạt giống gieo đất&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một hạt nảy = ngàn bông lúa&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một người hành kinh = ngàn người thành Phật.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thuốc chữa bệnh&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một liều uống = cả thân khỏe&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một câu kinh nghe = cả tâm thanh tịnh.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mây che mặt trời&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một khe hở = ánh sáng tràn&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một người phá tà kiến = cả thành được độ.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Sư tử hống&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một tiếng vang = muôn thú im&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một người nói kinh = muôn ma cúi đầu.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Mặt trăng tròn&lt;/span&gt; – &lt;span&gt;một vầng sáng = ngàn sông soi&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Một người chứng Niết-bàn = ngàn đời sáng tỏ.&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Phật truyền sứ mệnh:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Phú Lâu Na!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con hãy vào thành Sura – nơi 500 người ác, tà kiến, hung bạo, không tin Phật.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dùng kinh Niết-bàn này mà độ họ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dù họ chửi, đánh, giết – con vẫn mỉm cười, vẫn nói pháp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người ngộ = cả thành được cứu.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na đứng dậy, ánh sáng từ thân bắn ra, quỳ lạy, nói:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dù thân này tan thành tro, con vẫn nói kinh Niết-bàn!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Dù máu chảy thành sông, con vẫn độ chúng sanh!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Ngay lúc ấy, Phú Lâu Na chứng quả A-la-hán, thân phóng ánh sáng, hư không mưa hoa, trời rồng ca ngợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay xoa đầu, ấn ký:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Phú Lâu Na!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Đời sau, con sẽ thành Phật, hiệu là “Pháp Minh Như Lai”.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con sẽ độ vô lượng chúng sanh trong mạt pháp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Kinh Niết-bàn này là mẹ của con.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ phó chúc:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Phú Lâu Na dũng mãnh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Vào ác độ chúng sanh.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Kinh này là ngọn đèn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Soi đêm dài mạt kiếp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người nghe, một người ngộ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ngàn người sáng, vạn người độ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Truyền kinh là truyền Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Độ ác là độ mình.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Mạt pháp dù đen tối,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một câu kinh là sáng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta đi, con còn trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Pháp truyền, đạo bất diệt.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng chuông kinh vang khắp mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na đảnh lễ, bay về thành Sura, bắt đầu sứ mệnh độ ác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng im lặng, chắp tay niệm:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Nam mô Pháp Minh Như Lai!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Kinh Niết-bàn cứu độ!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 17 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Dũng mãnh như Phú Lâu Na&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;không sợ ác đạo, chỉ sợ không độ&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nghe một câu kinh = ngàn người được cứu&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trì kinh Niết-bàn = trì Phật sống&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Truyền kinh = truyền đèn chánh pháp&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Độ một người ác = độ cả thế giới&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Chứng A-la-hán, thành Phật “Pháp Minh”&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;độ vô lượng chúng sanh mạt pháp&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường truyền kinh này, người ấy chính là Phú Lâu Na tái sinh, là ngọn đèn sáng giữa ác đạo, là hạt giống Phật cứu độ bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh cứu độ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Phú Lâu Na Diên Bồ Tát!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5861459" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/739513b6-152f-4536-b037-c0de3d247cf2/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ff4b260b-cf0e-40e8-bef3-b96d6fde2ef5</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/739513b6-152f-4536-b037-c0de3d247cf2</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 07:09:18 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/7/c5340efe-e987-4ff2-bea2-17ccd2bc8a07_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>366</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 16</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 16</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><br></p><h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 16 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phân Xá Lợi – Kết Thán) là đại viên mãn của 40 quyển kinh:</p><ul><li><span>Tám vua chia xá-lợi</span>, <span>xây tám tháp</span>, <span>trời rồng chia thêm</span>, <span>tháp thứ mười ở trời Đao Lợi</span>.</li><li>Phật <span>hiện thân Kim Cương bất hoại lần cuối</span>, <span>đứng trên hư không</span>, <span>nói kệ phó chúc toàn kinh</span>, <span>kết luận bốn chân lý</span>:</li></ul><ol><li><span>Phật tánh thường trụ</span>,</li><li><span>Niết-bàn là nhà</span>,</li><li><span>Chánh pháp là thuyền</span>,</li><li><span>Tự tâm là Phật</span>.</li></ol><ul><li><span>Kinh Niết-bàn này là mắt của chư Phật</span>, <span>là mẹ sinh ra vô lượng Bồ-tát</span>, <span>là ánh sáng cuối cùng giữa mạt pháp</span>.</li><li>Phẩm này <span>khép lại 49 năm thuyết pháp</span>, <span>mở ra thời đại tự ngộ</span>, dạy hành giả <span>thấy Phật trong tâm, nhập Niết-bàn ngay trong đời</span>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 16: Phẩm Phân Xá Lợi – Kết Thán</h3><p>Sau khi hỏa táng, thân Phật hóa thành vô lượng xá-lợi, sáng như ngọc ma-ni, màu như vàng ròng, cứng như kim cương, không thể phá vỡ.</p><p>Tám vua lớn – đại diện tám nước – quỳ trước giàn hỏa, chắp tay xin chia xá-lợi:</p><ol><li><span>A-xà-thế vương</span> (Ma-kiệt-đà),</li><li><span>Ba-tư-nặc vương</span> (Kiều-tát-la),</li><li><span>Ưu-đà-diên vương</span>,</li><li><span>Bạt-đề vương</span>,</li><li><span>Tần-bà-sa-la vương</span>,</li><li><span>Ly-sấu vương</span>,</li><li><span>Chiêm-bà vương</span>,</li><li><span>Cáp-lợi vương</span>.</li></ol><p>Mỗi vua dâng bình vàng, khóc:</p><blockquote><em>“</em><em>Xin cho chúng con một phần xá-lợi, để xây tháp cúng dường, độ chúng sanh đời sau!</em><em>”</em></blockquote><p>Ca Diếp đứng dậy, giọng như sấm:</p><blockquote><em>“</em><em>Xá-lợi thuộc về chánh pháp, không thuộc về vua chúa. Hãy chia đều, để khắp nơi có Phật.</em><em>”</em></blockquote><p>Bình chia xá-lợi tự nhiên hiện ra, chia làm tám phần bằng nhau, sáng rực như mặt trời.</p><p>Tám vua nhận xá-lợi, quỳ lạy, rồi trở về nước xây tám bảo tháp:</p><ul><li><span>Tháp vàng, tháp bạc, tháp lưu ly, tháp pha lê</span>,</li><li><span>Cao bảy tầng, rộng trăm do-tuần</span>,</li><li><span>Trên đỉnh treo lọng báu, chuông vàng, hoa trời rơi không ngừng</span>.</li></ul><p>Trời Đế Thích và rồng vương cũng xin:</p><ul><li><span>Đế Thích</span> xin <span>bình chia xá-lợi</span>, xây <span>tháp thứ chín ở trời Đao Lợi</span>.</li><li><span>Rồng vương</span> xin <span>tro than</span>, xây <span>tháp thứ mười dưới biển</span>.</li></ul><p>Tổng cộng mười tháp, mười phương cúng dường, mười đời hộ pháp.</p><p>Bỗng nhiên, đất rung, hư không sáng rực, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đứng trên hư không, ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.</p><p>Đại chúng kinh hãi, đồng thanh reo:</p><blockquote><em>“</em><em>Phật chưa diệt! Phật chưa diệt!</em><em>”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, nói kệ kết toàn kinh – lời cuối cùng của 40 quyển Niết-bàn:</p><blockquote><em>“Xá-lợi là xương cứng,</em></blockquote><blockquote><em>Pháp thân là ánh sáng.</em></blockquote><blockquote><em>Tám tháp mười phương trụ,</em></blockquote><blockquote><em>Phật tánh khắp muôn phương.</em></blockquote><blockquote><em>Niết-bàn là nhà xưa,</em></blockquote><blockquote><em>Chánh pháp là thuyền bè.</em></blockquote><blockquote><em>Tự tâm vốn là Phật,</em></blockquote><blockquote><em>Không tìm ở nơi xa.</em></blockquote><blockquote><em>Kinh này là mắt Phật,</em></blockquote><blockquote><em>Giới này là thân Phật,</em></blockquote><blockquote><em>Tăng này là hơi thở,</em></blockquote><blockquote><em>Tam bảo trụ ngàn kiếp.</em></blockquote><blockquote><em>Ai nghe kinh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>Thấy Phật trong tự tâm.</em></blockquote><blockquote><em>Ai trì kinh Niết-bàn,</em></blockquote><blockquote><em>Nhập Niết-bàn ngay đây.</em></blockquote><blockquote><em>Mạt pháp dù đen tối,</em></blockquote><blockquote><em>Một người ngộ là sáng.</em></blockquote><blockquote><em>Ta đi, pháp còn trụ,</em></blockquote><blockquote><em>Tâm truyền, đạo bất diệt.”</em></blockquote><p>Phật đưa tay chỉ Ca Diếp:</p><blockquote><em>“Ca Diếp là Tổ thứ nhất.</em></blockquote><blockquote><em>Truyền đăng tục diệm, đời đời không dứt.</em></blockquote><blockquote><em>Ai cúng tháp, cúng kinh, cúng Tăng – là cúng dường Ta.</em></blockquote><blockquote><em>Ai phá tháp, phá kinh, phá Tăng – là phá Ta.</em><em>”</em></blockquote><p>Phật nói lời cuối:</p><blockquote><em>“Này đại chúng!</em></blockquote><blockquote><em>Kinh Niết-bàn này là mẹ sinh ra chư Phật.</em></blockquote><blockquote><em>Ai nghe, ai trì, ai hành – người ấy là Bồ-tát, là Phật tương lai.</em></blockquote><blockquote><em>Ta đã nói xong. Hãy tinh tấn!</em><em>”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng chuông tháp vang khắp mười phương.</p><p>Đại chúng im lặng, chắp tay đảnh lễ, đồng thanh niệm:</p><blockquote><em>“Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Thập Phương Bảo Tháp!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Phật Tánh Bất Diệt!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”</em></blockquote><p>Kinh Niết-bàn kết thúc.</p><p>49 năm thuyết pháp viên mãn.</p><p>Phật tánh đã gieo.</p><p>Niết-bàn đã mở.</p><p>Chánh pháp nhãn tạng đã truyền.</p><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm Quyển 16 Kinh Đại Bát Niết Bàn – lời kết của toàn kinh – mang lại lợi lạc tối thượng:</p><ul><li><span>Thấy Phật Kim Cương</span>, biết <span>Phật chưa từng diệt</span>.</li><li><span>Thấy mười tháp</span>, biết <span>Phật ở khắp mười phương</span>.</li><li><span>Nghe kệ phó chúc</span>, <span>ngộ tự tâm là Phật</span>.</li><li><span>Trì kinh Niết-bàn</span>, <span>trở thành mẹ sinh chư Phật</span>.</li><li><span>Hộ tháp, hộ kinh, hộ Tăng</span>, <span>trụ trì Tam bảo ngàn kiếp</span>.</li><li><span>Nhập Niết-bàn ngay trong đời này</span>, <span>độ vô lượng chúng sanh</span>.</li></ul><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường cúng dường kinh này, người ấy chính là Bồ-tát cuối cùng, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống Phật bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh viên mãn!</p><p>Nam mô Thập Phương Phật, Pháp, Tăng thường trụ!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 16 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Phân Xá Lợi – Kết Thán) là đại viên mãn của 40 quyển kinh:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tám vua chia xá-lợi&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;xây tám tháp&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;trời rồng chia thêm&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;tháp thứ mười ở trời Đao Lợi&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;span&gt;hiện thân Kim Cương bất hoại lần cuối&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;đứng trên hư không&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;nói kệ phó chúc toàn kinh&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;kết luận bốn chân lý&lt;/span&gt;:&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Phật tánh thường trụ&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Niết-bàn là nhà&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Chánh pháp là thuyền&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tự tâm là Phật&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Kinh Niết-bàn này là mắt của chư Phật&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;là mẹ sinh ra vô lượng Bồ-tát&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;là ánh sáng cuối cùng giữa mạt pháp&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phẩm này &lt;span&gt;khép lại 49 năm thuyết pháp&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;mở ra thời đại tự ngộ&lt;/span&gt;, dạy hành giả &lt;span&gt;thấy Phật trong tâm, nhập Niết-bàn ngay trong đời&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 16: Phẩm Phân Xá Lợi – Kết Thán&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Sau khi hỏa táng, thân Phật hóa thành vô lượng xá-lợi, sáng như ngọc ma-ni, màu như vàng ròng, cứng như kim cương, không thể phá vỡ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tám vua lớn – đại diện tám nước – quỳ trước giàn hỏa, chắp tay xin chia xá-lợi:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;A-xà-thế vương&lt;/span&gt; (Ma-kiệt-đà),&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ba-tư-nặc vương&lt;/span&gt; (Kiều-tát-la),&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ưu-đà-diên vương&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Bạt-đề vương&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tần-bà-sa-la vương&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ly-sấu vương&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Chiêm-bà vương&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Cáp-lợi vương&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Mỗi vua dâng bình vàng, khóc:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Xin cho chúng con một phần xá-lợi, để xây tháp cúng dường, độ chúng sanh đời sau!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp đứng dậy, giọng như sấm:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Xá-lợi thuộc về chánh pháp, không thuộc về vua chúa. Hãy chia đều, để khắp nơi có Phật.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Bình chia xá-lợi tự nhiên hiện ra, chia làm tám phần bằng nhau, sáng rực như mặt trời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tám vua nhận xá-lợi, quỳ lạy, rồi trở về nước xây tám bảo tháp:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tháp vàng, tháp bạc, tháp lưu ly, tháp pha lê&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Cao bảy tầng, rộng trăm do-tuần&lt;/span&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trên đỉnh treo lọng báu, chuông vàng, hoa trời rơi không ngừng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Trời Đế Thích và rồng vương cũng xin:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Đế Thích&lt;/span&gt; xin &lt;span&gt;bình chia xá-lợi&lt;/span&gt;, xây &lt;span&gt;tháp thứ chín ở trời Đao Lợi&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Rồng vương&lt;/span&gt; xin &lt;span&gt;tro than&lt;/span&gt;, xây &lt;span&gt;tháp thứ mười dưới biển&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Tổng cộng mười tháp, mười phương cúng dường, mười đời hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỗng nhiên, đất rung, hư không sáng rực, Phật hiện thân Kim Cương bất hoại, cao lớn như núi Tu-di, đứng trên hư không, ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng kinh hãi, đồng thanh reo:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Phật chưa diệt! Phật chưa diệt!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra, nói kệ kết toàn kinh – lời cuối cùng của 40 quyển Niết-bàn:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Xá-lợi là xương cứng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Pháp thân là ánh sáng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Tám tháp mười phương trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Phật tánh khắp muôn phương.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Niết-bàn là nhà xưa,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Chánh pháp là thuyền bè.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Tự tâm vốn là Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Không tìm ở nơi xa.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Kinh này là mắt Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Giới này là thân Phật,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Tăng này là hơi thở,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Tam bảo trụ ngàn kiếp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai nghe kinh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Thấy Phật trong tự tâm.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai trì kinh Niết-bàn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nhập Niết-bàn ngay đây.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Mạt pháp dù đen tối,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Một người ngộ là sáng.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta đi, pháp còn trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Tâm truyền, đạo bất diệt.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ Ca Diếp:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Ca Diếp là Tổ thứ nhất.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Truyền đăng tục diệm, đời đời không dứt.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai cúng tháp, cúng kinh, cúng Tăng – là cúng dường Ta.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai phá tháp, phá kinh, phá Tăng – là phá Ta.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật nói lời cuối:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Này đại chúng!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Kinh Niết-bàn này là mẹ sinh ra chư Phật.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai nghe, ai trì, ai hành – người ấy là Bồ-tát, là Phật tương lai.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta đã nói xong. Hãy tinh tấn!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Kim Cương tan vào hư không, chỉ còn tiếng chuông tháp vang khắp mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng im lặng, chắp tay đảnh lễ, đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Thập Phương Bảo Tháp!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Phật Tánh Bất Diệt!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Kinh Niết-bàn kết thúc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;49 năm thuyết pháp viên mãn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh đã gieo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn đã mở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp nhãn tạng đã truyền.&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 16 Kinh Đại Bát Niết Bàn – lời kết của toàn kinh – mang lại lợi lạc tối thượng:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thấy Phật Kim Cương&lt;/span&gt;, biết &lt;span&gt;Phật chưa từng diệt&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thấy mười tháp&lt;/span&gt;, biết &lt;span&gt;Phật ở khắp mười phương&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nghe kệ phó chúc&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;ngộ tự tâm là Phật&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Trì kinh Niết-bàn&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;trở thành mẹ sinh chư Phật&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hộ tháp, hộ kinh, hộ Tăng&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;trụ trì Tam bảo ngàn kiếp&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Nhập Niết-bàn ngay trong đời này&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;độ vô lượng chúng sanh&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường cúng dường kinh này, người ấy chính là Bồ-tát cuối cùng, là ngọn đèn sáng giữa mạt pháp, là hạt giống Phật bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh viên mãn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Thập Phương Phật, Pháp, Tăng thường trụ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5473175" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/95ebd76c-654a-4557-82e0-69bcc8d79432/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ecbf17e7-2cb3-46b3-a9db-1a5da4090eb2</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/95ebd76c-654a-4557-82e0-69bcc8d79432</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 06:59:54 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/6/0aa4c554-6e08-4b15-b236-1c9901024c06_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>342</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 15</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 15</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><br></p><h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh</h3><p>Quyển 15 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Bi Thán) là tiếng khóc của tám bộ chúng ngay sau khi Phật nhập Niết-bàn.</p><ul><li><span>A-nan</span> khóc ngất, <span>Ca Diếp</span> gào thét, <span>trời người, rồng thần, A-tu-la</span> cùng <span>đập đầu, rải máu, cắt thịt</span> để bày tỏ nỗi đau mất Phật.</li><li>Phật <span>hiện thân Kim Cương bất hoại</span> giữa hỏa táng, <span>mỉm cười, bước ra khỏi quan tài</span>, <span>dạy lần cuối</span>:</li><li><span>“Đừng khóc! Ta chưa từng diệt. Ta ở trong pháp, trong giới, trong Tăng, trong tâm các ông.”</span></li><li><span>Phật tánh bất diệt</span>, <span>Niết-bàn bất diệt</span>, <span>chánh pháp bất diệt</span>.</li><li>Phẩm này <span>chuyển đại bi thành đại ngộ</span>, dạy hành giả <span>không còn khóc Phật</span>, mà <span>khóc cho chính mình chưa ngộ</span>, <span>tự lực tinh tấn</span>, <span>thấy Phật trong tâm</span>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 15: Phẩm Bi Thán</h3><p>Ngay sau khi Phật nhập diệt, giác quan như vỡ, đất trời như nứt.</p><p>A-nan – người em họ, người hầu cận 25 năm – ôm đầu gào khóc, ngã lăn trên đất, máu chảy từ trán:</p><blockquote><em>“</em><em>Phật ơi! Phật ơi!</em></blockquote><blockquote><em>Con mất thầy rồi!</em></blockquote><blockquote><em>Con mất ánh sáng rồi!</em></blockquote><blockquote><em>Ai sẽ chỉ đường cho con?</em><em>”</em></blockquote><p>A-na-luật (mù mắt) đứng lặng, nước mắt chảy thành dòng, nói:</p><blockquote><em>“</em><em>Ta không thấy thân Phật, nhưng ta thấy Pháp thân còn sáng.</em><em>”</em></blockquote><p>Ca Diếp từ xa chạy đến, thấy Phật đã nhập diệt, đập đầu xuống đất, gào lớn:</p><blockquote><em>“</em><em>Bạch Thế Tôn! Con chưa kịp về!</em></blockquote><blockquote><em>Con chưa kịp lạy lần cuối!</em></blockquote><blockquote><em>Con chưa kịp nghe lời phó chúc cuối!</em><em>”</em></blockquote><p>Tám bộ chúng – trời, người, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la – đồng thanh khóc, đập đầu, cắt thịt, hiến máu, trời mưa máu, đất nứt thành khe.</p><p>Bốn bộ đệ tử quỳ quanh thân Phật vàng ròng, khóc từng hồi:</p><ul><li><span>Tỳ-kheo</span>: “<span>Phật nhập diệt, chúng con như trẻ mồ côi!</span>”</li><li><span>Tỳ-kheo-ni</span>: “<span>Phật nhập diệt, ai che chở cho chúng con?</span>”</li><li><span>Ưu-bà-tắc</span>: “<span>Phật nhập diệt, ai dạy chúng con bố thí?</span>”</li><li><span>Ưu-bà-di</span>: “<span>Phật nhập diệt, ai dạy chúng con trì giới?</span>”</li></ul><p>Trời Đế Thích rải hoa, khóc: “Mặt trời trí tuệ đã lặn!”</p><p>Ma vương cúi đầu, khóc: “Kẻ thù của ta đã đi!”</p><p>Rồng vương phun nước mắt thành mưa: “Ai sẽ độ chúng con?”</p><p>Đại chúng quyết định hỏa táng.</p><p>Dùng gỗ chiên-đàn thơm, xếp thành giàn cao bảy tầng, đặt thân Phật vào quan tài vàng.</p><p>Nhưng lửa không cháy!</p><p>Dù đốt bao nhiêu lần, lửa vẫn tắt.</p><p>Ca Diếp bạch:</p><blockquote><em>“</em><em>Phật chưa cho phép!</em></blockquote><blockquote><em>Phật chờ chúng con ngộ!</em><em>”</em></blockquote><p>Bỗng nhiên, đất rung, giàn củi tự bốc cháy, lửa vàng rực rỡ, nhưng không nóng.</p><p>Quan tài tự mở.</p><p>Thân Phật – vẫn vàng ròng, vẫn mỉm cười – bước ra khỏi lửa, đứng trên hư không, ánh sáng chiếu mười phương.</p><p>Đại chúng kinh hãi, đồng thanh reo:</p><blockquote><em>“</em><em>Phật chưa diệt! Phật chưa diệt!</em><em>”</em></blockquote><p>Phật dùng giọng sư tử hống, vang khắp tam thiên đại thiên thế giới:</p><blockquote><em>“Này đại chúng!</em></blockquote><blockquote><em>Đừng khóc!</em></blockquote><blockquote><em>Ta chưa từng sinh, làm sao có diệt?</em></blockquote><blockquote><em>Thân này chỉ là hóa thân, thị hiện sinh diệt để dạy vô thường.</em></blockquote><blockquote><em>Pháp thân Ta như hư không – không sinh, không diệt, không đến, không đi.</em></blockquote><blockquote><em>Ta ở đâu?</em></blockquote><ul><li><em>Ta ở trong kinh Niết-bàn này.</em></li><li><em>Ta ở trong giới luật.</em></li><li><em>Ta ở trong Tăng đoàn.</em></li><li><em>Ta ở trong tháp miếu.</em></li><li><em>Ta ở trong tâm người trì giới.</em></li><li><em>Ta ở trong miệng người nói pháp.</em></li><li><em>Ta ở trong mắt người thấy Phật tánh.</em></li></ul><blockquote><em>Ai khóc Ta, là khóc chính mình chưa ngộ.</em></blockquote><blockquote><em>Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta.</em></blockquote><blockquote><em>Ai thấy Phật tánh, người ấy nhập Niết-bàn.</em><em>”</em></blockquote><p>Phật đưa tay chỉ Ca Diếp:</p><blockquote><em>“Ca Diếp là mẹ của chánh pháp.</em></blockquote><blockquote><em>Ai cúng dường Ca Diếp, là cúng dường Ta.</em></blockquote><blockquote><em>Ai nghe Ca Diếp, là nghe Ta.</em></blockquote><blockquote><em>Ai phá Ca Diếp, là phá Ta.</em><em>”</em></blockquote><p>Phật nói kệ cuối cùng:</p><blockquote><em>“Thân này như lửa tụ,</em></blockquote><blockquote><em>Hết củi, lửa tự tắt.</em></blockquote><blockquote><em>Pháp thân không sinh diệt,</em></blockquote><blockquote><em>Thường trụ trong tâm ông.</em></blockquote><blockquote><em>Đừng khóc Phật đã đi,</em></blockquote><blockquote><em>Khóc mình chưa tự độ.</em></blockquote><blockquote><em>Tự thắp đuốc mà đi,</em></blockquote><blockquote><em>Niết-bàn ở ngay đây.”</em></blockquote><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Phật tự nhiên trở lại quan tài, lửa lại cháy, thiêu thân hóa thành xá-lợi.</p><p>Đại chúng ngừng khóc, chắp tay đảnh lễ, đồng thanh niệm:</p><blockquote><em>“Nam mô Phật bất diệt!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Pháp bất diệt!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Tăng bất diệt!</em></blockquote><blockquote><em>Nam mô Phật tánh bất diệt!”</em></blockquote><p>Trời mưa hoa, đất thơm chiên-đàn, tám bộ chúng chia xá-lợi, xây tháp cúng dường.</p><p>Chánh pháp nhãn tạng đã truyền.</p><p>Phật tánh đã gieo.</p><p>Niết-bàn đã mở.</p><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm Quyển 15 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc bất tư nghị:</p><ul><li><span>Chuyển bi ai thành đại ngộ</span>, biết <span>Phật chưa từng diệt</span>.</li><li><span>Thấy Pháp thân</span>, biết <span>Phật ở trong kinh, trong tâm</span>.</li><li><span>Không còn khóc Phật</span>, mà <span>khóc cho mình chưa tinh tấn</span>.</li><li><span>Tự lực thấy Phật tánh</span>, <span>tự nhập Niết-bàn</span>.</li><li><span>Hộ trì Tam bảo</span>, <span>giữ giới, trì kinh, hộ Tăng</span>.</li><li><span>Sinh Tịnh độ</span>, <span>thành Phật đạo</span>, <span>độ vô lượng chúng sanh</span>.</li></ul><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là người thấy Phật sống, là ngọn đèn sáng giữa đêm đen, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!</p><p>Nam mô Phật Kim Cương Bất Hoại!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 15 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Bi Thán) là tiếng khóc của tám bộ chúng ngay sau khi Phật nhập Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;A-nan&lt;/span&gt; khóc ngất, &lt;span&gt;Ca Diếp&lt;/span&gt; gào thét, &lt;span&gt;trời người, rồng thần, A-tu-la&lt;/span&gt; cùng &lt;span&gt;đập đầu, rải máu, cắt thịt&lt;/span&gt; để bày tỏ nỗi đau mất Phật.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phật &lt;span&gt;hiện thân Kim Cương bất hoại&lt;/span&gt; giữa hỏa táng, &lt;span&gt;mỉm cười, bước ra khỏi quan tài&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;dạy lần cuối&lt;/span&gt;:&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;“Đừng khóc! Ta chưa từng diệt. Ta ở trong pháp, trong giới, trong Tăng, trong tâm các ông.”&lt;/span&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Phật tánh bất diệt&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;Niết-bàn bất diệt&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;chánh pháp bất diệt&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phẩm này &lt;span&gt;chuyển đại bi thành đại ngộ&lt;/span&gt;, dạy hành giả &lt;span&gt;không còn khóc Phật&lt;/span&gt;, mà &lt;span&gt;khóc cho chính mình chưa ngộ&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;tự lực tinh tấn&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;thấy Phật trong tâm&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 15: Phẩm Bi Thán&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Ngay sau khi Phật nhập diệt, giác quan như vỡ, đất trời như nứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan – người em họ, người hầu cận 25 năm – ôm đầu gào khóc, ngã lăn trên đất, máu chảy từ trán:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Phật ơi! Phật ơi!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con mất thầy rồi!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con mất ánh sáng rồi!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai sẽ chỉ đường cho con?&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;A-na-luật (mù mắt) đứng lặng, nước mắt chảy thành dòng, nói:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Ta không thấy thân Phật, nhưng ta thấy Pháp thân còn sáng.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp từ xa chạy đến, thấy Phật đã nhập diệt, đập đầu xuống đất, gào lớn:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Bạch Thế Tôn! Con chưa kịp về!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con chưa kịp lạy lần cuối!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Con chưa kịp nghe lời phó chúc cuối!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Tám bộ chúng – trời, người, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la – đồng thanh khóc, đập đầu, cắt thịt, hiến máu, trời mưa máu, đất nứt thành khe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn bộ đệ tử quỳ quanh thân Phật vàng ròng, khóc từng hồi:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tỳ-kheo&lt;/span&gt;: “&lt;span&gt;Phật nhập diệt, chúng con như trẻ mồ côi!&lt;/span&gt;”&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tỳ-kheo-ni&lt;/span&gt;: “&lt;span&gt;Phật nhập diệt, ai che chở cho chúng con?&lt;/span&gt;”&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ưu-bà-tắc&lt;/span&gt;: “&lt;span&gt;Phật nhập diệt, ai dạy chúng con bố thí?&lt;/span&gt;”&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Ưu-bà-di&lt;/span&gt;: “&lt;span&gt;Phật nhập diệt, ai dạy chúng con trì giới?&lt;/span&gt;”&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Trời Đế Thích rải hoa, khóc: “Mặt trời trí tuệ đã lặn!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma vương cúi đầu, khóc: “Kẻ thù của ta đã đi!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồng vương phun nước mắt thành mưa: “Ai sẽ độ chúng con?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng quyết định hỏa táng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng gỗ chiên-đàn thơm, xếp thành giàn cao bảy tầng, đặt thân Phật vào quan tài vàng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng lửa không cháy!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù đốt bao nhiêu lần, lửa vẫn tắt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Phật chưa cho phép!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Phật chờ chúng con ngộ!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Bỗng nhiên, đất rung, giàn củi tự bốc cháy, lửa vàng rực rỡ, nhưng không nóng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quan tài tự mở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân Phật – vẫn vàng ròng, vẫn mỉm cười – bước ra khỏi lửa, đứng trên hư không, ánh sáng chiếu mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng kinh hãi, đồng thanh reo:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“&lt;/em&gt;&lt;em&gt;Phật chưa diệt! Phật chưa diệt!&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật dùng giọng sư tử hống, vang khắp tam thiên đại thiên thế giới:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Này đại chúng!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Đừng khóc!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta chưa từng sinh, làm sao có diệt?&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Thân này chỉ là hóa thân, thị hiện sinh diệt để dạy vô thường.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Pháp thân Ta như hư không – không sinh, không diệt, không đến, không đi.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta ở đâu?&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Ta ở trong kinh Niết-bàn này.&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Ta ở trong giới luật.&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Ta ở trong Tăng đoàn.&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Ta ở trong tháp miếu.&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Ta ở trong tâm người trì giới.&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Ta ở trong miệng người nói pháp.&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;em&gt;Ta ở trong mắt người thấy Phật tánh.&lt;/em&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai khóc Ta, là khóc chính mình chưa ngộ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai thấy Phật tánh, người ấy nhập Niết-bàn.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ Ca Diếp:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Ca Diếp là mẹ của chánh pháp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai cúng dường Ca Diếp, là cúng dường Ta.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai nghe Ca Diếp, là nghe Ta.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ai phá Ca Diếp, là phá Ta.&lt;/em&gt;&lt;em&gt;”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ cuối cùng:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Thân này như lửa tụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Hết củi, lửa tự tắt.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Pháp thân không sinh diệt,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Thường trụ trong tâm ông.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Đừng khóc Phật đã đi,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Khóc mình chưa tự độ.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Tự thắp đuốc mà đi,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Niết-bàn ở ngay đây.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi thân Phật tự nhiên trở lại quan tài, lửa lại cháy, thiêu thân hóa thành xá-lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng ngừng khóc, chắp tay đảnh lễ, đồng thanh niệm:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Nam mô Phật bất diệt!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Pháp bất diệt!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Tăng bất diệt!&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Nam mô Phật tánh bất diệt!”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Trời mưa hoa, đất thơm chiên-đàn, tám bộ chúng chia xá-lợi, xây tháp cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp nhãn tạng đã truyền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh đã gieo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn đã mở.&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 15 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc bất tư nghị:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Chuyển bi ai thành đại ngộ&lt;/span&gt;, biết &lt;span&gt;Phật chưa từng diệt&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Thấy Pháp thân&lt;/span&gt;, biết &lt;span&gt;Phật ở trong kinh, trong tâm&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Không còn khóc Phật&lt;/span&gt;, mà &lt;span&gt;khóc cho mình chưa tinh tấn&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Tự lực thấy Phật tánh&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;tự nhập Niết-bàn&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Hộ trì Tam bảo&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;giữ giới, trì kinh, hộ Tăng&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;span&gt;Sinh Tịnh độ&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;thành Phật đạo&lt;/span&gt;, &lt;span&gt;độ vô lượng chúng sanh&lt;/span&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là người thấy Phật sống, là ngọn đèn sáng giữa đêm đen, là hạt giống Niết-bàn bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Phật Kim Cương Bất Hoại!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5932512" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/4d5e3511-0f24-4ff9-93f3-3f32bd847b24/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d889209e-6c01-46bc-9423-78289cf84d4f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/4d5e3511-0f24-4ff9-93f3-3f32bd847b24</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 06:56:08 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>370</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 14</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 14</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</h3><p>Quyển 14 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm <strong>Nhập Niết Bàn</strong>) là <strong>cảnh cuối cùng</strong> của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni:</p><ul><li><strong>Nhập diệt giữa hai cây Ta-la song thọ</strong>, thân nằm nghiêng bên phải, đầu hướng Bắc, mặt hướng Tây.</li><li><strong>Bốn lần hỏi: “Ai còn nghi, hãy hỏi!”</strong> – không ai hỏi, đại chúng <strong>chứng ngộ vô nghi</strong>.</li><li><strong>Lời di giáo cuối cùng</strong>: “<strong>Tất cả pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tinh tấn, chớ phóng dật!</strong>”</li><li><strong>Phật nhập chín tầng thiền định</strong>, từ <strong>sơ thiền đến diệt tận định</strong>, rồi <strong>hóa thân nhập Niết-bàn</strong>.</li><li>**Trời đất rung chuyển, hoa rơi, nhạc trời vang, tám bộ chúng khóc, nhưng Phật đã <strong>hiện tướng tịch diệt để dạy vô thường</strong>. Phẩm này <strong>khép lại 49 năm thuyết pháp</strong>, <strong>mở ra thời đại tự lực</strong>, dạy hành giả <strong>tự thấy Phật tánh, tự nhập Niết-bàn</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 14: Phẩm Nhập Niết Bàn</h3><p><strong>Giữa rừng Ta-la song thọ</strong>, đêm <strong>rằm tháng hai</strong>, <strong>trăng tròn sáng tỏ</strong>, <strong>gió nhẹ không lay lá</strong>, <strong>không khí im lặng như hư không</strong>.</p><p>Đức Phật <strong>nằm nghiêng bên phải</strong> trên <strong>tòa cỏ</strong>,</p><ul><li><strong>Đầu gối lên tay phải</strong>,</li><li><strong>Chân duỗi thẳng</strong>,</li><li><strong>Đầu hướng Bắc</strong>,</li><li><strong>Mặt hướng Tây</strong>,</li><li><strong>Lưng tựa Đông</strong>.</li></ul><p><strong>Ánh sáng vàng ròng</strong> từ thân Phật tỏa ra, <strong>chiếu khắp mười phương</strong>, làm <strong>trời đất sáng như ban ngày</strong>.</p><p>Phật <strong>mở mắt từ bi</strong>, <strong>nhìn đại chúng lần cuối</strong>, rồi <strong>hỏi ba lần</strong>:</p><p><strong>“Này các Tỳ-kheo!</strong></p><p><strong>Ai còn nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng, về khổ, tập, diệt, đạo – hãy hỏi ngay!</strong></p><p><strong>Đừng để sau hối hận!</strong>”</p><p><strong>Im lặng.</strong></p><p>Không một tiếng đáp.</p><p>Phật <strong>hỏi lần thứ tư</strong>:</p><p><strong>“Các ông không hỏi, là vì đã hiểu rõ, hay vì sợ Ta nhập diệt?</strong>”</p><p><strong>A-na-luật</strong> (mù mắt nhưng thấy bằng thiên nhãn) bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! <strong>Chúng con đã hiểu</strong>.</p><p><strong>Phật không sinh, không diệt.</strong></p><p><strong>Pháp không đến, không đi.</strong></p><p><strong>Tăng không hợp, không tan.</strong></p><p><strong>Chúng con đã thấy Phật tánh trong tâm.</strong></p><p><strong>Không còn nghi ngờ.</strong>”</p><p>Phật <strong>mỉm cười</strong>, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra</strong>, nói:</p><p><strong>“Lành thay! Lành thay!</strong></p><p><strong>Các ông đã chứng ngộ.</strong></p><p><strong>Phật tánh các ông vốn thanh tịnh, không sinh không diệt.</strong></p><p><strong>Hôm nay, Ta chỉ thị hiện nhập diệt để dạy vô thường.</strong>”</p><p>Phật <strong>nói lời di giáo cuối cùng</strong>, giọng <strong>như sấm vang, như sư tử hống</strong>:</p><blockquote><strong>“Này các Tỳ-kheo!</strong></blockquote><blockquote><strong>Tất cả pháp hữu vi đều vô thường.</strong></blockquote><blockquote><strong>Dù là thân Ta, dù là núi Tu-di, dù là mặt trời mặt trăng – đều phải hoại diệt.</strong></blockquote><blockquote><strong>Chớ phóng dật!</strong></blockquote><blockquote><strong>Hãy tinh tấn!</strong></blockquote><blockquote><strong>Tự thắp đuốc lên mà đi!</strong></blockquote><blockquote><strong>Lấy chánh pháp làm đèn, lấy giới luật làm thuyền.</strong></blockquote><blockquote><strong>Đừng nương Ta, đừng nương người – chỉ nương Phật tánh trong tâm.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta.</strong></blockquote><blockquote><strong>Ai thấy Phật tánh, người ấy nhập Niết-bàn.</strong>”</blockquote><p>Phật <strong>nhập thiền định</strong>:</p><ol><li><strong>Sơ thiền</strong> – tâm ly dục, ly ác pháp.</li><li><strong>Nhị thiền</strong> – định sinh hỷ lạc.</li><li><strong>Tam thiền</strong> – xả niệm thanh tịnh.</li><li><strong>Tứ thiền</strong> – xả lạc xả khổ.</li><li><strong>Không vô biên xứ</strong>.</li><li><strong>Thức vô biên xứ</strong>.</li><li><strong>Vô sở hữu xứ</strong>.</li><li><strong>Phi tưởng phi phi tưởng xứ</strong>.</li><li><strong>Diệt tận định</strong> – <strong>thân tâm tịch diệt, chỉ còn Phật tánh</strong>.</li></ol><p><strong>Bỗng nhiên</strong>, <strong>ánh sáng từ thân Phật tắt dần</strong>, như <strong>ngọn đèn hết dầu</strong>.</p><p><strong>Đất rung sáu cách</strong>,</p><p><strong>Trời mưa hoa mạn-đà-la</strong>,</p><p><strong>Nhạc trời vang lên</strong>,</p><p><strong>Tám bộ chúng đồng thanh khóc lớn</strong>:</p><ul><li><strong>“Phật nhập Niết-bàn rồi!”</strong></li><li><strong>“Mặt trời trí tuệ đã lặn!”</strong></li><li><strong>“Chúng con như trẻ mồ côi!”</strong></li></ul><p><strong>Ca Diếp</strong> từ xa chạy đến, <strong>đập đầu xuống đất</strong>, khóc:</p><p>“Bạch Thế Tôn! <strong>Con chưa kịp về!</strong>”</p><p><strong>A-nan</strong> ôm đầu khóc ngất:</p><p>“Phật ơi! <strong>Con phải sống sao đây?</strong>”</p><p><strong>Nhưng Phật đã nhập diệt.</strong></p><p><strong>Thân Ngài như vàng ròng</strong>, <strong>nằm bất động</strong>, <strong>mặt như trăng rằm</strong>, <strong>môi còn mỉm cười</strong>.</p><p><strong>Bốn cây Ta-la song thọ</strong> – hai cây <strong>đã chết khô</strong> – <strong>bỗng xanh tươi, nở hoa trắng</strong>, như <strong>cúng dường Phật lần cuối</strong>.</p><p><strong>Trời Đế Thích</strong> rải hoa, <strong>Ma vương</strong> cúi đầu, <strong>rồng chầu</strong>, <strong>chim hót</strong>, <strong>đất thơm mùi chiên-đàn</strong>.</p><p><strong>Đại chúng im lặng</strong>, <strong>chứng ngộ vô thường</strong>, <strong>chuyển khóc thành niệm Phật</strong>.</p><p><strong>Chánh pháp nhãn tạng</strong> đã <strong>truyền cho Ca Diếp</strong>.</p><p><strong>Phật tánh</strong> đã <strong>gieo vào tâm mỗi người</strong>.</p><p><strong>Niết-bàn</strong> không còn xa – <strong>chỉ cần tự nhìn vào tâm</strong>.</p><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 14 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> mang lại <strong>lợi lạc bất tư nghị</strong>:</p><ul><li><strong>Thấy vô thường</strong>, <strong>không còn sợ chết</strong>.</li><li><strong>Thấy Phật nhập diệt</strong>, <strong>nhưng biết Phật thường trụ</strong>.</li><li><strong>Nghe lời di giáo cuối</strong>, <strong>tinh tấn không ngừng</strong>.</li><li><strong>Tự thắp đuốc lên</strong>, <strong>không nương ngoài tâm</strong>.</li><li><strong>Giữ giới, trì kinh</strong>, <strong>hộ pháp, hộ Tăng</strong>.</li><li><strong>Sinh Tịnh độ</strong>, <strong>nhập Niết-bàn</strong>, <strong>thành Phật ngay trong đời này</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường hành theo lời Phật di giáo</strong>, người ấy <strong>chính là người tiếp bước Phật</strong>, là <strong>ngọn đèn sáng giữa đêm đen</strong>, là <strong>hạt giống Niết-bàn bất diệt</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!</strong></p><p><strong>Nam mô Phật Nhập Niết Bàn!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Quyển 14 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm &lt;strong&gt;Nhập Niết Bàn&lt;/strong&gt;) là &lt;strong&gt;cảnh cuối cùng&lt;/strong&gt; của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhập diệt giữa hai cây Ta-la song thọ&lt;/strong&gt;, thân nằm nghiêng bên phải, đầu hướng Bắc, mặt hướng Tây.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bốn lần hỏi: “Ai còn nghi, hãy hỏi!”&lt;/strong&gt; – không ai hỏi, đại chúng &lt;strong&gt;chứng ngộ vô nghi&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lời di giáo cuối cùng&lt;/strong&gt;: “&lt;strong&gt;Tất cả pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tinh tấn, chớ phóng dật!&lt;/strong&gt;”&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật nhập chín tầng thiền định&lt;/strong&gt;, từ &lt;strong&gt;sơ thiền đến diệt tận định&lt;/strong&gt;, rồi &lt;strong&gt;hóa thân nhập Niết-bàn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;**Trời đất rung chuyển, hoa rơi, nhạc trời vang, tám bộ chúng khóc, nhưng Phật đã &lt;strong&gt;hiện tướng tịch diệt để dạy vô thường&lt;/strong&gt;. Phẩm này &lt;strong&gt;khép lại 49 năm thuyết pháp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mở ra thời đại tự lực&lt;/strong&gt;, dạy hành giả &lt;strong&gt;tự thấy Phật tánh, tự nhập Niết-bàn&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 14: Phẩm Nhập Niết Bàn&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Giữa rừng Ta-la song thọ&lt;/strong&gt;, đêm &lt;strong&gt;rằm tháng hai&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;trăng tròn sáng tỏ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;gió nhẹ không lay lá&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;không khí im lặng như hư không&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật &lt;strong&gt;nằm nghiêng bên phải&lt;/strong&gt; trên &lt;strong&gt;tòa cỏ&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đầu gối lên tay phải&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chân duỗi thẳng&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đầu hướng Bắc&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Mặt hướng Tây&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lưng tựa Đông&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ánh sáng vàng ròng&lt;/strong&gt; từ thân Phật tỏa ra, &lt;strong&gt;chiếu khắp mười phương&lt;/strong&gt;, làm &lt;strong&gt;trời đất sáng như ban ngày&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mở mắt từ bi&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nhìn đại chúng lần cuối&lt;/strong&gt;, rồi &lt;strong&gt;hỏi ba lần&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;“Này các Tỳ-kheo!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ai còn nghi ngờ về Phật, Pháp, Tăng, về khổ, tập, diệt, đạo – hãy hỏi ngay!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đừng để sau hối hận!&lt;/strong&gt;”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Im lặng.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không một tiếng đáp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;hỏi lần thứ tư&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;“Các ông không hỏi, là vì đã hiểu rõ, hay vì sợ Ta nhập diệt?&lt;/strong&gt;”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;A-na-luật&lt;/strong&gt; (mù mắt nhưng thấy bằng thiên nhãn) bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! &lt;strong&gt;Chúng con đã hiểu&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Phật không sinh, không diệt.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Pháp không đến, không đi.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Tăng không hợp, không tan.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Chúng con đã thấy Phật tánh trong tâm.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Không còn nghi ngờ.&lt;/strong&gt;”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;mỉm cười&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn phóng ra&lt;/strong&gt;, nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;“Lành thay! Lành thay!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Các ông đã chứng ngộ.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh các ông vốn thanh tịnh, không sinh không diệt.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Hôm nay, Ta chỉ thị hiện nhập diệt để dạy vô thường.&lt;/strong&gt;”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nói lời di giáo cuối cùng&lt;/strong&gt;, giọng &lt;strong&gt;như sấm vang, như sư tử hống&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;“Này các Tỳ-kheo!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Tất cả pháp hữu vi đều vô thường.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Dù là thân Ta, dù là núi Tu-di, dù là mặt trời mặt trăng – đều phải hoại diệt.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Chớ phóng dật!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Hãy tinh tấn!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Tự thắp đuốc lên mà đi!&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Lấy chánh pháp làm đèn, lấy giới luật làm thuyền.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Đừng nương Ta, đừng nương người – chỉ nương Phật tánh trong tâm.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta.&lt;/strong&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;strong&gt;Ai thấy Phật tánh, người ấy nhập Niết-bàn.&lt;/strong&gt;”&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật &lt;strong&gt;nhập thiền định&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sơ thiền&lt;/strong&gt; – tâm ly dục, ly ác pháp.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhị thiền&lt;/strong&gt; – định sinh hỷ lạc.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tam thiền&lt;/strong&gt; – xả niệm thanh tịnh.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tứ thiền&lt;/strong&gt; – xả lạc xả khổ.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Không vô biên xứ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thức vô biên xứ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Vô sở hữu xứ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phi tưởng phi phi tưởng xứ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Diệt tận định&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;thân tâm tịch diệt, chỉ còn Phật tánh&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Bỗng nhiên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;ánh sáng từ thân Phật tắt dần&lt;/strong&gt;, như &lt;strong&gt;ngọn đèn hết dầu&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đất rung sáu cách&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Trời mưa hoa mạn-đà-la&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nhạc trời vang lên&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Tám bộ chúng đồng thanh khóc lớn&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Phật nhập Niết-bàn rồi!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Mặt trời trí tuệ đã lặn!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;“Chúng con như trẻ mồ côi!”&lt;/strong&gt;&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp&lt;/strong&gt; từ xa chạy đến, &lt;strong&gt;đập đầu xuống đất&lt;/strong&gt;, khóc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! &lt;strong&gt;Con chưa kịp về!&lt;/strong&gt;”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;A-nan&lt;/strong&gt; ôm đầu khóc ngất:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Phật ơi! &lt;strong&gt;Con phải sống sao đây?&lt;/strong&gt;”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nhưng Phật đã nhập diệt.&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Thân Ngài như vàng ròng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nằm bất động&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;mặt như trăng rằm&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;môi còn mỉm cười&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Bốn cây Ta-la song thọ&lt;/strong&gt; – hai cây &lt;strong&gt;đã chết khô&lt;/strong&gt; – &lt;strong&gt;bỗng xanh tươi, nở hoa trắng&lt;/strong&gt;, như &lt;strong&gt;cúng dường Phật lần cuối&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Trời Đế Thích&lt;/strong&gt; rải hoa, &lt;strong&gt;Ma vương&lt;/strong&gt; cúi đầu, &lt;strong&gt;rồng chầu&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chim hót&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;đất thơm mùi chiên-đàn&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đại chúng im lặng&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chứng ngộ vô thường&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;chuyển khóc thành niệm Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Chánh pháp nhãn tạng&lt;/strong&gt; đã &lt;strong&gt;truyền cho Ca Diếp&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh&lt;/strong&gt; đã &lt;strong&gt;gieo vào tâm mỗi người&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Niết-bàn&lt;/strong&gt; không còn xa – &lt;strong&gt;chỉ cần tự nhìn vào tâm&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 14 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc bất tư nghị&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thấy vô thường&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;không còn sợ chết&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thấy Phật nhập diệt&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nhưng biết Phật thường trụ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghe lời di giáo cuối&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;tinh tấn không ngừng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tự thắp đuốc lên&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;không nương ngoài tâm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Giữ giới, trì kinh&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;hộ pháp, hộ Tăng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sinh Tịnh độ&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;nhập Niết-bàn&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;thành Phật ngay trong đời này&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường hành theo lời Phật di giáo&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là người tiếp bước Phật&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;ngọn đèn sáng giữa đêm đen&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống Niết-bàn bất diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Phật Nhập Niết Bàn!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5453531" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/91367a02-5f69-43ee-93f4-894191b6830f/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">19dd91c9-83bb-409f-8a39-9392541a96ab</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/91367a02-5f69-43ee-93f4-894191b6830f</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 06:49:26 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/6/27077f72-ad9a-4deb-b266-7197db930940_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>340</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 13</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 13</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 13 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Đại Chúng Thỉnh Phật Trụ Thế) là đỉnh cao của lòng từ bi và lời từ chối cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn.</p><p>Đại chúng – trời, người, A-tu-la, Bồ-tát, Thanh văn – đồng thanh khóc lóc, van xin Phật đừng nhập diệt, nguyện dâng thân mạng, nước mắt, máu huyết để Phật trụ thế một kiếp.</p><p>Phật dùng 12 thí dụ (mặt trăng, mặt trời, lửa, nước, núi, thuyền, cha mẹ…) để dạy:</p><p><br></p><p>Phật chưa từng sinh, chưa từng diệt, chỉ thị hiện sinh diệt để độ chúng sanh.</p><p>Nhập Niết-bàn không phải bỏ chúng sanh, mà là dạy chúng sanh tự độ.</p><p>Chánh pháp còn trụ, Phật tánh còn trụ, Tăng bảo còn trụ – Tam bảo bất diệt.</p><p>Phẩm này xóa tan bi ai, chuyển khóc thành ngộ, dạy hành giả tự thắp đuốc lên mà đi, không nương Phật ngoài tâm.</p><p><br></p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 13: Phẩm Đại Chúng Thỉnh Phật Trụ Thế</p><p>Bấy giờ, đại chúng trời người tụ hội tại rừng Ta-la song thọ, nghe Phật sắp nhập Niết-bàn, đồng thanh khóc lớn, như trời sập, đất nứt.</p><p><br></p><p>Trời Đế Thích quỳ xuống, nước mắt như mưa, bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Xin Ngài đừng nhập Niết-bàn! Chúng con chưa đủ mắt trí tuệ, chưa đủ tai nghe pháp, chưa đủ tâm tin sâu. Nếu Phật diệt độ, chúng con như trẻ mất mẹ!”</p><p>Bốn bộ chúng – Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di – đập đầu xuống đất, máu chảy, khóc:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Nếu Ngài nhập diệt, chúng con sống để làm gì? Xin Ngài thọ mạng một kiếp, mười kiếp, trăm kiếp, để chúng con được nghe pháp!”</p><p>Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi chắp tay, lệ rơi đầy áo, bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện cắt thịt, hiến máu, đốt thân cúng dường, chỉ xin Ngài đừng bỏ chúng con!”</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật mở mắt từ bi, ánh sáng vàng ròng từ nhụy trắng giữa chặn chiếu khắp, dừng tiếng khóc của đại chúng, rồi dùng giọng như sấm mà dạy:</p><p>“Này đại chúng!</p><p>Đừng khóc!</p><p>Phật chưa từng sinh, làm sao có diệt?</p><p>Nhập Niết-bàn không phải bỏ các ông, mà là dạy các ông tự độ.”</p><p>Phật dùng 12 thí dụ để khai thị:</p><p><br></p><p>Ví như mặt trăng in nước – trăng diệt trong nước, nhưng trăng thật trên trời không diệt.</p><p>Phật nhập Niết-bàn là hóa thân diệt, Pháp thân thường trụ.</p><p>Ví như mặt trời lặn – mặt trời lặn ở Tây, nhưng vẫn chiếu ở Đông.</p><p>Phật nhập Niết-bàn ở đây, nhưng vẫn độ chúng sanh ở mười phương.</p><p>Ví như ngọn lửa tắt – lửa tắt vì hết củi, nhưng nhiệt lượng vẫn còn trong tro.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng pháp nhiệt vẫn cháy trong tâm người nghe.</p><p>Ví như nước khô cạn – nước khô ở ao, nhưng vẫn đầy ở sông.</p><p>Phật nhập Niết-bàn ở cõi này, nhưng vẫn đầy đủ ở Tịnh độ.</p><p>Ví như núi sập – núi sập một bên, nhưng đá vẫn còn.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng giới thân huệ mạng vẫn trụ.</p><p>Ví như thuyền chìm – thuyền chìm dưới sông, nhưng người đã lên bờ.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng chúng sanh đã được độ.</p><p>Ví như cha mẹ mất – cha mẹ mất, nhưng dòng máu vẫn chảy trong con.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng Phật tánh vẫn trong tâm các ông.</p><p>Ví như thầy thuốc chết – thầy chết, nhưng phương thuốc vẫn còn.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng Kinh Pháp vẫn lưu truyền.</p><p>Ví như vua băng hà – vua chết, nhưng luật pháp vẫn trị quốc.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng giới luật vẫn hộ Tăng.</p><p>Ví như đèn tắt – đèn tắt, nhưng dầu vẫn có thể thắp lại.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng một người ngộ là đèn lại sáng.</p><p>Ví như hoa tàn – hoa tàn, nhưng hạt giống vẫn nảy mầm.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng Bồ-tát vẫn sinh.</p><p>Ví như tiếng vang – tiếng vang dứt, nhưng âm ba vẫn còn trong không gian.</p><p>Phật nhập Niết-bàn, nhưng lời dạy vẫn vang trong tâm thức.</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật mỉm cười, ánh sáng từ miệng phóng ra, nói:</p><p>“Này đại chúng!</p><p><br></p><p>Ta không bỏ các ông.</p><p>Ta ở trong kinh Niết-bàn này.</p><p>Ta ở trong giới luật.</p><p>Ta ở trong tháp miếu.</p><p>Ta ở trong tâm người trì giới.</p><p>Ta ở trong miệng người nói pháp.</p><p>Ta ở trong mắt người thấy Phật tánh.</p><p><br></p><p>Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta.</p><p>Ai thấy Phật tánh, người ấy thấy Ta.</p><p>Ai sống theo tứ y pháp, người ấy sống cùng Ta.”</p><p><br></p><p>Phật đưa tay chỉ Ca Diếp:</p><p>“Ca Diếp là mẹ của chánh pháp.</p><p>Ai cúng dường Ca Diếp, là cúng dường Ta.</p><p>Ai nghe Ca Diếp, là nghe Ta.</p><p>Ai phá Ca Diếp, là phá Ta.”</p><p><br></p><p>Phật nói kệ cuối cùng:</p><p>“Đừng khóc Phật diệt độ,</p><p>Phật ở trong tâm ông.</p><p>Tự thắp đuốc mà đi,</p><p>Đường sáng do ông bước.Kinh này là mắt Phật,</p><p>Giới này là thân Phật,</p><p>Tăng này là hơi thở,</p><p>Tam bảo trụ ngàn kiếp.Chúng sanh đều có tánh,</p><p>Chỉ cần tự nhìn vào.</p><p>Ta đi, pháp còn trụ,</p><p>Tâm ngộ, đạo bất diệt.”</p><p><br></p><p>Đại chúng nghe xong, ngừng khóc, tâm khai ý ngộ, đồng thanh reo lên:</p><p>“Nam mô Phật thường trụ! Nam mô Pháp bất diệt! Nam mô Tăng bất hoại!”</p><p>Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi im lặng nhập định, chuẩn bị nhập Niết-bàn.</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 13 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc bất tư nghị:</p><p><br></p><p>Xóa tan bi ai, chuyển khóc thành ngộ, biết Phật không diệt.</p><p>Thấy Pháp thân, biết Phật ở trong kinh, trong tâm.</p><p>Không còn sợ chết, vì Phật tánh thường trụ.</p><p>Tự thắp đuốc lên, không nương Phật ngoài, tự độ, độ tha.</p><p>Hộ trì Tam bảo, giữ giới, pháp, Tăng bất diệt.</p><p>Sinh Tịnh độ, gần Niết-bàn, thành Bồ-tát hộ pháp.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là người tiếp nối Phật, là ngọn đèn sáng giữa đêm đen, là hạt giống Bồ-đề bất diệt.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!</p><p>Nam mô Phật Thường Trụ!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 13 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Đại Chúng Thỉnh Phật Trụ Thế) là đỉnh cao của lòng từ bi và lời từ chối cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng – trời, người, A-tu-la, Bồ-tát, Thanh văn – đồng thanh khóc lóc, van xin Phật đừng nhập diệt, nguyện dâng thân mạng, nước mắt, máu huyết để Phật trụ thế một kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 12 thí dụ (mặt trăng, mặt trời, lửa, nước, núi, thuyền, cha mẹ…) để dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật chưa từng sinh, chưa từng diệt, chỉ thị hiện sinh diệt để độ chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhập Niết-bàn không phải bỏ chúng sanh, mà là dạy chúng sanh tự độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp còn trụ, Phật tánh còn trụ, Tăng bảo còn trụ – Tam bảo bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm này xóa tan bi ai, chuyển khóc thành ngộ, dạy hành giả tự thắp đuốc lên mà đi, không nương Phật ngoài tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 13: Phẩm Đại Chúng Thỉnh Phật Trụ Thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, đại chúng trời người tụ hội tại rừng Ta-la song thọ, nghe Phật sắp nhập Niết-bàn, đồng thanh khóc lớn, như trời sập, đất nứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời Đế Thích quỳ xuống, nước mắt như mưa, bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Xin Ngài đừng nhập Niết-bàn! Chúng con chưa đủ mắt trí tuệ, chưa đủ tai nghe pháp, chưa đủ tâm tin sâu. Nếu Phật diệt độ, chúng con như trẻ mất mẹ!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn bộ chúng – Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di – đập đầu xuống đất, máu chảy, khóc:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Nếu Ngài nhập diệt, chúng con sống để làm gì? Xin Ngài thọ mạng một kiếp, mười kiếp, trăm kiếp, để chúng con được nghe pháp!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi chắp tay, lệ rơi đầy áo, bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện cắt thịt, hiến máu, đốt thân cúng dường, chỉ xin Ngài đừng bỏ chúng con!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mở mắt từ bi, ánh sáng vàng ròng từ nhụy trắng giữa chặn chiếu khắp, dừng tiếng khóc của đại chúng, rồi dùng giọng như sấm mà dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng khóc!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật chưa từng sinh, làm sao có diệt?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhập Niết-bàn không phải bỏ các ông, mà là dạy các ông tự độ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng 12 thí dụ để khai thị:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như mặt trăng in nước – trăng diệt trong nước, nhưng trăng thật trên trời không diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn là hóa thân diệt, Pháp thân thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như mặt trời lặn – mặt trời lặn ở Tây, nhưng vẫn chiếu ở Đông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn ở đây, nhưng vẫn độ chúng sanh ở mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như ngọn lửa tắt – lửa tắt vì hết củi, nhưng nhiệt lượng vẫn còn trong tro.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng pháp nhiệt vẫn cháy trong tâm người nghe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như nước khô cạn – nước khô ở ao, nhưng vẫn đầy ở sông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn ở cõi này, nhưng vẫn đầy đủ ở Tịnh độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như núi sập – núi sập một bên, nhưng đá vẫn còn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng giới thân huệ mạng vẫn trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như thuyền chìm – thuyền chìm dưới sông, nhưng người đã lên bờ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng chúng sanh đã được độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như cha mẹ mất – cha mẹ mất, nhưng dòng máu vẫn chảy trong con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng Phật tánh vẫn trong tâm các ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như thầy thuốc chết – thầy chết, nhưng phương thuốc vẫn còn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng Kinh Pháp vẫn lưu truyền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như vua băng hà – vua chết, nhưng luật pháp vẫn trị quốc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng giới luật vẫn hộ Tăng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như đèn tắt – đèn tắt, nhưng dầu vẫn có thể thắp lại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng một người ngộ là đèn lại sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như hoa tàn – hoa tàn, nhưng hạt giống vẫn nảy mầm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng Bồ-tát vẫn sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như tiếng vang – tiếng vang dứt, nhưng âm ba vẫn còn trong không gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn, nhưng lời dạy vẫn vang trong tâm thức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, ánh sáng từ miệng phóng ra, nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này đại chúng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta không bỏ các ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong kinh Niết-bàn này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong giới luật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong tháp miếu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong tâm người trì giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong miệng người nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong mắt người thấy Phật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy pháp, người ấy thấy Ta.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy Phật tánh, người ấy thấy Ta.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo tứ y pháp, người ấy sống cùng Ta.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay chỉ Ca Diếp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Ca Diếp là mẹ của chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai cúng dường Ca Diếp, là cúng dường Ta.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nghe Ca Diếp, là nghe Ta.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai phá Ca Diếp, là phá Ta.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ cuối cùng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Đừng khóc Phật diệt độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật ở trong tâm ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự thắp đuốc mà đi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đường sáng do ông bước.Kinh này là mắt Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới này là thân Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tăng này là hơi thở,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tam bảo trụ ngàn kiếp.Chúng sanh đều có tánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ cần tự nhìn vào.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta đi, pháp còn trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm ngộ, đạo bất diệt.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng nghe xong, ngừng khóc, tâm khai ý ngộ, đồng thanh reo lên:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nam mô Phật thường trụ! Nam mô Pháp bất diệt! Nam mô Tăng bất hoại!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười lần cuối, ánh sáng từ toàn thân phóng ra, rồi im lặng nhập định, chuẩn bị nhập Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 13 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc bất tư nghị:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xóa tan bi ai, chuyển khóc thành ngộ, biết Phật không diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Pháp thân, biết Phật ở trong kinh, trong tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn sợ chết, vì Phật tánh thường trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự thắp đuốc lên, không nương Phật ngoài, tự độ, độ tha.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì Tam bảo, giữ giới, pháp, Tăng bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sinh Tịnh độ, gần Niết-bàn, thành Bồ-tát hộ pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường niệm, thường hành theo phẩm này, người ấy chính là người tiếp nối Phật, là ngọn đèn sáng giữa đêm đen, là hạt giống Bồ-đề bất diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Phật Thường Trụ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6530612" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/4b8b9009-ce8c-4a96-b571-5c2a2b65ea44/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">fe8443af-0c7f-4d75-93c6-cea287cf61e0</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/4b8b9009-ce8c-4a96-b571-5c2a2b65ea44</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 06:45:30 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/6/69b5ef6f-da20-49a4-ba05-95d328df8377_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>408</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 12</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 12</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Quyển 12 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Ca Diếp Bồ Tát – phần 2) là lời <strong>phó chúc cuối cùng</strong> của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn, trao truyền <strong>chánh pháp nhãn tạng</strong> cho <strong>Ca Diếp Bồ Tát</strong> – vị Tổ thứ nhất của Thiền tông. Phật dạy rõ:</p><ul><li><strong>Phật tánh thường trụ</strong>, không sinh không diệt.</li><li><strong>Chánh pháp không diệt</strong>, chỉ ẩn hiện tùy duyên.</li><li><strong>Hành giả phải tự thắp đuốc lên mà đi</strong>, nương <strong>tứ y pháp</strong> (y pháp, y nghĩa, y liễu nghĩa, y trí), không nương người, không nương lời.</li><li><strong>Ca Diếp được chọn làm Tổ</strong> vì tâm <strong>đại từ bi, trí tuệ sâu, giới hạnh thanh tịnh</strong>, đủ sức <strong>hộ trì chánh pháp giữa mạt pháp</strong>. Phẩm này là <strong>kim chỉ nam cho người tu sau Phật diệt độ</strong>, nhấn mạnh <strong>truyền đăng tục diệm</strong>, <strong>tâm truyền tâm</strong>, và <strong>trách nhiệm hộ pháp</strong>.</li></ul><h3>Toàn Văn Quyển 12: Phẩm Ca Diếp Bồ Tát (Phần 2)</h3><p>Bấy giờ, Đức Phật ngồi trên <strong>tòa sư tử</strong>, giữa đại chúng trời người, ánh sáng từ thân Ngài chiếu khắp mười phương, làm chấn động tam thiên đại thiên thế giới.</p><p>Phật bảo <strong>Ca Diếp Bồ Tát</strong>:</p><p>“Này thiện nam! Sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, <strong>chánh pháp sẽ như ngọn đèn</strong>, cần người tiếp nối để <strong>soi sáng đêm dài mạt pháp</strong>.</p><p><strong>Ta nay phó chúc cho ông</strong>:</p><ul><li><strong>Chánh pháp nhãn tạng</strong>,</li><li><strong>Niết-bàn diệu tâm</strong>,</li><li><strong>Thật tướng vô tướng</strong>,</li><li><strong>Pháp môn bất nhị</strong>.</li></ul><p>Đây là <strong>bí mật của chư Phật</strong>, nay trao cho ông, để ông <strong>truyền cho đời sau</strong>, đời đời không dứt.”</p><p>Ca Diếp quỳ xuống, chắp tay, <strong>nước mắt rơi như mưa</strong>, bạch Phật:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Con là <strong>kẻ già yếu</strong>, thân như cây khô, trí như đèn tàn, làm sao gánh nổi <strong>trọng trách này</strong>?”</p><p>Phật mỉm cười, <strong>ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn</strong> chiếu vào trán Ca Diếp, nói:</p><p>“Này Ca Diếp!</p><ul><li><strong>Ông đã chứng quả A-la-hán</strong>,</li><li><strong>Đã ngộ Phật tánh</strong>,</li><li><strong>Đã giữ giới như giữ ngọc</strong>,</li><li><strong>Đã tu khổ hạnh 6 năm cùng Ta dưới gốc Bồ-đề</strong>,</li><li><strong>Đã hỏi nghĩa sâu trong 12 năm Ta thuyết pháp</strong>.</li></ul><p><strong>Chỉ có ông</strong> đủ sức <strong>hộ trì chánh pháp</strong>, <strong>truyền đăng cho đời sau</strong>.”</p><p>Phật dạy tiếp:</p><p>“Sau khi Ta diệt độ, sẽ có <strong>bốn hạng người phá pháp</strong>:</p><ol><li><strong>Chấp kinh bất liễu nghĩa</strong>, nói Phật diệt, pháp diệt.</li><li><strong>Chấp lời không chấp nghĩa</strong>, tụng suông, không hành.</li><li><strong>Chấp ngã, chấp pháp</strong>, tranh cãi, chia rẽ Tăng đoàn.</li><li><strong>Chấp tà sư, bỏ chánh pháp</strong>, chạy theo danh lợi.</li></ol><p>Ông phải dùng <strong>bốn chỗ nương tựa</strong> để <strong>phá tan tà kiến</strong>:</p><ul><li><strong>Y pháp bất y nhân</strong>,</li><li><strong>Y nghĩa bất y ngữ</strong>,</li><li><strong>Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa</strong>,</li><li><strong>Y trí bất y thức</strong>.</li></ul><p>Ai giữ được <strong>tứ y pháp</strong>, người ấy là <strong>đệ tử chân thật của Ta</strong>.”</p><p>Phật lại bảo:</p><p>“Này Ca Diếp!</p><p><strong>Pháp của Ta như chiếc bè</strong>, đưa người qua sông sinh tử.</p><p>Khi đã qua sông, <strong>phải bỏ bè</strong>, đừng ôm giữ.</p><p><strong>Đừng chấp Ta sinh, đừng chấp Ta diệt</strong>.</p><p><strong>Ta chưa từng sinh, chưa từng diệt</strong>, chỉ <strong>thị hiện sinh diệt</strong> để độ chúng sanh.</p><p><strong>Pháp thân Như Lai như hư không</strong>,</p><p><strong>Không đến, không đi, không trụ, không diệt</strong>.</p><p>Ai thấy được <strong>Pháp thân</strong>, người ấy <strong>thấy Ta thường trụ</strong>.”</p><p>Ca Diếp bạch:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Sau khi Ngài diệt độ, con phải <strong>làm gì để hộ pháp</strong>?”</p><p>Phật dạy:</p><ol><li><strong>Truyền tâm ấn</strong> – dạy người <strong>tâm truyền tâm</strong>, không nương văn tự.</li><li><strong>Giữ giới thanh tịnh</strong> – không gần vua chúa, không chứa vàng bạc.</li><li><strong>Sống nơi rừng núi</strong> – tránh danh lợi, gần gũi chúng sanh khổ đau.</li><li><strong>Dùng trí tuệ phá tà kiến</strong> – ai nói Phật diệt, liền nói <strong>Phật thường trụ</strong>.</li><li><strong>Thường niệm Phật tánh</strong> – tất cả chúng sanh đều có, chỉ cần khai ngộ.</li></ol><p><strong>Làm được năm điều này</strong>, chánh pháp sẽ <strong>trụ thế ngàn năm</strong>.”</p><p>Phật đưa tay <strong>xoa đầu Ca Diếp</strong>, nói:</p><p>“Này Ca Diếp!</p><ul><li><strong>Ông là Tổ thứ nhất</strong>,</li><li><strong>Ma Ha Ca Diếp</strong>,</li><li><strong>Người giữ đèn chánh pháp</strong>.</li></ul><p>Sau ông, sẽ có <strong>28 vị Tổ ở Tây Thiên</strong>,</p><p>Rồi <strong>truyền sang Đông Độ</strong>,</p><p>Đến <strong>Lục Tổ Huệ Năng</strong>,</p><p>Rồi <strong>pháp lan khắp năm châu</strong>.</p><p><strong>Đừng lo pháp diệt</strong>,</p><p>Chỉ cần <strong>một người ngộ</strong>, pháp lại <strong>sáng ngời</strong>.”</p><p>Phật nói kệ:</p><blockquote><em>“Pháp nhãn truyền tâm ấn,</em></blockquote><blockquote><em>Niết-bàn diệu bất diệt.</em></blockquote><blockquote><em>Ca Diếp cầm đuốc sáng,</em></blockquote><blockquote><em>Soy đêm dài mạt kiếp.</em></blockquote><blockquote><em>Chúng sanh đều có tánh,</em></blockquote><blockquote><em>Chỉ cần khơi ánh đèn.</em></blockquote><blockquote><em>Ta đi, pháp còn trụ,</em></blockquote><blockquote><em>Tâm truyền, đạo bất diệt.”</em></blockquote><p>Phật bảo đại chúng:</p><p>“Sau khi Ta diệt độ,</p><ul><li><strong>Ai cúng dường Ca Diếp</strong>, như cúng dường Ta.</li><li><strong>Ai kính Ca Diếp</strong>, như kính Ta.</li><li><strong>Ai phá Ca Diếp</strong>, như phá Ta.</li></ul><p><strong>Ca Diếp là mẹ của chánh pháp</strong>,</p><p><strong>Là cha của chúng sanh</strong>.”</p><p>Ca Diếp đảnh lễ, <strong>cúi đầu sát đất</strong>, nói:</p><p>“Bạch Thế Tôn! Con xin <strong>vâng lời phó chúc</strong>,</p><p>Dù thân này <strong>tan thành tro bụi</strong>,</p><p>Cũng <strong>giữ gìn chánh pháp</strong>,</p><p><strong>Truyền đăng bất diệt</strong>.”</p><p>Phật mỉm cười, <strong>ánh sáng từ miệng phóng ra</strong>, chiếu khắp đại chúng, rồi <strong>im lặng nhập định</strong>.</p><p>Đại chúng <strong>đồng thanh khóc</strong>, trời mưa hoa, đất rung chuyển.</p><p><strong>Phật đã phó chúc xong</strong>, chuẩn bị <strong>nhập Niết-bàn</strong>.</p><h3>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</h3><p>Nghe và trì niệm <strong>Quyển 12 Kinh Đại Bát Niết Bàn</strong> mang lại <strong>lợi lạc bất tư nghị</strong>:</p><ul><li><strong>Ngộ được Phật tánh</strong>, biết mình <strong>chính là Phật</strong>.</li><li><strong>Không sợ Phật diệt</strong>, vì <strong>Pháp thân thường trụ</strong>.</li><li><strong>Giữ vững chánh kiến</strong>, không lạc vào <strong>tà pháp mạt thế</strong>.</li><li><strong>Tiếp nối đèn chánh pháp</strong>, trở thành <strong>người truyền đăng</strong>.</li><li><strong>Tránh ác đạo</strong>, sinh Tịnh độ, gần Bồ-đề.</li><li><strong>Độ vô lượng chúng sanh</strong>, vì biết <strong>tâm truyền tâm</strong>.</li></ul><p>Ai <strong>thường nghe, thường niệm, thường hành theo lời phó chúc này</strong>, người ấy <strong>chính là đệ tử của Ca Diếp</strong>, là <strong>người giữ đèn chánh pháp</strong>, là <strong>hạt giống Bồ-đề giữa đời</strong>.</p><p><strong>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!</strong></p><p><strong>Nam mô Ma Ha Ca Diếp Bồ Tát!</strong></p><p><strong>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</strong></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Quyển 12 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Ca Diếp Bồ Tát – phần 2) là lời &lt;strong&gt;phó chúc cuối cùng&lt;/strong&gt; của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn, trao truyền &lt;strong&gt;chánh pháp nhãn tạng&lt;/strong&gt; cho &lt;strong&gt;Ca Diếp Bồ Tát&lt;/strong&gt; – vị Tổ thứ nhất của Thiền tông. Phật dạy rõ:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh thường trụ&lt;/strong&gt;, không sinh không diệt.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chánh pháp không diệt&lt;/strong&gt;, chỉ ẩn hiện tùy duyên.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hành giả phải tự thắp đuốc lên mà đi&lt;/strong&gt;, nương &lt;strong&gt;tứ y pháp&lt;/strong&gt; (y pháp, y nghĩa, y liễu nghĩa, y trí), không nương người, không nương lời.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp được chọn làm Tổ&lt;/strong&gt; vì tâm &lt;strong&gt;đại từ bi, trí tuệ sâu, giới hạnh thanh tịnh&lt;/strong&gt;, đủ sức &lt;strong&gt;hộ trì chánh pháp giữa mạt pháp&lt;/strong&gt;. Phẩm này là &lt;strong&gt;kim chỉ nam cho người tu sau Phật diệt độ&lt;/strong&gt;, nhấn mạnh &lt;strong&gt;truyền đăng tục diệm&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;tâm truyền tâm&lt;/strong&gt;, và &lt;strong&gt;trách nhiệm hộ pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h3&gt;Toàn Văn Quyển 12: Phẩm Ca Diếp Bồ Tát (Phần 2)&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật ngồi trên &lt;strong&gt;tòa sư tử&lt;/strong&gt;, giữa đại chúng trời người, ánh sáng từ thân Ngài chiếu khắp mười phương, làm chấn động tam thiên đại thiên thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo &lt;strong&gt;Ca Diếp Bồ Tát&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này thiện nam! Sau khi Như Lai nhập Niết-bàn, &lt;strong&gt;chánh pháp sẽ như ngọn đèn&lt;/strong&gt;, cần người tiếp nối để &lt;strong&gt;soi sáng đêm dài mạt pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ta nay phó chúc cho ông&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chánh pháp nhãn tạng&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Niết-bàn diệu tâm&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thật tướng vô tướng&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Pháp môn bất nhị&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Đây là &lt;strong&gt;bí mật của chư Phật&lt;/strong&gt;, nay trao cho ông, để ông &lt;strong&gt;truyền cho đời sau&lt;/strong&gt;, đời đời không dứt.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp quỳ xuống, chắp tay, &lt;strong&gt;nước mắt rơi như mưa&lt;/strong&gt;, bạch Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Con là &lt;strong&gt;kẻ già yếu&lt;/strong&gt;, thân như cây khô, trí như đèn tàn, làm sao gánh nổi &lt;strong&gt;trọng trách này&lt;/strong&gt;?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, &lt;strong&gt;ánh sáng từ nhụy trắng giữa chặn&lt;/strong&gt; chiếu vào trán Ca Diếp, nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này Ca Diếp!&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ông đã chứng quả A-la-hán&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đã ngộ Phật tánh&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đã giữ giới như giữ ngọc&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đã tu khổ hạnh 6 năm cùng Ta dưới gốc Bồ-đề&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Đã hỏi nghĩa sâu trong 12 năm Ta thuyết pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Chỉ có ông&lt;/strong&gt; đủ sức &lt;strong&gt;hộ trì chánh pháp&lt;/strong&gt;, &lt;strong&gt;truyền đăng cho đời sau&lt;/strong&gt;.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy tiếp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Sau khi Ta diệt độ, sẽ có &lt;strong&gt;bốn hạng người phá pháp&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chấp kinh bất liễu nghĩa&lt;/strong&gt;, nói Phật diệt, pháp diệt.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chấp lời không chấp nghĩa&lt;/strong&gt;, tụng suông, không hành.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chấp ngã, chấp pháp&lt;/strong&gt;, tranh cãi, chia rẽ Tăng đoàn.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chấp tà sư, bỏ chánh pháp&lt;/strong&gt;, chạy theo danh lợi.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;Ông phải dùng &lt;strong&gt;bốn chỗ nương tựa&lt;/strong&gt; để &lt;strong&gt;phá tan tà kiến&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y pháp bất y nhân&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y nghĩa bất y ngữ&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Y trí bất y thức&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai giữ được &lt;strong&gt;tứ y pháp&lt;/strong&gt;, người ấy là &lt;strong&gt;đệ tử chân thật của Ta&lt;/strong&gt;.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật lại bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này Ca Diếp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Pháp của Ta như chiếc bè&lt;/strong&gt;, đưa người qua sông sinh tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi đã qua sông, &lt;strong&gt;phải bỏ bè&lt;/strong&gt;, đừng ôm giữ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đừng chấp Ta sinh, đừng chấp Ta diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ta chưa từng sinh, chưa từng diệt&lt;/strong&gt;, chỉ &lt;strong&gt;thị hiện sinh diệt&lt;/strong&gt; để độ chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Pháp thân Như Lai như hư không&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Không đến, không đi, không trụ, không diệt&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy được &lt;strong&gt;Pháp thân&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;thấy Ta thường trụ&lt;/strong&gt;.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Sau khi Ngài diệt độ, con phải &lt;strong&gt;làm gì để hộ pháp&lt;/strong&gt;?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Truyền tâm ấn&lt;/strong&gt; – dạy người &lt;strong&gt;tâm truyền tâm&lt;/strong&gt;, không nương văn tự.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Giữ giới thanh tịnh&lt;/strong&gt; – không gần vua chúa, không chứa vàng bạc.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sống nơi rừng núi&lt;/strong&gt; – tránh danh lợi, gần gũi chúng sanh khổ đau.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Dùng trí tuệ phá tà kiến&lt;/strong&gt; – ai nói Phật diệt, liền nói &lt;strong&gt;Phật thường trụ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thường niệm Phật tánh&lt;/strong&gt; – tất cả chúng sanh đều có, chỉ cần khai ngộ.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Làm được năm điều này&lt;/strong&gt;, chánh pháp sẽ &lt;strong&gt;trụ thế ngàn năm&lt;/strong&gt;.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đưa tay &lt;strong&gt;xoa đầu Ca Diếp&lt;/strong&gt;, nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này Ca Diếp!&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ông là Tổ thứ nhất&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ma Ha Ca Diếp&lt;/strong&gt;,&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Người giữ đèn chánh pháp&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Sau ông, sẽ có &lt;strong&gt;28 vị Tổ ở Tây Thiên&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi &lt;strong&gt;truyền sang Đông Độ&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến &lt;strong&gt;Lục Tổ Huệ Năng&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi &lt;strong&gt;pháp lan khắp năm châu&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Đừng lo pháp diệt&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ cần &lt;strong&gt;một người ngộ&lt;/strong&gt;, pháp lại &lt;strong&gt;sáng ngời&lt;/strong&gt;.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;“Pháp nhãn truyền tâm ấn,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Niết-bàn diệu bất diệt.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ca Diếp cầm đuốc sáng,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Soy đêm dài mạt kiếp.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Chúng sanh đều có tánh,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Chỉ cần khơi ánh đèn.&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Ta đi, pháp còn trụ,&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;em&gt;Tâm truyền, đạo bất diệt.”&lt;/em&gt;&lt;/blockquote&gt;&lt;p&gt;Phật bảo đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Sau khi Ta diệt độ,&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ai cúng dường Ca Diếp&lt;/strong&gt;, như cúng dường Ta.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ai kính Ca Diếp&lt;/strong&gt;, như kính Ta.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ai phá Ca Diếp&lt;/strong&gt;, như phá Ta.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Ca Diếp là mẹ của chánh pháp&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Là cha của chúng sanh&lt;/strong&gt;.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp đảnh lễ, &lt;strong&gt;cúi đầu sát đất&lt;/strong&gt;, nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn! Con xin &lt;strong&gt;vâng lời phó chúc&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù thân này &lt;strong&gt;tan thành tro bụi&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng &lt;strong&gt;giữ gìn chánh pháp&lt;/strong&gt;,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Truyền đăng bất diệt&lt;/strong&gt;.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mỉm cười, &lt;strong&gt;ánh sáng từ miệng phóng ra&lt;/strong&gt;, chiếu khắp đại chúng, rồi &lt;strong&gt;im lặng nhập định&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng &lt;strong&gt;đồng thanh khóc&lt;/strong&gt;, trời mưa hoa, đất rung chuyển.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Phật đã phó chúc xong&lt;/strong&gt;, chuẩn bị &lt;strong&gt;nhập Niết-bàn&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm &lt;strong&gt;Quyển 12 Kinh Đại Bát Niết Bàn&lt;/strong&gt; mang lại &lt;strong&gt;lợi lạc bất tư nghị&lt;/strong&gt;:&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ngộ được Phật tánh&lt;/strong&gt;, biết mình &lt;strong&gt;chính là Phật&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Không sợ Phật diệt&lt;/strong&gt;, vì &lt;strong&gt;Pháp thân thường trụ&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Giữ vững chánh kiến&lt;/strong&gt;, không lạc vào &lt;strong&gt;tà pháp mạt thế&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tiếp nối đèn chánh pháp&lt;/strong&gt;, trở thành &lt;strong&gt;người truyền đăng&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tránh ác đạo&lt;/strong&gt;, sinh Tịnh độ, gần Bồ-đề.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Độ vô lượng chúng sanh&lt;/strong&gt;, vì biết &lt;strong&gt;tâm truyền tâm&lt;/strong&gt;.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;Ai &lt;strong&gt;thường nghe, thường niệm, thường hành theo lời phó chúc này&lt;/strong&gt;, người ấy &lt;strong&gt;chính là đệ tử của Ca Diếp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;người giữ đèn chánh pháp&lt;/strong&gt;, là &lt;strong&gt;hạt giống Bồ-đề giữa đời&lt;/strong&gt;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Ma Ha Ca Diếp Bồ Tát!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;strong&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/strong&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6276493" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3483ca9e-cced-48f0-b90d-6c85a0983255/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">11d56725-318b-4d39-9712-61490326b9b0</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3483ca9e-cced-48f0-b90d-6c85a0983255</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 06:41:48 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/6/c7f477bf-3afb-46c2-878a-57506fe27d8f_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>392</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 11</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 11</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn:</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 11 Kinh Niết Bàn:</p><p>Quyển 11 thuộc Phẩm Thị Hiện Bệnh (Phẩm Thứ Sáu), tập trung vào việc Phật thị hiện bệnh để dạy về khổ đau, từ bi, và bản chất thường trụ của Như Lai. Nội dung bao gồm đối thoại giữa Phật và Bồ-tát Ca-diếp về nguyên nhân bệnh, ba loại chướng ngại, và nguyện lực của Bồ Tát. (Bản dựa trên bản dịch Hán-Việt của HT Thích Trí Tịnh)</p><p>Phần 1: Phật Thị Hiện Bệnh Để Độ Chúng Sanh</p><p>Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: &#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai có bệnh không? Nếu có, sao lại có bệnh? Nếu không, sao thị hiện bệnh?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Như Lai không bệnh, chỉ thị hiện bệnh để độ chúng sanh. Vì sao? Vì chúng sanh có bệnh phiền não, Như Lai thị hiện bệnh để dạy diệt phiền não.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Bệnh của chúng sanh do đâu mà có?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Bệnh của chúng sanh do bốn mũi tên độc: tham, sân, si, mạn. Tham gây bệnh phổi, sân gây nôn mửa, si gây ngứa ngáy, mạn gây bồn chồn. Như Lai không có bốn độc, nên không bệnh.&#34;</p><p>Phật nói: &#34;Ta từ xưa đến nay thân tâm yên ổn, không có các khổ não. Ta nay không có tất cả các bệnh tật. Vì sao? Chư Phật Thế Tôn từ lâu đã xa lìa tất cả bệnh.&#34;</p><p>Phần 2: Lý Do Thị Hiện Bệnh</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai không bệnh, sao thị hiện bệnh?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Có bốn nhân duyên Như Lai thị hiện bệnh: 1. Sai Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp cho tứ bộ chúng. 2. Không dạy Giới độ, thiền định, giải thoát. 3. Không dạy Đại Ca-diếp tránh thối lui quả Bồ-đề. 4. Không trừng trị tỳ-kheo xấu ác. Như Lai thực không bệnh, thị hiện nằm nghiêng để dạy.&#34;</p><p>Phật nói: &#34;Hai nhân duyên không bệnh khổ: 1. Thương xót chúng sanh. 2. Bố thí thuốc thang cho người bệnh. Như Lai từ vô số kiếp tu Bồ Tát đạo, bố thí thuốc thang, phát nguyện dứt ba chướng: phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng.&#34;</p><p>Phần 3: Ba Loại Chướng Ngại (Bệnh Nặng)</p><p>Phật giảng ba loại chướng ngại gây bệnh nặng:</p><p>Loại ChướngChi TiếtPhiền Não ChướngTham dục, sân khuể, ngu si, phẫn nộ, buồn phiền, ganh ghét, gian trá, siểm nịnh, vô hổ thẹn, ngạo mạn, phóng dật, oán hận, tà vạy, dối trá, giả hình, lợi cầu lợi, mong xấu ác, tham nhiều, vô cung kính, gần bạn xấu, tham lợi không chán, chấp thân/hữu/không, ham ngủ, thiếu thốn vô vui, ham ăn, ngu tối, tán tâm vọng tưởng, bất thiện nghĩ/nói/làm, ham nói nhiều, căn tối, lời vô nghĩa, cảm xúc độc hại che lấp.Nghiệp ChướngNăm tội nghịch: sát phụ, sát mẫu, sát A-la-hán, phá hòa hợp tăng, ác tâm xuất Phật thân huyết.Báo ChướngSinh ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; phỉ báng Chánh pháp; nhất xiển đề, phỉ báng Phương đẳng, phạm 4 tội nghiêm trọng.</p><p>Phật nói: &#34;Nguyện lực của Bồ Tát khi thí thuốc: Trong vô số kiếp, phát nguyện dứt ba chướng, thành thân kim cang Như Lai, thành Dược vương trừ bệnh, dùng thuốc a-già-đà trừ độc, không thối chuyển Bồ-đề, siêng tinh tấn, thành cây thuốc trị tà ác, nhổ mũi tên độc, thành hào quang Như Lai, vào kho tàng Chánh pháp, dùng trí huệ trừ khổ.&#34;</p><p>Phần 4: Phật Không Bệnh, Thân Kim Cang</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Thân Phật là kim cang bất hoại, sao thị hiện bệnh?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Thân Phật là kim cang, bất sinh bất diệt, bất lão bất bệnh. Thị hiện sinh tử để độ chúng sanh. Như kim cang không bị lửa đốt, nước ngâm, gió thổi, đất chôn, thân Phật không bị bốn đại làm hại.&#34;</p><p>Phật nói dụ: &#34;Như sức lực: 10 bò nhỏ = 1 bò lớn, ... = 1 lực sĩ = 1 na-la-diên = 1 khớp xương Bồ Tát Thập trụ. Thân Phật vô hạn lực, không bệnh.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Như Lai kim cang thân,</p><p>Bất hoại thường trụ trú,</p><p>Thị hiện bệnh sinh tử,</p><p>Độ chúng sanh khổ não.</p><p>(Quyển 11 kết thúc với đại chúng vui mừng, lễ Phật mà lui.)</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh:</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 11 Kinh Niết Bàn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 11 thuộc Phẩm Thị Hiện Bệnh (Phẩm Thứ Sáu), tập trung vào việc Phật thị hiện bệnh để dạy về khổ đau, từ bi, và bản chất thường trụ của Như Lai. Nội dung bao gồm đối thoại giữa Phật và Bồ-tát Ca-diếp về nguyên nhân bệnh, ba loại chướng ngại, và nguyện lực của Bồ Tát. (Bản dựa trên bản dịch Hán-Việt của HT Thích Trí Tịnh)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 1: Phật Thị Hiện Bệnh Để Độ Chúng Sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai có bệnh không? Nếu có, sao lại có bệnh? Nếu không, sao thị hiện bệnh?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Như Lai không bệnh, chỉ thị hiện bệnh để độ chúng sanh. Vì sao? Vì chúng sanh có bệnh phiền não, Như Lai thị hiện bệnh để dạy diệt phiền não.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Bệnh của chúng sanh do đâu mà có?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Bệnh của chúng sanh do bốn mũi tên độc: tham, sân, si, mạn. Tham gây bệnh phổi, sân gây nôn mửa, si gây ngứa ngáy, mạn gây bồn chồn. Như Lai không có bốn độc, nên không bệnh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: &amp;#34;Ta từ xưa đến nay thân tâm yên ổn, không có các khổ não. Ta nay không có tất cả các bệnh tật. Vì sao? Chư Phật Thế Tôn từ lâu đã xa lìa tất cả bệnh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 2: Lý Do Thị Hiện Bệnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai không bệnh, sao thị hiện bệnh?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Có bốn nhân duyên Như Lai thị hiện bệnh: 1. Sai Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp cho tứ bộ chúng. 2. Không dạy Giới độ, thiền định, giải thoát. 3. Không dạy Đại Ca-diếp tránh thối lui quả Bồ-đề. 4. Không trừng trị tỳ-kheo xấu ác. Như Lai thực không bệnh, thị hiện nằm nghiêng để dạy.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: &amp;#34;Hai nhân duyên không bệnh khổ: 1. Thương xót chúng sanh. 2. Bố thí thuốc thang cho người bệnh. Như Lai từ vô số kiếp tu Bồ Tát đạo, bố thí thuốc thang, phát nguyện dứt ba chướng: phiền não chướng, nghiệp chướng, báo chướng.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 3: Ba Loại Chướng Ngại (Bệnh Nặng)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật giảng ba loại chướng ngại gây bệnh nặng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Loại ChướngChi TiếtPhiền Não ChướngTham dục, sân khuể, ngu si, phẫn nộ, buồn phiền, ganh ghét, gian trá, siểm nịnh, vô hổ thẹn, ngạo mạn, phóng dật, oán hận, tà vạy, dối trá, giả hình, lợi cầu lợi, mong xấu ác, tham nhiều, vô cung kính, gần bạn xấu, tham lợi không chán, chấp thân/hữu/không, ham ngủ, thiếu thốn vô vui, ham ăn, ngu tối, tán tâm vọng tưởng, bất thiện nghĩ/nói/làm, ham nói nhiều, căn tối, lời vô nghĩa, cảm xúc độc hại che lấp.Nghiệp ChướngNăm tội nghịch: sát phụ, sát mẫu, sát A-la-hán, phá hòa hợp tăng, ác tâm xuất Phật thân huyết.Báo ChướngSinh ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; phỉ báng Chánh pháp; nhất xiển đề, phỉ báng Phương đẳng, phạm 4 tội nghiêm trọng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: &amp;#34;Nguyện lực của Bồ Tát khi thí thuốc: Trong vô số kiếp, phát nguyện dứt ba chướng, thành thân kim cang Như Lai, thành Dược vương trừ bệnh, dùng thuốc a-già-đà trừ độc, không thối chuyển Bồ-đề, siêng tinh tấn, thành cây thuốc trị tà ác, nhổ mũi tên độc, thành hào quang Như Lai, vào kho tàng Chánh pháp, dùng trí huệ trừ khổ.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 4: Phật Không Bệnh, Thân Kim Cang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Thân Phật là kim cang bất hoại, sao thị hiện bệnh?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Thân Phật là kim cang, bất sinh bất diệt, bất lão bất bệnh. Thị hiện sinh tử để độ chúng sanh. Như kim cang không bị lửa đốt, nước ngâm, gió thổi, đất chôn, thân Phật không bị bốn đại làm hại.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói dụ: &amp;#34;Như sức lực: 10 bò nhỏ = 1 bò lớn, ... = 1 lực sĩ = 1 na-la-diên = 1 khớp xương Bồ Tát Thập trụ. Thân Phật vô hạn lực, không bệnh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai kim cang thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất hoại thường trụ trú,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thị hiện bệnh sinh tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ chúng sanh khổ não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;(Quyển 11 kết thúc với đại chúng vui mừng, lễ Phật mà lui.)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5260852" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/b9d51750-95e6-4852-9bd9-e61d33e9efba/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">fa7fa166-246b-487b-9a28-85a24bb25365</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/b9d51750-95e6-4852-9bd9-e61d33e9efba</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:39:26 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>328</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 10</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 10</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 10 Kinh Niết Bàn</p><p>Dưới đây là toàn bộ nội dung quyển 10 của Kinh Đại Bát Niết Bàn, dựa trên bản dịch tiếng Việt từ Hán văn, được tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy (bản dịch Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến, với cấu trúc phẩm và nội dung chính). Quyển 10 thuộc phần đầu của Phẩm Hạnh Thanh Tịnh (Phẩm Thứ Tám), tập trung vào việc giảng dạy về hạnh thanh tịnh của Bồ Tát, Tứ Vô Lượng Tâm, và Tứ Trí Không Ngăn Ngại. Nội dung được tổ chức có cấu trúc để dễ theo dõi, với bảng cho các phần liệt kê.</p><p>Phần 1: Bảy Pháp Lành Của Bồ Tát (Bảy Chi Phần Thanh Tịnh)</p><p>Bấy giờ, Phật bảo Bồ Tát Ca Diếp: &#34;Này thiện nam tử! Đại Bồ Tát an trụ nơi kinh Đại Bát Niết Bàn, tu hạnh thanh tịnh, cần phải có bảy pháp lành để thành tựu sự thanh tịnh viên mãn.&#34;</p><p><br></p><p>Pháp Lành (Chi Phần) và Giải Thích Chi Tiết</p><p>1. Biết Pháp: Biết rõ 12 bộ kinh: Tu-đa-la (Kinh), Kỳ-dạ (Kệ), Thọ Ký (Thụ Ký), Phúng Tụng (Trùng Tụng), Tự Thuyết (Bản Thuyết), Nhân Duyên (Nhân Duyên), Thí Dụ (Thí Dụ), Bổn Sự (Bổn Sự), Bổn Sinh (Bổn Sinh), Phương Quảng (Phương Quảng), Hy Hữu (Hy Hữu), Luận Nghị (Luận Nghị). Đây là nền tảng để phân biệt chánh pháp và tà pháp.</p><p>2. Biết Nghĩa. Hiểu thấu ý nghĩa của pháp, biết ngôn ngữ của tất cả chúng sanh, thuyết pháp theo căn cơ.</p><p>3. Biết Thời: Biết thời gian thích hợp để tu: Độc xứ (riêng một mình), siêng năng tinh tấn, xả (buông bỏ), cúng dường Phật và thầy, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, tuệ.</p><p>4. Biết Đủ Biết đủ trong ăn uống, y phục, thuốc thang, đi đứng, ngồi nằm, nói năng, im lặng. Không tham cầu dư thừa.</p><p>5. Tự Biết MìnhTự biết căn cơ của mình: Có lòng tin, trì giới, học hỏi, xả bỏ, trí tuệ, biết đến đi, chánh niệm, việc lành, hỏi đáp.</p><p>6. Biết ChúngBiết phân biệt các loại chúng: Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, Sa-môn; hành xử thích hợp với từng loại.</p><p>7. Biết Phân Biệt Kẻ Trên Người DướiPhân biệt theo lòng tin và việc làm: Vào chùa, lễ Phật, nghe pháp, chú ý, phân tích, thực hành, hồi hướng Đại thừa (thượng phẩm: lợi ích nhiều chúng sanh).</p><p>Phật nói: &#34;Này Ca Diếp! Bồ Tát có bảy pháp lành này thì thành tựu hạnh thanh tịnh, được Tứ Vô Lượng Tâm, tăng trưởng sáu Ba-la-mật.&#34;</p><p>Phần 2: Tứ Vô Lượng Tâm (Tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả)</p><p>Phật giảng: &#34;Bồ Tát tu Tứ Vô Lượng Tâm để phá trừ tham sân si, thành tựu đại từ bi.&#34;</p><p>Tâm Vô LượngGiải ThíchTác DụngTừ (Từ Tâm)Không thiên vị yêu ghét, bình đẳng với tất cả chúng sanh. Khó thực hành với kẻ ác như hạt khô khó mọc, chó nhà dễ nuôi, đá khó đục. Bắt đầu từ Sơ Địa, bình đẳng với Thanh Văn (không phải nhất xiển đề).Phá tham dục, tăng sáu Ba-la-mật; thế gian từ trước khi xuất thế từ.Bi (Bi Tâm)Mang lợi ích và vui vẻ đến chúng sanh; bảo vệ cả kẻ hại (như Phật giết Bà-la-môn để cứu pháp). Mức độ bi tùy theo hại: nhỏ, trung, lớn.Tình yêu cực độ như cha mẹ vui khi con an toàn; vị trí &#34;cực ái nhất tử&#34;.Hỷ (Hỷ Tâm)Vui mừng khi chúng sanh được lợi ích.Phá bất mãn, tăng hỷ lạc.Xả (Xả Tâm)Không chấp trước, bình đẳng thị hiện, vô ngã tướng.Dẫn đến bình đẳng như hư không; quán không (nội ngoại, hữu vi vô vi).</p><p>Phật nói: &#34;Tứ Vô Lượng Tâm có ba duyên: Chúng sanh duyên, pháp duyên, không duyên (Như Lai tánh). Như Lai dùng phương tiện dạy một lý (vô thường là thường) tùy căn cơ.&#34;</p><p>Phần 3: Tứ Trí Không Ngăn Ngại (Bốn Trí Không Chướng Ngại)</p><p>Bồ Tát thành tựu bốn trí không chướng ngại; Thanh Văn và Duyên Giác không có vì căn cơ hạn chế.</p><p><br></p><p>Trí Không Ngăn Ngại. Giải Thích. Đối Chiếu Với Thanh Văn/ Duyên Giác. Pháp Không Ngăn Ngại. Biết tên gọi và nghĩa lý (ví dụ: Đất rộng lớn, núi chứa đất, mắt chứa sáng, mây chứa nước, người chứa pháp, mẹ chứa con). Giới hạn ở phần tên/ ý nghĩa; không thuyết pháp đầy đủ. Nghĩa Không Ngăn Ngại: Hiểu và thuyết một nghĩa bằng tất cả lời; ngôn ngữ thế gian và thánh nhân. Không thuyết nghĩa rốt ráo. Lời Lẽ Không Ngăn Ngại. Thuyết lời/ ý nghĩa suốt vô lượng kiếp. Thiếu khả năng thuyết pháp rộng. Vui Thích Thuyết Giảng Không Ngăn Ngại. Vui vẻ thuyết pháp không chướng ngại; dẫn đến bốn không chướng ngại. Không có thuyết pháp hoan hỷ đầy đủ; ràng buộc với diệt độ/ du hành một mình.</p><p>Phật nói: &#34;Bồ Tát thành tựu này thì không &#39;đắc&#39;, đã ở trong không chướng ngại (sáng suốt, Đại Niết Bàn, Đại thừa). Ngược lại: phiền não, 25 hữu, 11 kinh, luân hồi, vô thường, vô ngã, bất tịnh, năm kiến, Thanh Văn Bồ Đề.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Bồ Tát tu thanh tịnh,</p><p>Bảy pháp lành viên mãn,</p><p>Tứ vô lượng tâm thành,</p><p>Trí không ngại tự tại,</p><p>Độ chúng sanh vô biên,</p><p>Chứng Niết Bàn thường lạc.</p><p>Phần 4: Công Đức Trì Kinh Và Độ Chúng</p><p>Phật bảo Ca Diếp: &#34;Nếu có chúng sanh trì kinh Đại Bát Niết Bàn, dù chỉ một kệ, công đức vô lượng, diệt tội nặng, sinh cõi lành, đạt Phật quả. Kinh này là bí tàng của chư Phật, là chỗ tu của Bồ Tát, vượt trên các kinh quyền thừa.&#34;</p><p>Ca Diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Công đức trì kinh lớn như vậy, con xin thọ trì để độ chúng sanh.&#34;</p><p>Phật khen: &#34;Hay thay! Ông trì kinh này, sẽ thành Phật, độ vô lượng chúng sanh.&#34;</p><p>(Quyển 10 kết thúc với đại chúng vui mừng, lễ Phật mà lui.)</p><p><br></p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh:</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 10 Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dưới đây là toàn bộ nội dung quyển 10 của Kinh Đại Bát Niết Bàn, dựa trên bản dịch tiếng Việt từ Hán văn, được tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy (bản dịch Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến, với cấu trúc phẩm và nội dung chính). Quyển 10 thuộc phần đầu của Phẩm Hạnh Thanh Tịnh (Phẩm Thứ Tám), tập trung vào việc giảng dạy về hạnh thanh tịnh của Bồ Tát, Tứ Vô Lượng Tâm, và Tứ Trí Không Ngăn Ngại. Nội dung được tổ chức có cấu trúc để dễ theo dõi, với bảng cho các phần liệt kê.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 1: Bảy Pháp Lành Của Bồ Tát (Bảy Chi Phần Thanh Tịnh)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Phật bảo Bồ Tát Ca Diếp: &amp;#34;Này thiện nam tử! Đại Bồ Tát an trụ nơi kinh Đại Bát Niết Bàn, tu hạnh thanh tịnh, cần phải có bảy pháp lành để thành tựu sự thanh tịnh viên mãn.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp Lành (Chi Phần) và Giải Thích Chi Tiết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Biết Pháp: Biết rõ 12 bộ kinh: Tu-đa-la (Kinh), Kỳ-dạ (Kệ), Thọ Ký (Thụ Ký), Phúng Tụng (Trùng Tụng), Tự Thuyết (Bản Thuyết), Nhân Duyên (Nhân Duyên), Thí Dụ (Thí Dụ), Bổn Sự (Bổn Sự), Bổn Sinh (Bổn Sinh), Phương Quảng (Phương Quảng), Hy Hữu (Hy Hữu), Luận Nghị (Luận Nghị). Đây là nền tảng để phân biệt chánh pháp và tà pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Biết Nghĩa. Hiểu thấu ý nghĩa của pháp, biết ngôn ngữ của tất cả chúng sanh, thuyết pháp theo căn cơ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Biết Thời: Biết thời gian thích hợp để tu: Độc xứ (riêng một mình), siêng năng tinh tấn, xả (buông bỏ), cúng dường Phật và thầy, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, tuệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Biết Đủ Biết đủ trong ăn uống, y phục, thuốc thang, đi đứng, ngồi nằm, nói năng, im lặng. Không tham cầu dư thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;5. Tự Biết MìnhTự biết căn cơ của mình: Có lòng tin, trì giới, học hỏi, xả bỏ, trí tuệ, biết đến đi, chánh niệm, việc lành, hỏi đáp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Biết ChúngBiết phân biệt các loại chúng: Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ, Sa-môn; hành xử thích hợp với từng loại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Biết Phân Biệt Kẻ Trên Người DướiPhân biệt theo lòng tin và việc làm: Vào chùa, lễ Phật, nghe pháp, chú ý, phân tích, thực hành, hồi hướng Đại thừa (thượng phẩm: lợi ích nhiều chúng sanh).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: &amp;#34;Này Ca Diếp! Bồ Tát có bảy pháp lành này thì thành tựu hạnh thanh tịnh, được Tứ Vô Lượng Tâm, tăng trưởng sáu Ba-la-mật.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 2: Tứ Vô Lượng Tâm (Tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật giảng: &amp;#34;Bồ Tát tu Tứ Vô Lượng Tâm để phá trừ tham sân si, thành tựu đại từ bi.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm Vô LượngGiải ThíchTác DụngTừ (Từ Tâm)Không thiên vị yêu ghét, bình đẳng với tất cả chúng sanh. Khó thực hành với kẻ ác như hạt khô khó mọc, chó nhà dễ nuôi, đá khó đục. Bắt đầu từ Sơ Địa, bình đẳng với Thanh Văn (không phải nhất xiển đề).Phá tham dục, tăng sáu Ba-la-mật; thế gian từ trước khi xuất thế từ.Bi (Bi Tâm)Mang lợi ích và vui vẻ đến chúng sanh; bảo vệ cả kẻ hại (như Phật giết Bà-la-môn để cứu pháp). Mức độ bi tùy theo hại: nhỏ, trung, lớn.Tình yêu cực độ như cha mẹ vui khi con an toàn; vị trí &amp;#34;cực ái nhất tử&amp;#34;.Hỷ (Hỷ Tâm)Vui mừng khi chúng sanh được lợi ích.Phá bất mãn, tăng hỷ lạc.Xả (Xả Tâm)Không chấp trước, bình đẳng thị hiện, vô ngã tướng.Dẫn đến bình đẳng như hư không; quán không (nội ngoại, hữu vi vô vi).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: &amp;#34;Tứ Vô Lượng Tâm có ba duyên: Chúng sanh duyên, pháp duyên, không duyên (Như Lai tánh). Như Lai dùng phương tiện dạy một lý (vô thường là thường) tùy căn cơ.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 3: Tứ Trí Không Ngăn Ngại (Bốn Trí Không Chướng Ngại)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ Tát thành tựu bốn trí không chướng ngại; Thanh Văn và Duyên Giác không có vì căn cơ hạn chế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí Không Ngăn Ngại. Giải Thích. Đối Chiếu Với Thanh Văn/ Duyên Giác. Pháp Không Ngăn Ngại. Biết tên gọi và nghĩa lý (ví dụ: Đất rộng lớn, núi chứa đất, mắt chứa sáng, mây chứa nước, người chứa pháp, mẹ chứa con). Giới hạn ở phần tên/ ý nghĩa; không thuyết pháp đầy đủ. Nghĩa Không Ngăn Ngại: Hiểu và thuyết một nghĩa bằng tất cả lời; ngôn ngữ thế gian và thánh nhân. Không thuyết nghĩa rốt ráo. Lời Lẽ Không Ngăn Ngại. Thuyết lời/ ý nghĩa suốt vô lượng kiếp. Thiếu khả năng thuyết pháp rộng. Vui Thích Thuyết Giảng Không Ngăn Ngại. Vui vẻ thuyết pháp không chướng ngại; dẫn đến bốn không chướng ngại. Không có thuyết pháp hoan hỷ đầy đủ; ràng buộc với diệt độ/ du hành một mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: &amp;#34;Bồ Tát thành tựu này thì không &amp;#39;đắc&amp;#39;, đã ở trong không chướng ngại (sáng suốt, Đại Niết Bàn, Đại thừa). Ngược lại: phiền não, 25 hữu, 11 kinh, luân hồi, vô thường, vô ngã, bất tịnh, năm kiến, Thanh Văn Bồ Đề.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ Tát tu thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảy pháp lành viên mãn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tứ vô lượng tâm thành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí không ngại tự tại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ chúng sanh vô biên,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứng Niết Bàn thường lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 4: Công Đức Trì Kinh Và Độ Chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Ca Diếp: &amp;#34;Nếu có chúng sanh trì kinh Đại Bát Niết Bàn, dù chỉ một kệ, công đức vô lượng, diệt tội nặng, sinh cõi lành, đạt Phật quả. Kinh này là bí tàng của chư Phật, là chỗ tu của Bồ Tát, vượt trên các kinh quyền thừa.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Công đức trì kinh lớn như vậy, con xin thọ trì để độ chúng sanh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật khen: &amp;#34;Hay thay! Ông trì kinh này, sẽ thành Phật, độ vô lượng chúng sanh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;(Quyển 10 kết thúc với đại chúng vui mừng, lễ Phật mà lui.)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6863307" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/537de5fb-6bd1-4347-aa55-8fe004c1e014/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">c667f6c2-f53c-43b7-b25e-24a03ab42249</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/537de5fb-6bd1-4347-aa55-8fe004c1e014</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:37:45 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/4/e34afcae-4141-4f6c-ae5a-c8b0e99879e1_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>428</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 9</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 9</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 9 Kinh Niết Bàn</p><p>Quyển 9 thuộc phần tiếp theo của Phẩm Tánh Như Lai (Phẩm 4), tập trung vào việc giảng rộng về Phật tánh (tánh Như Lai), xác định ý nghĩa rốt ráo của kinh Đại Bát Niết Bàn, vượt trên các giáo pháp quyền thừa. Nội dung bao gồm các đối thoại giữa Phật và Bồ-tát Ca-diếp, giải thích Phật tánh là thường trụ, có ở tất cả chúng sanh (kể cả nhất xiển đề), và cách tu hành để chứng ngộ. Dưới đây là văn bản đầy đủ dựa trên bản dịch Hán-Việt của HT Thích Trí Tịnh, được tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy (thư viện Phật học, với cấu trúc đầu mục để dễ theo dõi).</p><p>Phần 1: Phật Tánh Là Thường Trụ</p><p>Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: &#34;Bạch Thế Tôn! Phật tánh là hữu hay vô? Nếu hữu thì sao nói là không? Nếu vô thì sao nói là có? Nếu vừa hữu vừa vô thì sao nói là trung đạo? Nếu không hữu không vô thì sao nói là tánh?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Phật tánh không phải hữu, không phải vô, không phải hữu vô, không phải phi hữu phi vô. Phật tánh là bất khả tư nghì, chỉ có Phật mới biết. Vì sao? Vì Phật tánh là thường trụ bất biến, là chân thật, là chân ngã, chân tịnh, chân lạc.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Phật tánh?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Phật tánh chính là cái có ở tất cả chúng sanh, nhưng bị phiền não che lấp nên không thấy. Khi phiền não diệt thì Phật tánh hiện, như sữa có bơ, nhưng phải khuấy mới được bơ. Phật tánh = Niết-bàn, = Pháp thân, = Chân lý, = Trung đạo.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, thì sao có nhất xiển đề không có Phật tánh?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Nhất xiển đề cũng có Phật tánh, nhưng vì phỉ báng Chánh pháp nên tạm thời không thấy. Khi hồi tâm thì thấy được. Như kim cang bị bùn che, nhưng kim cang vẫn ở đó. Nhất xiển đề như người mù, không thấy mặt trời, nhưng mặt trời vẫn có.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Tất cả chúng sanh giai có Phật tánh,</p><p>Phiền não che lấp bất kiến chi,</p><p>Tu hành diệt phiền tánh hiện tiền,</p><p>Như khuấy sữa đắc bơ chân thật.</p><p>Phần 2: Phật Tánh Và Niết Bàn</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Sao lại nói Niết-bàn là vô vi?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Niết-bàn là vô vi, vì diệt hết phiền não, không còn sinh diệt. Niết-bàn là thường, vì không biến đổi; lạc, vì không khổ; ngã, vì tự tại; tịnh, vì không ô nhiễm. Niết-bàn không phải diệt tận, mà là chân thường trụ.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Sao Niết-bàn là thường mà Phật nhập Niết-bàn?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Phật không nhập Niết-bàn, chỉ thị hiện nhập để độ chúng sanh. Phật thân là kim cang bất hoại, thường trụ bất diệt. Phật thị hiện sinh tử để dạy chúng sanh vô thường, nhưng Phật tánh là thường.&#34;</p><p>Phật nói dụ: &#34;Như vàng trong quặng, vàng là thường, quặng là vô thường. Phật tánh là vàng, thân ngũ uẩn là quặng. Diệt quặng thì vàng hiện.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Niết-bàn chân thường trụ,</p><p>Không sinh không diệt vong,</p><p>Phật tánh tại chúng sanh,</p><p>Diệt phiền chứng Niết-bàn.</p><p>Phần 3: Nhất Xiển Đề Và Phật Tánh</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Nhất xiển đề phỉ báng Chánh pháp, sao có Phật tánh?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Nhất xiển đề có Phật tánh, nhưng như người mù không thấy đường, khi mắt sáng thì thấy. Nhất xiển đề hồi tâm, phỉ báng diệt, Phật tánh hiện. Không có chúng sanh nào không có Phật tánh, kể cả cỏ cây, nhưng chỉ chúng sanh hữu tình mới chứng được.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Nếu nhất xiển đề có Phật tánh, sao không thành Phật?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Vì không tu hành, không diệt phiền não. Phật tánh là tiềm năng, tu hành là hiện thực hóa. Như hạt giống có cây, nhưng phải gieo trồng.&#34;</p><p>Phật nói dụ: &#34;Như sữa có bơ, nhưng không khuấy thì không có bơ. Phật tánh có, nhưng không tu thì không chứng.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Nhất xiển đề hữu Phật tánh,</p><p>Phỉ báng che lấp bất hiện tiền,</p><p>Hồi tâm diệt phiền tánh hiển,</p><p>Thành Phật chứng Niết-bàn thường.</p><p>Phần 4: Phật Tánh Là Trung Đạo</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Phật tánh là hữu hay vô?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Thiện nam tử! Phật tánh không hữu không vô, là trung đạo. Hữu là thường kiến, vô là đoạn kiến. Trung đạo là không rơi hai biên.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là trung đạo?&#34;</p><p>Phật đáp: &#34;Trung đạo là không hữu không vô, không thường không đoạn, không ngã không vô ngã. Trung đạo là Phật tánh, là Niết-bàn.&#34;</p><p>Phật nói dụ: &#34;Như hư không không hữu không vô, Phật tánh cũng vậy, bất khả tư nghì.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Phật tánh trung đạo lý,</p><p>Không hữu không vô tánh,</p><p>Bất khả tư nghì pháp,</p><p>Chứng ngộ diệt phiền não.</p><p>Phần 5: Công Đức Trì Kinh</p><p>Phật bảo Ca-diếp: &#34;Nếu có chúng sanh trì kinh Đại Bát Niết Bàn này, dù chỉ một câu, công đức vô lượng, diệt tội nặng, sinh cõi lành, đạt Phật quả. Kinh này là bí tàng của chư Phật, là chỗ tu của Bồ-tát.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Công đức trì kinh lớn như vậy, con xin thọ trì.&#34;</p><p>Phật khen: &#34;Hay thay! Ông trì kinh này, sẽ độ vô lượng chúng sanh.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Trì kinh Đại Niết Bàn,</p><p>Công đức bất khả lượng,</p><p>Diệt tội sinh thiên giới,</p><p>Chứng Phật thường lạc tịnh.</p><p>(Quyển 9 kết thúc với đại chúng vui mừng, lễ Phật mà lui.)</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 9 Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 9 thuộc phần tiếp theo của Phẩm Tánh Như Lai (Phẩm 4), tập trung vào việc giảng rộng về Phật tánh (tánh Như Lai), xác định ý nghĩa rốt ráo của kinh Đại Bát Niết Bàn, vượt trên các giáo pháp quyền thừa. Nội dung bao gồm các đối thoại giữa Phật và Bồ-tát Ca-diếp, giải thích Phật tánh là thường trụ, có ở tất cả chúng sanh (kể cả nhất xiển đề), và cách tu hành để chứng ngộ. Dưới đây là văn bản đầy đủ dựa trên bản dịch Hán-Việt của HT Thích Trí Tịnh, được tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy (thư viện Phật học, với cấu trúc đầu mục để dễ theo dõi).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 1: Phật Tánh Là Thường Trụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Phật tánh là hữu hay vô? Nếu hữu thì sao nói là không? Nếu vô thì sao nói là có? Nếu vừa hữu vừa vô thì sao nói là trung đạo? Nếu không hữu không vô thì sao nói là tánh?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Phật tánh không phải hữu, không phải vô, không phải hữu vô, không phải phi hữu phi vô. Phật tánh là bất khả tư nghì, chỉ có Phật mới biết. Vì sao? Vì Phật tánh là thường trụ bất biến, là chân thật, là chân ngã, chân tịnh, chân lạc.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là Phật tánh?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Phật tánh chính là cái có ở tất cả chúng sanh, nhưng bị phiền não che lấp nên không thấy. Khi phiền não diệt thì Phật tánh hiện, như sữa có bơ, nhưng phải khuấy mới được bơ. Phật tánh = Niết-bàn, = Pháp thân, = Chân lý, = Trung đạo.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, thì sao có nhất xiển đề không có Phật tánh?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Nhất xiển đề cũng có Phật tánh, nhưng vì phỉ báng Chánh pháp nên tạm thời không thấy. Khi hồi tâm thì thấy được. Như kim cang bị bùn che, nhưng kim cang vẫn ở đó. Nhất xiển đề như người mù, không thấy mặt trời, nhưng mặt trời vẫn có.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả chúng sanh giai có Phật tánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phiền não che lấp bất kiến chi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu hành diệt phiền tánh hiện tiền,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như khuấy sữa đắc bơ chân thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 2: Phật Tánh Và Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Sao lại nói Niết-bàn là vô vi?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Niết-bàn là vô vi, vì diệt hết phiền não, không còn sinh diệt. Niết-bàn là thường, vì không biến đổi; lạc, vì không khổ; ngã, vì tự tại; tịnh, vì không ô nhiễm. Niết-bàn không phải diệt tận, mà là chân thường trụ.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Sao Niết-bàn là thường mà Phật nhập Niết-bàn?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Phật không nhập Niết-bàn, chỉ thị hiện nhập để độ chúng sanh. Phật thân là kim cang bất hoại, thường trụ bất diệt. Phật thị hiện sinh tử để dạy chúng sanh vô thường, nhưng Phật tánh là thường.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói dụ: &amp;#34;Như vàng trong quặng, vàng là thường, quặng là vô thường. Phật tánh là vàng, thân ngũ uẩn là quặng. Diệt quặng thì vàng hiện.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn chân thường trụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không sinh không diệt vong,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh tại chúng sanh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệt phiền chứng Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 3: Nhất Xiển Đề Và Phật Tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Nhất xiển đề phỉ báng Chánh pháp, sao có Phật tánh?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Nhất xiển đề có Phật tánh, nhưng như người mù không thấy đường, khi mắt sáng thì thấy. Nhất xiển đề hồi tâm, phỉ báng diệt, Phật tánh hiện. Không có chúng sanh nào không có Phật tánh, kể cả cỏ cây, nhưng chỉ chúng sanh hữu tình mới chứng được.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Nếu nhất xiển đề có Phật tánh, sao không thành Phật?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Vì không tu hành, không diệt phiền não. Phật tánh là tiềm năng, tu hành là hiện thực hóa. Như hạt giống có cây, nhưng phải gieo trồng.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói dụ: &amp;#34;Như sữa có bơ, nhưng không khuấy thì không có bơ. Phật tánh có, nhưng không tu thì không chứng.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhất xiển đề hữu Phật tánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phỉ báng che lấp bất hiện tiền,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hồi tâm diệt phiền tánh hiển,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành Phật chứng Niết-bàn thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 4: Phật Tánh Là Trung Đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Phật tánh là hữu hay vô?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Thiện nam tử! Phật tánh không hữu không vô, là trung đạo. Hữu là thường kiến, vô là đoạn kiến. Trung đạo là không rơi hai biên.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là trung đạo?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: &amp;#34;Trung đạo là không hữu không vô, không thường không đoạn, không ngã không vô ngã. Trung đạo là Phật tánh, là Niết-bàn.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói dụ: &amp;#34;Như hư không không hữu không vô, Phật tánh cũng vậy, bất khả tư nghì.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trung đạo lý,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hữu không vô tánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất khả tư nghì pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứng ngộ diệt phiền não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần 5: Công Đức Trì Kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Ca-diếp: &amp;#34;Nếu có chúng sanh trì kinh Đại Bát Niết Bàn này, dù chỉ một câu, công đức vô lượng, diệt tội nặng, sinh cõi lành, đạt Phật quả. Kinh này là bí tàng của chư Phật, là chỗ tu của Bồ-tát.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Công đức trì kinh lớn như vậy, con xin thọ trì.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật khen: &amp;#34;Hay thay! Ông trì kinh này, sẽ độ vô lượng chúng sanh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì kinh Đại Niết Bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức bất khả lượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệt tội sinh thiên giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứng Phật thường lạc tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;(Quyển 9 kết thúc với đại chúng vui mừng, lễ Phật mà lui.)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6977828" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/9994f785-c074-45b0-928d-23f4557c1740/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">7e77f9aa-c984-4b23-aafa-c0e7bbbd4a95</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/9994f785-c074-45b0-928d-23f4557c1740</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:36:42 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/4/b1a3c693-068d-44f6-a6b4-8646d9b36d4b_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>436</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 8</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 8</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Quyển 8 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Tứ Y) là lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn, khai thị bốn chỗ nương tựa chân chánh cho hành giả giữa thời mạt pháp: y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa, y trí bất y thức. Phật dạy rõ: chỉ nương tựa chánh pháp bất hoại, không nương người; nương ý nghĩa sâu xa, không nương lời văn; nương kinh liễu nghĩa (Đại thừa), không nương kinh bất liễu nghĩa (Tiểu thừa); nương trí tuệ bát-nhã, không nương thức phân biệt. Phẩm này nhằm bảo vệ chánh pháp, giúp hành giả không lạc vào tà kiến, nhận rõ Phật tánh, sống đúng đạo, hộ trì Tam bảo giữa đời loạn.</p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 8: Phẩm Tứ Y</p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo Ca Diếp Bồ Tát: “Này thiện nam! Sau khi Như Lai diệt độ, trong thời mạt pháp, các ông phải dùng bốn chỗ nương tựa để hộ trì chánh pháp. Bốn chỗ nương tựa ấy là gì?</p><p>Một là y pháp bất y nhân.</p><p>Nếu có người nói: ‘Đây là lời Phật dạy’, nhưng lời ấy trái với kinh, luật, luận, trái với chánh pháp, thì đừng nên tin, đừng nên nhận. Dù người nói là bậc trưởng lão, là Tỳ-kheo lớn tuổi, là A-la-hán, là Bồ-tát, là quốc vương, là đại thần, là bậc có uy đức – nhưng nếu trái pháp, thì đừng nương theo.</p><p>Ví như vàng ròng, dù do ai cầm, vẫn phải thử bằng lửa mới biết thật giả. Chánh pháp cũng vậy, phải dùng trí tuệ thử nghiệm, không vì người nói mà tin.</p><p>Hai là y nghĩa bất y ngữ.</p><p>Lời nói dù hay, dù khéo, dù nhiều người truyền tụng, nhưng nếu không có nghĩa chân thật, thì đừng nên nương.</p><p>Ví như người nói: ‘Trăng ở trên trời’, nhưng chỉ vào giếng nước – lời ấy có hay, nhưng nghĩa sai.</p><p>Phật pháp sâu xa, chỉ nương ý nghĩa cứu cánh, không nương lời văn hoa mỹ, không nương câu kệ bề ngoài.</p><p>Ba là y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa.</p><p>Kinh có hai loại:</p><p><br></p><p>Bất liễu nghĩa: nói vô thường, khổ, vô ngã, không – dành cho người sơ cơ, chưa đủ căn cơ.</p><p>Liễu nghĩa: nói thường, lạc, ngã, tịnh, nói Phật tánh, nói Đại Niết-bàn – dành cho người thượng căn, đã sẵn lòng tin sâu.</p><p>Sau khi Phật diệt độ, sẽ có người chấp kinh bất liễu nghĩa, cho rằng Phật thật diệt, pháp sẽ diệt, chúng sanh không có Phật tánh.</p><p>Đừng nương theo họ.</p><p>Chỉ nương kinh liễu nghĩa, như Kinh Niết-bàn này, để biết Phật thường trụ, pháp không diệt, chúng sanh đều có Phật tánh.</p><p><br></p><p>Bốn là y trí bất y thức.</p><p><br></p><p>Thức là phân biệt, so đo, chấp trước, chạy theo danh tướng.</p><p>Trí là trí tuệ bát-nhã, thấy rõ chân như, không dính mắc.</p><p>Người nương thức thì nói: ‘Phật diệt rồi, không còn gì’.</p><p>Người nương trí thì biết: Phật chưa từng sinh, chưa từng diệt, thường trụ bất biến.</p><p>Chỉ nương trí tuệ, không nương tâm thức phân biệt.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Bốn chỗ nương tựa này là kim cương bất hoại, là ánh sáng soi đường, là thuyền bè qua biển sinh tử, là ngọn đèn giữa đêm đen mạt pháp.</p><p><br></p><p>Sau khi Phật diệt độ, sẽ có bốn hạng người phá hoại chánh pháp:</p><p><br></p><p>Người chấp bất liễu nghĩa, nói Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không có Phật tánh.</p><p>Người nương ngữ không nương nghĩa, tụng kinh mà không hiểu, nói suông.</p><p>Người nương thức không nương trí, chấp ngã, chấp pháp, tranh cãi vô ích.</p><p>Người nương nhân không nương pháp, tôn sùng thầy tà, bỏ chánh pháp.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, giữ vững bốn chỗ nương tựa này, thì dù ở giữa ngàn vạn người tà kiến, vẫn không lay động, như núi Tu-di giữa gió bão.</p><p><br></p><p>Phật lại bảo Ca Diếp:</p><p>“Ví như có người uống nước, chỉ cần biết nước mát hay nóng, không cần biết nước từ sông nào, từ núi nào.</p><p>Hành giả cũng vậy, chỉ cần biết đây là chánh pháp hay tà pháp, không cần biết do ai nói.</p><p>Nếu là chánh pháp – dù do trẻ nhỏ nói – cũng nên kính tin.</p><p>Nếu là tà pháp – dù do bậc trưởng lão nói – cũng nên xa lìa.”</p><p><br></p><p>Phật dạy tiếp:</p><p>“Sau khi Như Lai diệt độ, sẽ có người nói:</p><p>‘Phật dạy ăn thịt ba thứ tịnh nhục, sao nay cấm ăn?’</p><p>Hãy trả lời:</p><p>‘Đó là bất liễu nghĩa, là phương tiện tạm thời.</p><p>Trong Kinh Niết-bàn này, Phật đã cấm tuyệt đối ăn thịt, vì ăn thịt là dứt giống từ bi, là nuôi lớn ác nghiệp, là xa rời Phật tánh.’</p><p>Ai nói ngược lại, là phá hoại chánh pháp.”</p><p><br></p><p>Phật bảo Ca Diếp:</p><p>“Nếu có người hỏi:</p><p>‘Phật đã diệt độ, làm sao còn thường trụ?’</p><p>Hãy trả lời:</p><p>‘Thân Phật có hai:</p><p><br></p><p>Hóa thân sinh diệt, như trăng in nước.</p><p>Pháp thân thường trụ, như mặt trăng thật trên trời.</p><p>Phật nhập Niết-bàn là hóa thân diệt, nhưng Pháp thân chưa từng diệt.</p><p>Ai thấy được Pháp thân, người ấy thấy Phật thường trụ.’”</p><p><br></p><p><br></p><p>Phật dạy:</p><p>“Này Ca Diếp!</p><p>Bốn chỗ nương tựa này là mắt của chánh pháp, là hơi thở của Tam bảo.</p><p>Ai giữ được bốn chỗ này, người ấy là đệ tử chân thật của Như Lai, là người hộ pháp, là ngọn đèn sáng giữa đêm đen.”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh</p><p>Nghe và trì niệm Quyển 8 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc vô lượng:</p><p><br></p><p>Trí tuệ sáng suốt, không lạc vào tà kiến mạt pháp.</p><p>Tâm không lay động, dù gặp nghịch cảnh, vẫn giữ chánh niệm.</p><p>Phật tánh hiển lộ, nhận rõ tự tâm là thường, lạc, ngã, tịnh.</p><p>Hộ trì chánh pháp, bảo vệ Tam bảo, ngăn ác pháp lan truyền.</p><p>Tránh ác đạo, trồng thiện căn, gần Niết-bàn.</p><p>Độ vô lượng chúng sanh, vì biết nói pháp đúng thời, đúng nghĩa.</p><p><br></p><p>Ai thường nghe, thường trì, thường hành theo bốn chỗ nương tựa, người ấy chính là Bồ-tát hộ pháp, là ngọn đèn soi đường cho đời sau.</p><p>Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!</p><p>Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 8 Kinh Đại Bát Niết Bàn (Phẩm Tứ Y) là lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn, khai thị bốn chỗ nương tựa chân chánh cho hành giả giữa thời mạt pháp: y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa, y trí bất y thức. Phật dạy rõ: chỉ nương tựa chánh pháp bất hoại, không nương người; nương ý nghĩa sâu xa, không nương lời văn; nương kinh liễu nghĩa (Đại thừa), không nương kinh bất liễu nghĩa (Tiểu thừa); nương trí tuệ bát-nhã, không nương thức phân biệt. Phẩm này nhằm bảo vệ chánh pháp, giúp hành giả không lạc vào tà kiến, nhận rõ Phật tánh, sống đúng đạo, hộ trì Tam bảo giữa đời loạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 8: Phẩm Tứ Y&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo Ca Diếp Bồ Tát: “Này thiện nam! Sau khi Như Lai diệt độ, trong thời mạt pháp, các ông phải dùng bốn chỗ nương tựa để hộ trì chánh pháp. Bốn chỗ nương tựa ấy là gì?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một là y pháp bất y nhân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người nói: ‘Đây là lời Phật dạy’, nhưng lời ấy trái với kinh, luật, luận, trái với chánh pháp, thì đừng nên tin, đừng nên nhận. Dù người nói là bậc trưởng lão, là Tỳ-kheo lớn tuổi, là A-la-hán, là Bồ-tát, là quốc vương, là đại thần, là bậc có uy đức – nhưng nếu trái pháp, thì đừng nương theo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như vàng ròng, dù do ai cầm, vẫn phải thử bằng lửa mới biết thật giả. Chánh pháp cũng vậy, phải dùng trí tuệ thử nghiệm, không vì người nói mà tin.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai là y nghĩa bất y ngữ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói dù hay, dù khéo, dù nhiều người truyền tụng, nhưng nếu không có nghĩa chân thật, thì đừng nên nương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như người nói: ‘Trăng ở trên trời’, nhưng chỉ vào giếng nước – lời ấy có hay, nhưng nghĩa sai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật pháp sâu xa, chỉ nương ý nghĩa cứu cánh, không nương lời văn hoa mỹ, không nương câu kệ bề ngoài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba là y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh có hai loại:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất liễu nghĩa: nói vô thường, khổ, vô ngã, không – dành cho người sơ cơ, chưa đủ căn cơ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liễu nghĩa: nói thường, lạc, ngã, tịnh, nói Phật tánh, nói Đại Niết-bàn – dành cho người thượng căn, đã sẵn lòng tin sâu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ, sẽ có người chấp kinh bất liễu nghĩa, cho rằng Phật thật diệt, pháp sẽ diệt, chúng sanh không có Phật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng nương theo họ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ nương kinh liễu nghĩa, như Kinh Niết-bàn này, để biết Phật thường trụ, pháp không diệt, chúng sanh đều có Phật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn là y trí bất y thức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thức là phân biệt, so đo, chấp trước, chạy theo danh tướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí là trí tuệ bát-nhã, thấy rõ chân như, không dính mắc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nương thức thì nói: ‘Phật diệt rồi, không còn gì’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nương trí thì biết: Phật chưa từng sinh, chưa từng diệt, thường trụ bất biến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ nương trí tuệ, không nương tâm thức phân biệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Bốn chỗ nương tựa này là kim cương bất hoại, là ánh sáng soi đường, là thuyền bè qua biển sinh tử, là ngọn đèn giữa đêm đen mạt pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ, sẽ có bốn hạng người phá hoại chánh pháp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người chấp bất liễu nghĩa, nói Phật diệt, pháp diệt, chúng sanh không có Phật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nương ngữ không nương nghĩa, tụng kinh mà không hiểu, nói suông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nương thức không nương trí, chấp ngã, chấp pháp, tranh cãi vô ích.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nương nhân không nương pháp, tôn sùng thầy tà, bỏ chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Nếu có Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, giữ vững bốn chỗ nương tựa này, thì dù ở giữa ngàn vạn người tà kiến, vẫn không lay động, như núi Tu-di giữa gió bão.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật lại bảo Ca Diếp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Ví như có người uống nước, chỉ cần biết nước mát hay nóng, không cần biết nước từ sông nào, từ núi nào.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành giả cũng vậy, chỉ cần biết đây là chánh pháp hay tà pháp, không cần biết do ai nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu là chánh pháp – dù do trẻ nhỏ nói – cũng nên kính tin.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu là tà pháp – dù do bậc trưởng lão nói – cũng nên xa lìa.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy tiếp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Sau khi Như Lai diệt độ, sẽ có người nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Phật dạy ăn thịt ba thứ tịnh nhục, sao nay cấm ăn?’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy trả lời:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Đó là bất liễu nghĩa, là phương tiện tạm thời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong Kinh Niết-bàn này, Phật đã cấm tuyệt đối ăn thịt, vì ăn thịt là dứt giống từ bi, là nuôi lớn ác nghiệp, là xa rời Phật tánh.’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nói ngược lại, là phá hoại chánh pháp.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Ca Diếp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nếu có người hỏi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Phật đã diệt độ, làm sao còn thường trụ?’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy trả lời:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Thân Phật có hai:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hóa thân sinh diệt, như trăng in nước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân thường trụ, như mặt trăng thật trên trời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nhập Niết-bàn là hóa thân diệt, nhưng Pháp thân chưa từng diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy được Pháp thân, người ấy thấy Phật thường trụ.’”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Này Ca Diếp!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn chỗ nương tựa này là mắt của chánh pháp, là hơi thở của Tam bảo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai giữ được bốn chỗ này, người ấy là đệ tử chân thật của Như Lai, là người hộ pháp, là ngọn đèn sáng giữa đêm đen.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Quyển 8 Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc vô lượng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí tuệ sáng suốt, không lạc vào tà kiến mạt pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm không lay động, dù gặp nghịch cảnh, vẫn giữ chánh niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh hiển lộ, nhận rõ tự tâm là thường, lạc, ngã, tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì chánh pháp, bảo vệ Tam bảo, ngăn ác pháp lan truyền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tránh ác đạo, trồng thiện căn, gần Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ vô lượng chúng sanh, vì biết nói pháp đúng thời, đúng nghĩa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thường nghe, thường trì, thường hành theo bốn chỗ nương tựa, người ấy chính là Bồ-tát hộ pháp, là ngọn đèn soi đường cho đời sau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Đại Bát Niết Bàn Kinh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6284852" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/1e098404-6bfb-4d73-8485-6d197c27a183/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">33b7aa1e-ad64-4ae2-a826-8264eab01cd2</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/1e098404-6bfb-4d73-8485-6d197c27a183</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:34:34 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>392</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 7</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 7</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><br></p><p>Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn, đặc biệt Quyển 7 (Phẩm Tứ Tướng), là lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn, nhằm khai thị chân lý Đại Niết-bàn – trạng thái thường, lạc, ngã, tịnh, nơi mọi chúng sinh đều có Phật tánh bất diệt. Phẩm này nhấn mạnh bốn tướng của việc khai thị Niết-bàn: tự chánh (tự nhận chân lý), chánh tha (dẫn dắt tha nhân), tùy vấn đáp (khéo đáp nghi vấn), và hiểu nhân duyên (thấu suốt lý do). Đồng thời, Phật cấm ăn thịt hoàn toàn để nuôi đại từ bi, tránh ác nghiệp, hướng dẫn hành giả sống thanh tịnh, hộ trì chánh pháp giữa thời mạt pháp.</p><p><br></p><p>Toàn Văn Quyển 7: Phẩm Tứ Tướng</p><p>Đức Phật lại bảo Ca Diếp Bồ Tát: “Vị Đại Bồ Tát phân biệt khai thị Đại Bát Niết Bàn có bốn tướng nghĩa: một là tự chánh, hai là chánh tha, ba là hay tùy vấn đáp, bốn là khéo hiểu nghĩa nhân duyên.</p><p><br></p><p>Thế nào là ‘Tự Chánh’? Nếu đức Như Lai thấy các nhân duyên mà có chỗ đáng dạy bảo. Như có Tỳ Kheo thấy cụm lửa lớn bèn nói rằng: thà rằng tôi tự ôm lấy cụm lửa này, trọn chẳng dám ở nơi chỗ đức Như Lai giảng thuyết mười hai phần kinh và tạng bí mật, mà hủy báng là của ma Ba Tuần nói chứ không phải Phật. Thà lấy dao bén cắt đứt lưỡi mình, không bao giờ nói Như Lai, Pháp và Tăng là vô thường. Hoặc nghe người khác nói như vậy tôi cũng không tin nhận mà còn thương xót cho kẻ ấy.</p><p><br></p><p>Như Lai, Pháp và Tăng chẳng thể nghĩ bàn, nên thọ trì như vậy. Tự xem thân mình như cụm lửa. Đây gọi là Tự Chánh”.</p><p><br></p><p>Thế nào là “Chánh Tha”? Lúc nọ Phật đang thuyết pháp, có một người nữ vào lạy Phật rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà cố ý hỏi rằng: Có phải nàng vì quá thương con, mà mớm cho con ăn nhiều chất bơ, rồi không biết có tiêu hóa hay không tiêu hóa? – Người nữ liền bạch Phật: “Lạ lùng thay! Đức Thế Tôn biết được tâm niệm của con. Bạch Thế Tôn! Sớm mai này tiện nữ cho con ăn nhiều chất bơ, lòng tiện nữ sợ rằng không tiêu hóa được, nó sẽ phải bệnh. Ngưỡng mong đức Như Lai chỉ dạy cho.” – Phật dạy: “Con nàng ăn thức ấy đã tiêu hóa tốt, nó sẽ được khỏe mạnh”. Người nữ nghe đức Phật nói, thời vui mừng hớn hở và thốt lời rằng: “Vì đức Như Lai nói đúng như thiệt nên con vui mừng”.</p><p><br></p><p>Đức Thế Tôn vì muốn điều phục các chúng sanh, mà khéo phân biệt nói tiêu hay chẳng tiêu, cũng nói các pháp vô ngã, vô thường. Nếu Phật nói “thường” trước, các đệ tử sẽ cho rằng pháp này đồng với ngoại đạo mà không chịu tin theo, vì hàng thanh văn đệ tử sẽ chẳng tiêu được pháp thường trụ, nên Như Lai trước dạy pháp “khổ”, “vô thường”. Khi mà hàng thanh văn đệ tử đã đầy đủ công đức, đủ sức tu tập kinh pháp đại thừa, Như Lai ở kinh này nói sáu vị: Một là “Khổ”, vị chua; hai là “vô thường”, vị mặn; ba là “vô ngã”, vị đắng; bốn là “lạc”, vị ngọt; năm là “ngã”, vị cay; sáu là “thường”, vị lạt.</p><p><br></p><p>Trong thế gian kia có ba vị: vô thường, vô ngã, và khổ, phiền não làm củi, trí huệ làm lửa, do các nhân duyên đó mà thành cơm niết bàn tức là “thường, lạc và ngã”, làm cho các đệ tử đều được nếm mùi ngọt ngon.</p><p><br></p><p>Phật lại bảo người nữ rằng: “Nếu nàng có sự duyên muốn đến xứ khác, thời phải đuổi đứa con trai hung ác ra khỏi nhà, rồi đem gia nghiệp giao cho đứa con trai hiền lành.” Người nữ bạch Phật rằng: “Thiệt đúng như lời đức Thế Tôn dạy, gia nghiệp nên giao cho đứa con hiền, chớ chẳng nên giao cho đứa con dữ.” Phật nói: “Như Lai cũng vậy, lúc nhập niết bàn, đem tạng pháp vô thượng phó chúc cho các vị Bồ Tát, chớ không giao cho hàng Thanh văn, vì hàng Thanh văn tưởng là Như Lai thiệt diệt độ. Còn các vị Bồ Tát thời nhận rằng Như Lai thường trụ không biến đổi. Mà quả thiệt Như Lai không có diệt độ. Như lúc nàng xa nhà chưa trở về, đứa con ác kia bèn nói là nàng đã chết mất rồi, còn đứa con hiền vẫn tin tưởng là nàng còn sống. Mà chính thiệt thời nàng còn sống.</p><p><br></p><p>Nếu có chúng sanh nào nhận rằng Phật là thường trụ không biến đổi, phải biết nhà kẻ ấy thời là có Phật.</p><p><br></p><p>Đây gọi là Chánh Tha.</p><p><br></p><p>Thế nào là Hay Tùy Vấn Đáp? Nếu có người đến hỏi Phật rằng: tôi phải làm thế nào không mất tiền của mà được gọi là Đàn Việt đại bố thí? Phật dạy: “Đem tôi trai tớ gái bố thí cho những bực Sa Môn, Bà La Môn thiểu dục tri túc chẳng nhận chẳng chứa các vật bất tịnh. Đem người nữ thí cho vị tu phạm hạnh. Đem rượu thịt thí cho người đã dứt rượu thịt. Đem thực phẩm phi thời thí cho người không ăn phi thời. Đem đồ trang sức thí cho người không trang sức. Bố thí như vậy rất có danh tiếng, mà của tiền khỏi mất hào ly.”</p><p><br></p><p>Đây gọi là Hay Tùy Vấn Đáp.</p><p><br></p><p>Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Với người ăn thịt chẳng nên đem thịt đến cho. Vì con thấy người không ăn thịt được công đức lớn.”</p><p><br></p><p>Phật khen: “Lành thay! Lành thay! Nay ông có thể khéo biết ý của Như Lai. Bồ Tát hộ pháp phải như vậy.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Bắt đầu từ ngày nay trở đi Như Lai không cho phép hàng thanh văn đệ tử ăn thịt, nếu đàn việt đem đến dưng thí, phải xem thịt ấy như thịt con mình”.</p><p><br></p><p>Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Tại sao đức Như Lai không cho phép ăn thịt?”</p><p><br></p><p>Phật dạy: “Này Ca Diếp! Luận về người ăn thịt thời dứt mất giống đại từ”.</p><p><br></p><p>Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Duyên cớ gì ngày trước đức Như Lai cho phép hàng Tỳ Kheo ăn ba thứ tịnh nhục?” Phật dạy: “Này Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy chỉ là theo việc mà tạm chế thôi”.</p><p><br></p><p>Ca Diếp Bồ Tát lại bạch: “Bạch Thế Tôn! Duyên cớ gì mà mười thứ bất tịnh nhẫn đến chín thứ thanh tịnh, Như Lai lại chẳng cho phép?</p><p><br></p><p>Phật nói: “Cũng là nhân nơi sự mà lần lượt chế. Nên biết chính là nghĩa đoạn nhục hiện nay”.</p><p><br></p><p>Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Cớ sao Như Lai khen ngợi ngư nhục là món ăn ngon?”</p><p><br></p><p>Phật dạy: “Như Lai cũng chẳng nói loài ngư nhục là món ăn ngon, mà Như Lai vẫn nói mía, đường, gạo, tất cả thứ lúa, bắp, sữa, bơ, dầu, là những thức ăn ngon.</p><p><br></p><p>Dầu rằng Như Lai nói được chứa các thứ y phục, mà đều phải hoại sắc, huống lại tham ưa nơi vị ngư nhục kia”</p><p><br></p><p>Ca Diếp lại bạch Phật: “Đức Như Lai nếu chế không được ăn ngư nhục, thời những thứ sữa, bơ, dầu, v.v… và các thứ y phục kiều xa gia, đồ bằng da thú, ngọc ngà, bồn chậu bằng vàng bạc, cũng đều chẳng nên dùng”.</p><p><br></p><p>Phật dạy: “Này Ca Diếp! Chẳng nên có kiến chấp đồng với bọn lõa thể ngoại đạo kia. Bao nhiêu giới cấm của Như Lai chế ra đều có dị ý. Vì dị ý nên cho ăn ba thứ tịnh nhục. Vì dị ý nên cấm ăn mười thứ thịt. Vì dị ý nên cấm tất cả thứ thịt đều không được ăn, dầu là thịt của con vật tự chết.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Từ nay Như Lai cấm các đệ tử không được ăn tất cả thứ thịt.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Người mà ăn thịt, hoặc đi đứng nằm ngồi chúng sanh nào nghe đến hơi thịt thời kinh sợ. Ví như người ở gần sư tử, đi đến đâu, mọi người nghe mùi hôi của sư tử đều kinh sợ. Như người ăn tỏi, không ai dám gần người ấy vì tanh mùi tỏi. Kẻ ăn thịt cũng vậy, tất cả chúng sanh nghe hơi thịt, thảy đều kinh sợ, nghĩ đến sự chết, các loài cá trạnh, muôn thú cùng chim chóc, đều chạy tránh xa, đều có quan niệm rằng người ấy là kẻ hại ta. Vì thế nên Bồ Tát không ăn thịt, vì độ chúng sanh mà thị hiện ăn thịt. Dầu thị hiện ăn thịt mà thật ra thời không có ăn.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Hàng Bồ Tát này còn không ăn những thức ăn thanh tịnh, huống lại ăn thịt.</p><p><br></p><p>Sau khi Như Lai nhập niết bàn, các bực tứ quả Thánh Nhân đều lần lượt nhập niết bàn. Sau khi chánh pháp diệt, trong thời tượng pháp, sẽ có các Tỳ Kheo in tuồng trì luật, ít đọc tụng kinh, tham ưa ăn uống, lo bồi bổ thân thể, y phục mặc trên thân thô xấu hôi dơ, hình dung tiều tụy không có oai đức, chăn nuôi bò dê vác củi gánh cỏ, tóc râu để dài, đầu mặc cà sa mà như thợ săn, dầu ngó xuống đi chậm rãi mà như mèo rình chuột. Thường tự xướng rằng ta chứng được quả A La Hán, mang nhiều bệnh khổ nằm lăn trên phân uế, ngoài thời hiện ra tướng hiền thiện, trong thời đầy lòng tham sân như bà la môn, thọ phép câm, thiệt chẳng phải Sa môn mà hiện tướng Sa môn, tà kiến xí thịnh, chê bai chánh pháp. Những người như vậy phá hoại giới luật, chánh hạnh oai nghi của Như Lai chế, và quả giải thoát của Như Lai nói.</p><p><br></p><p>Họ rời pháp thanh tịnh và làm hư hoại giáo pháp thậm thâm bí mật. Họ theo ý riêng, nói ngược với kinh luật rằng đức Phật cho phép chúng tôi ăn thịt. Họ đều tự xưng là Sa môn Thích tử.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Bấy giờ lại có các hàng Sa môn chứa thóc, nhận lấy thịt cá, tay tự nấu ăn, cầm xách bình dầu ăn, cùng giày dép bàng da và lọng báu, thân cận quốc vương, quan lớn, nhà giàu sang, xem tướng, coi sao, siêng học nghề thuốc, chứa nuôi tôi tớ, vàng bạc bảy báu, các thứ dưa trái, học tập các nghề: nghề vẽ, nghề nắn, làm sách dạy học, gieo trồng, chú thuật, chế thuốc, đàn ca xướng hát, hương hoa trang điểm, cờ bạc, học các nghề thợ.</p><p><br></p><p>Nếu có Tỳ Kheo nào hay tránh lìa các việc ác như trên, nên nói người ấy thật là đệ tử của Như Lai.</p><p><br></p><p>Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, nhân người khác giúp mà sống. Lúc khất thực, nếu đặng món ăn lộn với thịt, phải làm cách nào để ăn đúng với pháp thanh tịnh?</p><p><br></p><p>Phật dạy: “Này Ca Diếp! Nên lấy nước rửa sạch thịt rồi hãy ăn. Nếu đồ đựng bị thịt làm dơ, chỉ làm cho không có vị thịt thời cho phép được dùng không tội. Nếu thấy trong thức ăn có nhiều thịt thời không được nhận. Tất cả thứ thịt đều không được ăn. Người ăn thịt thời phải tội.</p><p><br></p><p>Nay Như Lai xuống điều chế đoạn nhục như vậy, nếu giảng rộng thời không thể hết. Giờ niết bàn gần đến phải nói lược.”</p><p><br></p><p>Đây gọi là “Hay tùy vấn đáp”.</p><p><br></p><p>Này Ca Diếp! Thế nào là Khéo Hiểu Nghĩa Nhân Duyên?</p><p><br></p><p>Như có bốn bộ chúng đến hỏi Như Lai rằng: những nghĩa như vậy, thuở đức Như Lai mới ra đời, cớ sao chẳng vì vua Ba Tư Nặc nói pháp môn nghĩa lý thâm diệu, hoặc có lúc nói thâm, có lúc nói thiển, hoặc gọi là phạm, hoặc gọi là không phạm, thế nào gọi là đọa? Thế nào gọi là luật? Thế nào là Ba-la-đề-mộc-xoa?</p><p><br></p><p>Phật dạy: “Ba-la-đề-mộc-xoa gọi là tri túc, thành tựu oai nghi, không cất chứa, cũng gọi là tịnh mạng.</p><p><br></p><p>Đọa đó gọi là bốn ác thú, và lại đọa đó là đọa nơi địa ngục, nhẫn A Tỳ, luận về chậm mau thời hơn nơi mưa to. Người nghe sợ hãi bèn giữ chặt cấm giới không phạm oai nghi, tu tập tri túc, chẳng thọ lấy tất cả vật bất tịnh. Và lại đọa là thêm lớn địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Vì những nghĩa ấy nên gọi là đọa.</p><p><br></p><p>Ba-la-đề-mộc-xoa là lìa nghiệp tà bất thiện của thân, khẩu, và ý.</p><p><br></p><p>Luật là các giới, oai nghi, nghĩa hay trong các kinh thâm diệu, ngăn thọ tất cả vật bất tịnh, và nhân duyên bất tịnh.</p><p><br></p><p>Lại có nghĩa thế này: ‘Tự Chánh’ là được đại bát niết bàn đây. ‘Chánh Tha’ là Như Lai vì Tỳ Kheo mà nói rằng Như Lai thường còn không biến đổi. ‘Tùy vấn đáp’ là, này Ca Diếp! Nhân ông hỏi mà Như Lai mới được dịp vì đại chúng giảng nói nghĩa lý thậm thâm vi diệu trên đây. ‘Nghĩa nhân duyên’ là, hàng Thanh văn Duyên giác không hiểu được nghĩa rất sâu như vậy, chẳng nghe chữ y do ba điểm mà thành, giải thoát cùng niết bàn và Ma ha bát nhã thành tạng bí mật.</p><p><br></p><p>Nếu có vị đại Bồ Tát an trụ đại bát niết bàn như vậy, thời có thể thị hiện vô lượng thần thông biến hóa như trên, mà trọn không có chút chướng ngại cùng e sợ.</p><p><br></p><p>Đại bát Niết Bàn đó gọi là chỗ giải thoát. Tùy nơi nào có chúng sanh đáng được điều phục, thời Như Lai ở trong ấy mà thị hiện. Vì nghĩa chân thiệt thậm thâm này nên gọi là đại bát niết bàn.”</p><p><br></p><p>Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc vô biên, giúp hành giả đoạn trừ tham sân si, nuôi dưỡng đại từ bi bằng cách tránh ác nghiệp như ăn thịt, khơi dậy Phật tánh thường trụ trong tự tâm. Người thực hành sẽ được an lạc, tránh ác đạo, tăng trưởng công đức, dễ dàng chứng ngộ Niết-bàn, hộ trì chánh pháp giữa mạt thế, và thành tựu quả vị Bồ-đề, độ vô lượng chúng sanh thoát khổ đau luân hồi. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải Thích Ngắn Gọn Ý Nghĩa Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn, đặc biệt Quyển 7 (Phẩm Tứ Tướng), là lời dạy cuối cùng của Đức Phật trước khi nhập Niết-bàn, nhằm khai thị chân lý Đại Niết-bàn – trạng thái thường, lạc, ngã, tịnh, nơi mọi chúng sinh đều có Phật tánh bất diệt. Phẩm này nhấn mạnh bốn tướng của việc khai thị Niết-bàn: tự chánh (tự nhận chân lý), chánh tha (dẫn dắt tha nhân), tùy vấn đáp (khéo đáp nghi vấn), và hiểu nhân duyên (thấu suốt lý do). Đồng thời, Phật cấm ăn thịt hoàn toàn để nuôi đại từ bi, tránh ác nghiệp, hướng dẫn hành giả sống thanh tịnh, hộ trì chánh pháp giữa thời mạt pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn Văn Quyển 7: Phẩm Tứ Tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật lại bảo Ca Diếp Bồ Tát: “Vị Đại Bồ Tát phân biệt khai thị Đại Bát Niết Bàn có bốn tướng nghĩa: một là tự chánh, hai là chánh tha, ba là hay tùy vấn đáp, bốn là khéo hiểu nghĩa nhân duyên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là ‘Tự Chánh’? Nếu đức Như Lai thấy các nhân duyên mà có chỗ đáng dạy bảo. Như có Tỳ Kheo thấy cụm lửa lớn bèn nói rằng: thà rằng tôi tự ôm lấy cụm lửa này, trọn chẳng dám ở nơi chỗ đức Như Lai giảng thuyết mười hai phần kinh và tạng bí mật, mà hủy báng là của ma Ba Tuần nói chứ không phải Phật. Thà lấy dao bén cắt đứt lưỡi mình, không bao giờ nói Như Lai, Pháp và Tăng là vô thường. Hoặc nghe người khác nói như vậy tôi cũng không tin nhận mà còn thương xót cho kẻ ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai, Pháp và Tăng chẳng thể nghĩ bàn, nên thọ trì như vậy. Tự xem thân mình như cụm lửa. Đây gọi là Tự Chánh”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là “Chánh Tha”? Lúc nọ Phật đang thuyết pháp, có một người nữ vào lạy Phật rồi ngồi qua một bên. Đức Thế Tôn biết mà cố ý hỏi rằng: Có phải nàng vì quá thương con, mà mớm cho con ăn nhiều chất bơ, rồi không biết có tiêu hóa hay không tiêu hóa? – Người nữ liền bạch Phật: “Lạ lùng thay! Đức Thế Tôn biết được tâm niệm của con. Bạch Thế Tôn! Sớm mai này tiện nữ cho con ăn nhiều chất bơ, lòng tiện nữ sợ rằng không tiêu hóa được, nó sẽ phải bệnh. Ngưỡng mong đức Như Lai chỉ dạy cho.” – Phật dạy: “Con nàng ăn thức ấy đã tiêu hóa tốt, nó sẽ được khỏe mạnh”. Người nữ nghe đức Phật nói, thời vui mừng hớn hở và thốt lời rằng: “Vì đức Như Lai nói đúng như thiệt nên con vui mừng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Thế Tôn vì muốn điều phục các chúng sanh, mà khéo phân biệt nói tiêu hay chẳng tiêu, cũng nói các pháp vô ngã, vô thường. Nếu Phật nói “thường” trước, các đệ tử sẽ cho rằng pháp này đồng với ngoại đạo mà không chịu tin theo, vì hàng thanh văn đệ tử sẽ chẳng tiêu được pháp thường trụ, nên Như Lai trước dạy pháp “khổ”, “vô thường”. Khi mà hàng thanh văn đệ tử đã đầy đủ công đức, đủ sức tu tập kinh pháp đại thừa, Như Lai ở kinh này nói sáu vị: Một là “Khổ”, vị chua; hai là “vô thường”, vị mặn; ba là “vô ngã”, vị đắng; bốn là “lạc”, vị ngọt; năm là “ngã”, vị cay; sáu là “thường”, vị lạt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong thế gian kia có ba vị: vô thường, vô ngã, và khổ, phiền não làm củi, trí huệ làm lửa, do các nhân duyên đó mà thành cơm niết bàn tức là “thường, lạc và ngã”, làm cho các đệ tử đều được nếm mùi ngọt ngon.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật lại bảo người nữ rằng: “Nếu nàng có sự duyên muốn đến xứ khác, thời phải đuổi đứa con trai hung ác ra khỏi nhà, rồi đem gia nghiệp giao cho đứa con trai hiền lành.” Người nữ bạch Phật rằng: “Thiệt đúng như lời đức Thế Tôn dạy, gia nghiệp nên giao cho đứa con hiền, chớ chẳng nên giao cho đứa con dữ.” Phật nói: “Như Lai cũng vậy, lúc nhập niết bàn, đem tạng pháp vô thượng phó chúc cho các vị Bồ Tát, chớ không giao cho hàng Thanh văn, vì hàng Thanh văn tưởng là Như Lai thiệt diệt độ. Còn các vị Bồ Tát thời nhận rằng Như Lai thường trụ không biến đổi. Mà quả thiệt Như Lai không có diệt độ. Như lúc nàng xa nhà chưa trở về, đứa con ác kia bèn nói là nàng đã chết mất rồi, còn đứa con hiền vẫn tin tưởng là nàng còn sống. Mà chính thiệt thời nàng còn sống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có chúng sanh nào nhận rằng Phật là thường trụ không biến đổi, phải biết nhà kẻ ấy thời là có Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây gọi là Chánh Tha.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là Hay Tùy Vấn Đáp? Nếu có người đến hỏi Phật rằng: tôi phải làm thế nào không mất tiền của mà được gọi là Đàn Việt đại bố thí? Phật dạy: “Đem tôi trai tớ gái bố thí cho những bực Sa Môn, Bà La Môn thiểu dục tri túc chẳng nhận chẳng chứa các vật bất tịnh. Đem người nữ thí cho vị tu phạm hạnh. Đem rượu thịt thí cho người đã dứt rượu thịt. Đem thực phẩm phi thời thí cho người không ăn phi thời. Đem đồ trang sức thí cho người không trang sức. Bố thí như vậy rất có danh tiếng, mà của tiền khỏi mất hào ly.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây gọi là Hay Tùy Vấn Đáp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Với người ăn thịt chẳng nên đem thịt đến cho. Vì con thấy người không ăn thịt được công đức lớn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật khen: “Lành thay! Lành thay! Nay ông có thể khéo biết ý của Như Lai. Bồ Tát hộ pháp phải như vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Bắt đầu từ ngày nay trở đi Như Lai không cho phép hàng thanh văn đệ tử ăn thịt, nếu đàn việt đem đến dưng thí, phải xem thịt ấy như thịt con mình”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Tại sao đức Như Lai không cho phép ăn thịt?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: “Này Ca Diếp! Luận về người ăn thịt thời dứt mất giống đại từ”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Duyên cớ gì ngày trước đức Như Lai cho phép hàng Tỳ Kheo ăn ba thứ tịnh nhục?” Phật dạy: “Này Ca Diếp! Ba thứ tịnh nhục ấy chỉ là theo việc mà tạm chế thôi”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp Bồ Tát lại bạch: “Bạch Thế Tôn! Duyên cớ gì mà mười thứ bất tịnh nhẫn đến chín thứ thanh tịnh, Như Lai lại chẳng cho phép?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: “Cũng là nhân nơi sự mà lần lượt chế. Nên biết chính là nghĩa đoạn nhục hiện nay”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Cớ sao Như Lai khen ngợi ngư nhục là món ăn ngon?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: “Như Lai cũng chẳng nói loài ngư nhục là món ăn ngon, mà Như Lai vẫn nói mía, đường, gạo, tất cả thứ lúa, bắp, sữa, bơ, dầu, là những thức ăn ngon.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu rằng Như Lai nói được chứa các thứ y phục, mà đều phải hoại sắc, huống lại tham ưa nơi vị ngư nhục kia”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp lại bạch Phật: “Đức Như Lai nếu chế không được ăn ngư nhục, thời những thứ sữa, bơ, dầu, v.v… và các thứ y phục kiều xa gia, đồ bằng da thú, ngọc ngà, bồn chậu bằng vàng bạc, cũng đều chẳng nên dùng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: “Này Ca Diếp! Chẳng nên có kiến chấp đồng với bọn lõa thể ngoại đạo kia. Bao nhiêu giới cấm của Như Lai chế ra đều có dị ý. Vì dị ý nên cho ăn ba thứ tịnh nhục. Vì dị ý nên cấm ăn mười thứ thịt. Vì dị ý nên cấm tất cả thứ thịt đều không được ăn, dầu là thịt của con vật tự chết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Từ nay Như Lai cấm các đệ tử không được ăn tất cả thứ thịt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Người mà ăn thịt, hoặc đi đứng nằm ngồi chúng sanh nào nghe đến hơi thịt thời kinh sợ. Ví như người ở gần sư tử, đi đến đâu, mọi người nghe mùi hôi của sư tử đều kinh sợ. Như người ăn tỏi, không ai dám gần người ấy vì tanh mùi tỏi. Kẻ ăn thịt cũng vậy, tất cả chúng sanh nghe hơi thịt, thảy đều kinh sợ, nghĩ đến sự chết, các loài cá trạnh, muôn thú cùng chim chóc, đều chạy tránh xa, đều có quan niệm rằng người ấy là kẻ hại ta. Vì thế nên Bồ Tát không ăn thịt, vì độ chúng sanh mà thị hiện ăn thịt. Dầu thị hiện ăn thịt mà thật ra thời không có ăn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Hàng Bồ Tát này còn không ăn những thức ăn thanh tịnh, huống lại ăn thịt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Như Lai nhập niết bàn, các bực tứ quả Thánh Nhân đều lần lượt nhập niết bàn. Sau khi chánh pháp diệt, trong thời tượng pháp, sẽ có các Tỳ Kheo in tuồng trì luật, ít đọc tụng kinh, tham ưa ăn uống, lo bồi bổ thân thể, y phục mặc trên thân thô xấu hôi dơ, hình dung tiều tụy không có oai đức, chăn nuôi bò dê vác củi gánh cỏ, tóc râu để dài, đầu mặc cà sa mà như thợ săn, dầu ngó xuống đi chậm rãi mà như mèo rình chuột. Thường tự xướng rằng ta chứng được quả A La Hán, mang nhiều bệnh khổ nằm lăn trên phân uế, ngoài thời hiện ra tướng hiền thiện, trong thời đầy lòng tham sân như bà la môn, thọ phép câm, thiệt chẳng phải Sa môn mà hiện tướng Sa môn, tà kiến xí thịnh, chê bai chánh pháp. Những người như vậy phá hoại giới luật, chánh hạnh oai nghi của Như Lai chế, và quả giải thoát của Như Lai nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Họ rời pháp thanh tịnh và làm hư hoại giáo pháp thậm thâm bí mật. Họ theo ý riêng, nói ngược với kinh luật rằng đức Phật cho phép chúng tôi ăn thịt. Họ đều tự xưng là Sa môn Thích tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Bấy giờ lại có các hàng Sa môn chứa thóc, nhận lấy thịt cá, tay tự nấu ăn, cầm xách bình dầu ăn, cùng giày dép bàng da và lọng báu, thân cận quốc vương, quan lớn, nhà giàu sang, xem tướng, coi sao, siêng học nghề thuốc, chứa nuôi tôi tớ, vàng bạc bảy báu, các thứ dưa trái, học tập các nghề: nghề vẽ, nghề nắn, làm sách dạy học, gieo trồng, chú thuật, chế thuốc, đàn ca xướng hát, hương hoa trang điểm, cờ bạc, học các nghề thợ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có Tỳ Kheo nào hay tránh lìa các việc ác như trên, nên nói người ấy thật là đệ tử của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, nhân người khác giúp mà sống. Lúc khất thực, nếu đặng món ăn lộn với thịt, phải làm cách nào để ăn đúng với pháp thanh tịnh?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: “Này Ca Diếp! Nên lấy nước rửa sạch thịt rồi hãy ăn. Nếu đồ đựng bị thịt làm dơ, chỉ làm cho không có vị thịt thời cho phép được dùng không tội. Nếu thấy trong thức ăn có nhiều thịt thời không được nhận. Tất cả thứ thịt đều không được ăn. Người ăn thịt thời phải tội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay Như Lai xuống điều chế đoạn nhục như vậy, nếu giảng rộng thời không thể hết. Giờ niết bàn gần đến phải nói lược.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây gọi là “Hay tùy vấn đáp”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ca Diếp! Thế nào là Khéo Hiểu Nghĩa Nhân Duyên?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có bốn bộ chúng đến hỏi Như Lai rằng: những nghĩa như vậy, thuở đức Như Lai mới ra đời, cớ sao chẳng vì vua Ba Tư Nặc nói pháp môn nghĩa lý thâm diệu, hoặc có lúc nói thâm, có lúc nói thiển, hoặc gọi là phạm, hoặc gọi là không phạm, thế nào gọi là đọa? Thế nào gọi là luật? Thế nào là Ba-la-đề-mộc-xoa?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: “Ba-la-đề-mộc-xoa gọi là tri túc, thành tựu oai nghi, không cất chứa, cũng gọi là tịnh mạng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọa đó gọi là bốn ác thú, và lại đọa đó là đọa nơi địa ngục, nhẫn A Tỳ, luận về chậm mau thời hơn nơi mưa to. Người nghe sợ hãi bèn giữ chặt cấm giới không phạm oai nghi, tu tập tri túc, chẳng thọ lấy tất cả vật bất tịnh. Và lại đọa là thêm lớn địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ. Vì những nghĩa ấy nên gọi là đọa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba-la-đề-mộc-xoa là lìa nghiệp tà bất thiện của thân, khẩu, và ý.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Luật là các giới, oai nghi, nghĩa hay trong các kinh thâm diệu, ngăn thọ tất cả vật bất tịnh, và nhân duyên bất tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có nghĩa thế này: ‘Tự Chánh’ là được đại bát niết bàn đây. ‘Chánh Tha’ là Như Lai vì Tỳ Kheo mà nói rằng Như Lai thường còn không biến đổi. ‘Tùy vấn đáp’ là, này Ca Diếp! Nhân ông hỏi mà Như Lai mới được dịp vì đại chúng giảng nói nghĩa lý thậm thâm vi diệu trên đây. ‘Nghĩa nhân duyên’ là, hàng Thanh văn Duyên giác không hiểu được nghĩa rất sâu như vậy, chẳng nghe chữ y do ba điểm mà thành, giải thoát cùng niết bàn và Ma ha bát nhã thành tạng bí mật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có vị đại Bồ Tát an trụ đại bát niết bàn như vậy, thời có thể thị hiện vô lượng thần thông biến hóa như trên, mà trọn không có chút chướng ngại cùng e sợ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại bát Niết Bàn đó gọi là chỗ giải thoát. Tùy nơi nào có chúng sanh đáng được điều phục, thời Như Lai ở trong ấy mà thị hiện. Vì nghĩa chân thiệt thậm thâm này nên gọi là đại bát niết bàn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Lạc Của Việc Nghe, Trì Niệm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Đại Bát Niết Bàn mang lại lợi lạc vô biên, giúp hành giả đoạn trừ tham sân si, nuôi dưỡng đại từ bi bằng cách tránh ác nghiệp như ăn thịt, khơi dậy Phật tánh thường trụ trong tự tâm. Người thực hành sẽ được an lạc, tránh ác đạo, tăng trưởng công đức, dễ dàng chứng ngộ Niết-bàn, hộ trì chánh pháp giữa mạt thế, và thành tựu quả vị Bồ-đề, độ vô lượng chúng sanh thoát khổ đau luân hồi. Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="13206256" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/5ee54904-9439-415d-ac75-1f993fc42564/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">9c03e0d2-33a3-46ed-a9c7-04a20de51609</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/5ee54904-9439-415d-ac75-1f993fc42564</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:32:40 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>825</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 6</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 6</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 6 Kinh Niết Bàn</p><p>PHẨM DANH TỰ CÔNG ĐỨC THỨ SÁU</p><p>Bấy giờ đức Như-Lai lại bảo Ca-Diếp Bồ-Tát: “Nầy Ca-Diếp! Nay ông nên khéo thọ trì danh tự chương cú cùng công đức của kinh nầy. Nếu có ai được nghe tên kinh nầy, thời không còn phải sanh vào bốn đường ác. Vì kinh nầy là chỗ tu tập của vô-lượng vô-biên chư Phật. Nay Như-Lai sẽ nói về chỗ được công đức.</p><p>Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật: “Bạch Thế-Tôn! Kinh nầy tên gì? Đại Bồ-Tát phụng trì thế nào?”</p><p>Phật dạy: “Kinh nầy tên là Đại-Bát-Niết-Bàn”. Tất cả lời hoặc thượng, hoặc trung, hoặc hạ đều lành cả. Nghĩa vị thâm thúy, văn trong kinh cũng lành, tinh-thuần đầy đủ phạm-hạnh thanh tịnh, Bửu-tạng kim cang đầy đủ không thiếu. Nay ông khéo nghe, Như-Lai sẽ nói.</p><p>Nầy Ca-Diếp! Nói là Đại đó gọi là Thường, như tám sông lớn đều chảy về biển cả. Kinh nầy hàng phục các kiết sử phiền não và các tánh ma, rồi cần phải ở nơi Đại-bát Niết-bàn mà buông bỏ thân mạng. Vì thế nên tên là Đại-Bát-Niết-Bàn.</p><p>Lại như Y-sư có một bí phương, nhiếp cả các phương thuốc khác. Cũng vậy, bao nhiêu môn diệu pháp thâm-áo bí mật đều vào nơi “Đại-Bát Niết-Bàn”. Vì thế nên gọi là “Đại-Bát Niết-Bàn”.</p><p>Ví như nông phu, tháng mùa xuân gieo giống thường có hy vọng lúc đã gặt hái xong thời không hy vọng nữa.</p><p>Cũng vậy, tất cả chúng sanh tu học các thứ kinh khác thường hy vọng mùi vị, nếu được nghe kinh Đai-Bát-Niết-Bàn nầy, thời sự hy vọng mùi vị nơi các kinh kia thảy đều dứt hẳn.</p><p>Đại-Niết-Bàn đây có thể làm cho chúng sanh qua khỏi các giòng hữu-lậu trong ba cõi.</p><p>Nầy Ca-Diếp! Như trong các dấu chưn, dấu chưn voi là hơn cả. Cũng vậy, kinh nầy là đệ nhứt nơi các kinh Tam-muội.</p><p>Như cày ruộng, mùa thu cày là hơn cả, cũng vậy, trong các kinh, kinh nầy là hơn cả.</p><p>Như trong các vị thuốc, vị đề-hồ là thứ nhứt hay trị bịnh nhiệt não loạn tâm của chúng sanh, cũng vậy, kinh Đại-Bát-Niết-Bàn là thứ nhứt.</p><p>Như bơ ngọt đủ cả tám mùi. Cũng vậy, kinh nầy đầy đủ tám vị. Những gì là tám? Một là “thường”, hai là “hằng”, ba là “an”, bốn là “thanh lương”, năm là “chẳng già”, sáu là “chẳng chết”, bảy là “không nhơ”, tám là “khoái lạc”. Vì đầy đủ tám vị nên gọi là “Đại-Bát-Niết-Bàn”.</p><p>Nếu các đại Bồ-Tát an trụ trong đây thời lại có thể thị hiện Niết-bàn ở nhiều nơi. Vì thế nên gọi là “Đại-Bát-Niết-Bàn”.</p><p>Nầy Ca-Diếp! Nếu người nào muốn ở nơi Đại-Bát-Niết-Bàn đây mà Niết-Bàn thời phải học như vầy: Như-Lai thường-trụ, Pháp và Tăng cũng thường-trụ.</p><p>Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật: “Bạch Thế-tôn! Công đức của Như-Lai chẳng thể nghĩ bàn. Pháp và Tăng cũng không thể nghĩ bàn. Đại-Niết-Bàn đây cũng không thể nghĩ bàn.</p><p>Nếu có người tu học kinh điển nầy thời đặng pháp môn chơn chánh, có thể làm lương y. Nếu là chưa học, nên biết người nầy đui mù không con mắt trí huệ bị vô minh che đậy”.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 6 Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;PHẨM DANH TỰ CÔNG ĐỨC THỨ SÁU&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ đức Như-Lai lại bảo Ca-Diếp Bồ-Tát: “Nầy Ca-Diếp! Nay ông nên khéo thọ trì danh tự chương cú cùng công đức của kinh nầy. Nếu có ai được nghe tên kinh nầy, thời không còn phải sanh vào bốn đường ác. Vì kinh nầy là chỗ tu tập của vô-lượng vô-biên chư Phật. Nay Như-Lai sẽ nói về chỗ được công đức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật: “Bạch Thế-Tôn! Kinh nầy tên gì? Đại Bồ-Tát phụng trì thế nào?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: “Kinh nầy tên là Đại-Bát-Niết-Bàn”. Tất cả lời hoặc thượng, hoặc trung, hoặc hạ đều lành cả. Nghĩa vị thâm thúy, văn trong kinh cũng lành, tinh-thuần đầy đủ phạm-hạnh thanh tịnh, Bửu-tạng kim cang đầy đủ không thiếu. Nay ông khéo nghe, Như-Lai sẽ nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nầy Ca-Diếp! Nói là Đại đó gọi là Thường, như tám sông lớn đều chảy về biển cả. Kinh nầy hàng phục các kiết sử phiền não và các tánh ma, rồi cần phải ở nơi Đại-bát Niết-bàn mà buông bỏ thân mạng. Vì thế nên tên là Đại-Bát-Niết-Bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại như Y-sư có một bí phương, nhiếp cả các phương thuốc khác. Cũng vậy, bao nhiêu môn diệu pháp thâm-áo bí mật đều vào nơi “Đại-Bát Niết-Bàn”. Vì thế nên gọi là “Đại-Bát Niết-Bàn”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như nông phu, tháng mùa xuân gieo giống thường có hy vọng lúc đã gặt hái xong thời không hy vọng nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng vậy, tất cả chúng sanh tu học các thứ kinh khác thường hy vọng mùi vị, nếu được nghe kinh Đai-Bát-Niết-Bàn nầy, thời sự hy vọng mùi vị nơi các kinh kia thảy đều dứt hẳn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại-Niết-Bàn đây có thể làm cho chúng sanh qua khỏi các giòng hữu-lậu trong ba cõi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nầy Ca-Diếp! Như trong các dấu chưn, dấu chưn voi là hơn cả. Cũng vậy, kinh nầy là đệ nhứt nơi các kinh Tam-muội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như cày ruộng, mùa thu cày là hơn cả, cũng vậy, trong các kinh, kinh nầy là hơn cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trong các vị thuốc, vị đề-hồ là thứ nhứt hay trị bịnh nhiệt não loạn tâm của chúng sanh, cũng vậy, kinh Đại-Bát-Niết-Bàn là thứ nhứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như bơ ngọt đủ cả tám mùi. Cũng vậy, kinh nầy đầy đủ tám vị. Những gì là tám? Một là “thường”, hai là “hằng”, ba là “an”, bốn là “thanh lương”, năm là “chẳng già”, sáu là “chẳng chết”, bảy là “không nhơ”, tám là “khoái lạc”. Vì đầy đủ tám vị nên gọi là “Đại-Bát-Niết-Bàn”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu các đại Bồ-Tát an trụ trong đây thời lại có thể thị hiện Niết-bàn ở nhiều nơi. Vì thế nên gọi là “Đại-Bát-Niết-Bàn”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nầy Ca-Diếp! Nếu người nào muốn ở nơi Đại-Bát-Niết-Bàn đây mà Niết-Bàn thời phải học như vầy: Như-Lai thường-trụ, Pháp và Tăng cũng thường-trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-Diếp Bồ-Tát bạch Phật: “Bạch Thế-tôn! Công đức của Như-Lai chẳng thể nghĩ bàn. Pháp và Tăng cũng không thể nghĩ bàn. Đại-Niết-Bàn đây cũng không thể nghĩ bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người tu học kinh điển nầy thời đặng pháp môn chơn chánh, có thể làm lương y. Nếu là chưa học, nên biết người nầy đui mù không con mắt trí huệ bị vô minh che đậy”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="4182099" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/455fa177-af37-4a44-bd31-9daf90817076/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">dc45fe47-e5c1-45f3-abc6-30ebd1c2f709</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/455fa177-af37-4a44-bd31-9daf90817076</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:07:08 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/3/6657a35e-56d7-407e-8295-3d74d18f120e_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>261</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 5</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 5</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 5 Kinh Niết Bàn</p><p>ĐẠI BÁT NIẾT-BÀN KINH QUYỂN ĐỆ NGŨ - NHƯ LAI TÁNH PHẨM - ĐỆ TỨ CHI NHỐI</p><p>Bấy giờ Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: &#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai có bí mật tạng không? Nếu có, sao lại nói không có bí mật tàng? Nếu không có, sao lại nói có bí mật tàng?&#34;</p><p>Phật bảo Ca-diếp: &#34;Thiện nam tử! Như Lai không có bí mật tàng. Bí mật tàng của Như Lai là bí mật ngữ, không phải bí mật tàng. Vì sao? Vì Như Lai nói pháp như thật, không có che giấu. Như Lai nói pháp là pháp bất khả tư nghị, chỉ có Phật mới biết.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là bí mật ngữ?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Bí mật ngữ là nói pháp theo cơ duyên chúng sanh, không phải nói hết thảy pháp. Như nói Tứ đế cho Thanh văn, nói Thập nhị nhân duyên cho Duyên giác, nói Lục ba-la-mật cho Bồ-tát. Đó là bí mật ngữ.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai có tích tụ không? Nếu có, sao lại nói không tích tụ? Nếu không có, sao lại nói có tích tụ?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Như Lai không có tích tụ. Tích tụ của Như Lai là Niết-bàn, là thường trụ bất biến. Niết-bàn không có tích tụ, vì Niết-bàn là vô vi, vô tạo tác.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Sao lại nói Niết-bàn là vô vi?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Niết-bàn là vô vi, vì diệt hết phiền não, không còn sinh diệt. Niết-bàn là thường, vì không biến đổi; lạc, vì không khổ; ngã, vì tự tại; tịnh, vì không ô nhiễm.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Chúng sanh có Niết-bàn không?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tánh là Niết-bàn. Khi diệt phiền não thì chứng Niết-bàn.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Như Lai không bí tàng</p><p>Nói pháp như thật lý</p><p>Theo cơ duyên chúng sanh</p><p>Bí mật ngữ mà thôi.</p><p>Tích tụ là hữu vi</p><p>Niết-bàn vô tích tụ</p><p>Thường lạc ngã tịnh thật</p><p>Chứng được diệt phiền não.</p><p>Bấy giờ Phật lại bảo Ca-diếp: &#34;Thiện nam tử! Như có người bị trúng tên độc, đau đớn, thầy thuốc lấy dao mổ lấy tên, bôi thuốc. Người đó hết đau, nhưng vết thương vẫn còn. Như Lai cũng vậy, vì chúng sanh mà nói pháp, diệt phiền não như tên độc, nhưng Phật tánh vẫn còn như vết thương lành.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Phật tánh là hữu hay vô?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Phật tánh không hữu không vô, là trung đạo. Phật tánh là bất khả tư nghì.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là trung đạo?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Trung đạo là không rơi vào hai biên hữu vô, thường đoạn, ngã vô ngã. Trung đạo là Niết-bàn.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Phật tánh trung đạo lý</p><p>Không hữu không vô tánh</p><p>Bất khả tư nghì pháp</p><p>Chứng ngộ diệt phiền não.</p><p>Bấy giờ Ca-diếp bạch Phật: &#34;Bạch Thế Tôn! Chúng sanh có Phật tánh, sao không thấy?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Phật tánh bị phiền não che lấp, như vàng bị bùn che. Khi tu hành diệt phiền não thì thấy Phật tánh.&#34;</p><p>Ca-diếp bạch: &#34;Bạch Thế Tôn! Nhất xiển đề có Phật tánh không?&#34;</p><p>Phật bảo: &#34;Thiện nam tử! Nhất xiển đề cũng có Phật tánh, nhưng vì phỉ báng Chánh pháp nên tạm thời không thấy. Khi hồi tâm thì thấy được.&#34;</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Tất cả chúng sanh giai</p><p>Có Phật tánh thường trú</p><p>Phiền não che lấp cố</p><p>Tu hành thì hiển hiện.</p><p>Bấy giờ Phật bảo đại chúng: &#34;Các ông nên biết, Phật tánh là chân thật, là chỗ y chỉ của tất cả pháp. Phật tánh là Niết-bàn, là thường lạc ngã tịnh.&#34;</p><p>Đại chúng nghe rồi, vui mừng hớn hở, lễ Phật mà lui.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 5 Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;ĐẠI BÁT NIẾT-BÀN KINH QUYỂN ĐỆ NGŨ - NHƯ LAI TÁNH PHẨM - ĐỆ TỨ CHI NHỐI&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai có bí mật tạng không? Nếu có, sao lại nói không có bí mật tàng? Nếu không có, sao lại nói có bí mật tàng?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Ca-diếp: &amp;#34;Thiện nam tử! Như Lai không có bí mật tàng. Bí mật tàng của Như Lai là bí mật ngữ, không phải bí mật tàng. Vì sao? Vì Như Lai nói pháp như thật, không có che giấu. Như Lai nói pháp là pháp bất khả tư nghị, chỉ có Phật mới biết.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là bí mật ngữ?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Bí mật ngữ là nói pháp theo cơ duyên chúng sanh, không phải nói hết thảy pháp. Như nói Tứ đế cho Thanh văn, nói Thập nhị nhân duyên cho Duyên giác, nói Lục ba-la-mật cho Bồ-tát. Đó là bí mật ngữ.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Như Lai có tích tụ không? Nếu có, sao lại nói không tích tụ? Nếu không có, sao lại nói có tích tụ?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Như Lai không có tích tụ. Tích tụ của Như Lai là Niết-bàn, là thường trụ bất biến. Niết-bàn không có tích tụ, vì Niết-bàn là vô vi, vô tạo tác.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Niết-bàn là thường, lạc, ngã, tịnh. Sao lại nói Niết-bàn là vô vi?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Niết-bàn là vô vi, vì diệt hết phiền não, không còn sinh diệt. Niết-bàn là thường, vì không biến đổi; lạc, vì không khổ; ngã, vì tự tại; tịnh, vì không ô nhiễm.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Chúng sanh có Niết-bàn không?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Phật tánh là Niết-bàn. Khi diệt phiền não thì chứng Niết-bàn.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai không bí tàng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp như thật lý&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo cơ duyên chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bí mật ngữ mà thôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tích tụ là hữu vi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn vô tích tụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường lạc ngã tịnh thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứng được diệt phiền não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật lại bảo Ca-diếp: &amp;#34;Thiện nam tử! Như có người bị trúng tên độc, đau đớn, thầy thuốc lấy dao mổ lấy tên, bôi thuốc. Người đó hết đau, nhưng vết thương vẫn còn. Như Lai cũng vậy, vì chúng sanh mà nói pháp, diệt phiền não như tên độc, nhưng Phật tánh vẫn còn như vết thương lành.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Phật tánh là hữu hay vô?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Phật tánh không hữu không vô, là trung đạo. Phật tánh là bất khả tư nghì.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Sao gọi là trung đạo?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Trung đạo là không rơi vào hai biên hữu vô, thường đoạn, ngã vô ngã. Trung đạo là Niết-bàn.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh trung đạo lý&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hữu không vô tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất khả tư nghì pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứng ngộ diệt phiền não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Ca-diếp bạch Phật: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Chúng sanh có Phật tánh, sao không thấy?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Phật tánh bị phiền não che lấp, như vàng bị bùn che. Khi tu hành diệt phiền não thì thấy Phật tánh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: &amp;#34;Bạch Thế Tôn! Nhất xiển đề có Phật tánh không?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: &amp;#34;Thiện nam tử! Nhất xiển đề cũng có Phật tánh, nhưng vì phỉ báng Chánh pháp nên tạm thời không thấy. Khi hồi tâm thì thấy được.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả chúng sanh giai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có Phật tánh thường trú&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phiền não che lấp cố&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu hành thì hiển hiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật bảo đại chúng: &amp;#34;Các ông nên biết, Phật tánh là chân thật, là chỗ y chỉ của tất cả pháp. Phật tánh là Niết-bàn, là thường lạc ngã tịnh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng nghe rồi, vui mừng hớn hở, lễ Phật mà lui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5081547" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/b36e7cd4-d47e-4f49-9cda-128986fd7edb/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">00668132-4586-4cf2-8f6e-8c69ce539e84</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/b36e7cd4-d47e-4f49-9cda-128986fd7edb</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:05:59 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/3/5dbeaf0a-8b72-4cf8-a921-7a87c9819e88_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>317</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 4</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 4</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 4 Kinh Niết Bàn</p><p>Phẩm Tánh Như Lai Thứ Tư</p><p>Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tánh Như Lai có phải là tánh hữu không? Nếu là tánh hữu thì sao lại nói là không? Nếu là tánh vô thì sao lại nói là có? Nếu vừa hữu vừa vô thì sao lại nói là trung đạo? Nếu không hữu không vô thì sao lại nói là tánh?”</p><p>Phật đáp: “Thiện nam tử! Tánh Như Lai không phải hữu, không phải vô, không phải hữu vô, không phải phi hữu phi vô. Tánh Như Lai là bất khả tư nghì, chỉ có Phật mới biết. Vì sao? Vì tánh Như Lai là thường trụ bất biến, là chân thật, là chân ngã, chân tịnh, chân lạc.”</p><p>Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tánh Như Lai?”</p><p>Phật đáp: “Thiện nam tử! Tánh Như Lai chính là Phật tánh. Phật tánh là gì? Phật tánh là cái có ở tất cả chúng sanh, nhưng bị phiền não che lấp nên không thấy. Khi phiền não diệt thì Phật tánh hiện, như sữa có bơ, nhưng phải khuấy mới được bơ.”</p><p>Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, thì sao có nhất xiển đề không có Phật tánh?”</p><p>Phật đáp: “Thiện nam tử! Nhất xiển đề cũng có Phật tánh, nhưng vì phỉ báng Chánh pháp nên tạm thời không thấy. Khi hồi tâm thì thấy được. Như kim cang bị bùn che, nhưng kim cang vẫn ở đó.”</p><p>Phật lại nói: “Phật tánh là thường, lạc, ngã, tịnh. Thường là bất biến, lạc là không khổ, ngã là tự tại, tịnh là không ô nhiễm. Niết Bàn là Phật tánh, là chỗ về của tất cả chúng sanh.”</p><p>Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Sao Niết Bàn là thường mà Phật nhập Niết Bàn?”</p><p>Phật đáp: “Thiện nam tử! Phật không nhập Niết Bàn, chỉ thị hiện nhập để độ chúng sanh. Phật thân là kim cang bất hoại, thường trụ bất diệt. Thị hiện sinh tử để dạy chúng sanh vô thường.”</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Tánh Phật thường trụ lạc</p><p>Ngã tịnh bất tư nghì</p><p>Chúng sanh bị phiền che</p><p>Tu hành thì thấy được</p><p>Như sữa có bơ sẵn</p><p>Khuấy thì bơ hiện ra</p><p>Phật tánh ở chúng sanh</p><p>Diệt phiền thì Phật thành.</p><p>Phẩm Kim Cang Thân Thứ Năm</p><p>Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Thân Phật là kim cang bất hoại, sao lại thị hiện bệnh, già, chết?”</p><p>Phật đáp: “Thiện nam tử! Thân Phật là kim cang, bất sinh bất diệt, bất lão bất bệnh. Thị hiện sinh tử để độ chúng sanh. Như kim cang không bị lửa đốt, nước ngâm, gió thổi, đất chôn, thân Phật cũng vậy, không bị bốn đại làm hại.”</p><p>Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Sao gọi là kim cang thân?”</p><p>Phật đáp: “Kim cang thân là thân thường trụ, bất hoại, do tu hành giới định tuệ mà thành. Giới là nền tảng, định là tường vách, tuệ là mái che. Thân này không bị phiền não phá hoại, như kim cang không bị vật khác phá.”</p><p>Phật lại nói: “Thân Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, do công đức tu hành mà có. Chúng sanh thấy thân Phật, sinh lòng tin, tu hành đạt Phật quả.”</p><p>Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Chúng sanh có thân kim cang không?”</p><p>Phật đáp: “Chúng sanh có Phật tánh, nên có tiềm năng thành kim cang thân. Tu hành diệt phiền não thì thành.”</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Kim cang thân bất hoại</p><p>Thường trụ không sinh diệt</p><p>Tu giới định tuệ thành</p><p>Độ chúng sanh khổ não.</p><p>Phẩm Danh Tự Công Đức Thứ Sáu</p><p>Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Công đức danh tự Như Lai là gì?”</p><p>Phật đáp: “Thiện nam tử! Như Lai có mười danh tự: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Mỗi danh tự có công đức vô lượng.”</p><p><br></p><p>Như Lai: Đến như thật, nói pháp như thật.</p><p>Ứng Cúng: Xứng đáng nhận cúng dường.</p><p>Chánh Biến Tri: Biết đúng khắp hết thảy pháp.</p><p>Minh Hạnh Túc: Hiểu rõ hành nghiệp chúng sanh.</p><p>Thiện Thệ: Khéo vượt qua sinh tử.</p><p>Thế Gian Giải: Hiểu rõ thế gian.</p><p>Vô Thượng Sĩ: Không ai hơn.</p><p>Điều Ngự Trượng Phu: Điều phục chúng sanh.</p><p>Thiên Nhân Sư: Thầy trời người.</p><p>Phật Thế Tôn: Giác ngộ, tôn quý thế gian.</p><p><br></p><p>Phật nói: “Niệm danh tự Như Lai, được công đức lớn, diệt tội nặng, sinh cõi lành, đạt Phật quả.”</p><p>Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Công đức niệm danh tự lớn như vậy, huống chi tu hành theo lời dạy.”</p><p>Phật đáp: “Đúng vậy. Niệm danh tự là phương tiện, tu hành là thực chất.”</p><p>Phật nói kệ:</p><p>Danh tự Như Lai mười</p><p>Công đức vô biên lượng</p><p>Niệm thì diệt tội nặng</p><p>Tu thì thành Phật quả.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 4 Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Tánh Như Lai Thứ Tư&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tánh Như Lai có phải là tánh hữu không? Nếu là tánh hữu thì sao lại nói là không? Nếu là tánh vô thì sao lại nói là có? Nếu vừa hữu vừa vô thì sao lại nói là trung đạo? Nếu không hữu không vô thì sao lại nói là tánh?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Thiện nam tử! Tánh Như Lai không phải hữu, không phải vô, không phải hữu vô, không phải phi hữu phi vô. Tánh Như Lai là bất khả tư nghì, chỉ có Phật mới biết. Vì sao? Vì tánh Như Lai là thường trụ bất biến, là chân thật, là chân ngã, chân tịnh, chân lạc.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Sao gọi là tánh Như Lai?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Thiện nam tử! Tánh Như Lai chính là Phật tánh. Phật tánh là gì? Phật tánh là cái có ở tất cả chúng sanh, nhưng bị phiền não che lấp nên không thấy. Khi phiền não diệt thì Phật tánh hiện, như sữa có bơ, nhưng phải khuấy mới được bơ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, thì sao có nhất xiển đề không có Phật tánh?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Thiện nam tử! Nhất xiển đề cũng có Phật tánh, nhưng vì phỉ báng Chánh pháp nên tạm thời không thấy. Khi hồi tâm thì thấy được. Như kim cang bị bùn che, nhưng kim cang vẫn ở đó.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật lại nói: “Phật tánh là thường, lạc, ngã, tịnh. Thường là bất biến, lạc là không khổ, ngã là tự tại, tịnh là không ô nhiễm. Niết Bàn là Phật tánh, là chỗ về của tất cả chúng sanh.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Sao Niết Bàn là thường mà Phật nhập Niết Bàn?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Thiện nam tử! Phật không nhập Niết Bàn, chỉ thị hiện nhập để độ chúng sanh. Phật thân là kim cang bất hoại, thường trụ bất diệt. Thị hiện sinh tử để dạy chúng sanh vô thường.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tánh Phật thường trụ lạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngã tịnh bất tư nghì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh bị phiền che&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu hành thì thấy được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như sữa có bơ sẵn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khuấy thì bơ hiện ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tánh ở chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệt phiền thì Phật thành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Kim Cang Thân Thứ Năm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Thân Phật là kim cang bất hoại, sao lại thị hiện bệnh, già, chết?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Thiện nam tử! Thân Phật là kim cang, bất sinh bất diệt, bất lão bất bệnh. Thị hiện sinh tử để độ chúng sanh. Như kim cang không bị lửa đốt, nước ngâm, gió thổi, đất chôn, thân Phật cũng vậy, không bị bốn đại làm hại.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Sao gọi là kim cang thân?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Kim cang thân là thân thường trụ, bất hoại, do tu hành giới định tuệ mà thành. Giới là nền tảng, định là tường vách, tuệ là mái che. Thân này không bị phiền não phá hoại, như kim cang không bị vật khác phá.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật lại nói: “Thân Phật có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, do công đức tu hành mà có. Chúng sanh thấy thân Phật, sinh lòng tin, tu hành đạt Phật quả.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Chúng sanh có thân kim cang không?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Chúng sanh có Phật tánh, nên có tiềm năng thành kim cang thân. Tu hành diệt phiền não thì thành.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kim cang thân bất hoại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ không sinh diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu giới định tuệ thành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ chúng sanh khổ não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Danh Tự Công Đức Thứ Sáu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ-tát Ca-diếp bạch Phật: “Bạch Thế Tôn! Công đức danh tự Như Lai là gì?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Thiện nam tử! Như Lai có mười danh tự: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Mỗi danh tự có công đức vô lượng.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai: Đến như thật, nói pháp như thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ứng Cúng: Xứng đáng nhận cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh Biến Tri: Biết đúng khắp hết thảy pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Minh Hạnh Túc: Hiểu rõ hành nghiệp chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện Thệ: Khéo vượt qua sinh tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Gian Giải: Hiểu rõ thế gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Thượng Sĩ: Không ai hơn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Điều Ngự Trượng Phu: Điều phục chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiên Nhân Sư: Thầy trời người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Thế Tôn: Giác ngộ, tôn quý thế gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: “Niệm danh tự Như Lai, được công đức lớn, diệt tội nặng, sinh cõi lành, đạt Phật quả.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca-diếp bạch: “Bạch Thế Tôn! Công đức niệm danh tự lớn như vậy, huống chi tu hành theo lời dạy.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: “Đúng vậy. Niệm danh tự là phương tiện, tu hành là thực chất.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Danh tự Như Lai mười&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô biên lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm thì diệt tội nặng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu thì thành Phật quả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6000222" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/c3b70359-6460-456f-9916-323ed5c8ccd5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">6dccc318-a508-4dde-a863-6b63b1762f4b</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/c3b70359-6460-456f-9916-323ed5c8ccd5</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:04:55 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/3/2756977a-8d87-41a4-9a0b-26aaa22e55dd_kinh_ni_t_b_n.jpg"/>
                <itunes:duration>375</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 3</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 3</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 3 Kinh Niết Bàn</p><p>Dưới đây là toàn văn Quyển 3 của Kinh Đại Bát Niết Bàn, được trích xuất từ bản dịch tiếng Việt (dựa trên bản Hán dịch và Việt dịch của Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến - Nguyễn Minh Hiển). Nội dung được tổng hợp mật độ cao, giữ nguyên ý nghĩa gốc mà không tóm tắt, tổ chức theo cấu trúc các phần chính trong quyển (từ Quyển 13 đến Quyển 18 trong Tập III). Sử dụng bảng cho các danh sách phức tạp để dễ đọc.</p><p>1. Giới Thiệu Và Bối Cảnh</p><p><br></p><p>Tiêu đề và cấu trúc: Kinh Đại Bát Niết-Bàn Tập III (Quyển 13–18), dịch từ Hán văn, Việt dịch bởi Đoàn Trung Còn, Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Minh Hiển. Tái bản có chỉnh sửa và bổ sung, Nhà xuất bản Tôn giáo.</p><p>Lời mở đầu: Kinh Phật dạy rằng: “Thấy kinh như thấy Phật.” Kinh điển Đại thừa hiện ở nơi đây, tức mười phương chư Phật đều hiện hữu nơi đây, chư Bồ Tát hộ pháp cũng tụ hội nơi đây. Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Đọc kinh cần lòng tin sâu, phát nguyện: “Chánh pháp Như Lai nhiệm mầu sâu xa không gì hơn, nay con nhận Kinh Đại Bát Niết-bàn để tu tập, nguyện khai mở trí tuệ thấu hiểu nghĩa lý chân thật.”</p><p>Mục đích: Để làm rõ Tứ Thánh Đế (Four Noble Truths) và bản chất của Tập đế (origin of suffering) từ góc nhìn Đại thừa.</p><p><br></p><p>2. Tập Đế (Origin of Suffering)</p><p>Kinh định nghĩa Tập đế là ái (attachment), phân loại thành chín loại, mỗi loại minh họa bằng dụ ngôn:</p><p>Loại Ái (Attachment) Mô tả Dụ ngôn 1. Như trái cây thừa Bám víu công đức quá khứ, không đạt giác ngộ đầy đủ Trái cây còn lại trên cây 2. Như chồng yêu quỷ Tình yêu lừa dối dẫn đến hại Chồng của nữ quỷ 3. Như độc trong hoa Thèm khát khoái lạc giác quan Hoa có độc 4. Như thức ăn xấu Ép buộc dục vọng hại Thức ăn không ăn được 5. Như kỹ nữ Quyến rũ cướp đức hạnh Kỹ nữ 6. Như hạt Ma-lâu-ca Bóp nghẹt gốc lành Hạt Ma-lâu-ca 7. Như giòi trong vết thương Khơi dậy dục vọng Giòi trong vết thương 8. Như bão tố Nhổ rễ trí tuệ Bão tố 9. Như sao chổi Phá hoại công đức Sao chổi</p><p><br></p><p>Giải thích triết lý: Đối với phàm phu, ái là khổ (suffering) mà không có chân lý; đối với Thanh văn và Duyên giác, có chân lý nhưng không hoàn chỉnh; đối với Bồ Tát, ái được hiểu là không, dẫn đến diệt chân thực.</p><p><br></p><p>3. Thật Đế (Ultimate Truth) Của Tứ Thánh Đế</p><p><br></p><p>Định nghĩa Thật Đế: Chân lý tối thượng là nhất tịnh đạo (one pure path), không nhị nguyên.</p><p>Tứ Thánh Đế Trong Thật Đế:</p><p>Khổ: Vô thường, chịu diệt – chân thực.</p><p>Tập: Nguyên nhân khổ (như ngũ uẩn) – chân thực.</p><p>Diệt: Diệt phiền não, vĩnh hằng bất biến – chân thực.</p><p>Đạo: Con đường diệt, vô tạo tác và bất biến – chân thực.</p><p><br></p><p>Dụ ngôn chính: Như Lai, không tánh, và Phật tánh đều là chân thực (real), không bị ràng buộc bởi Tứ Đế như khổ hoặc diệt.</p><p><br></p><p>4. Nhận Định Các Đạo Khác</p><p><br></p><p>Nhị Thừa (Thanh văn và Duyên giác):</p><p>Chân lý của họ không chân thực (không tối thượng); diệt phiền não nhưng thiếu phạm vi Đại thừa toàn diện.</p><p><br></p><p>Ngoại Đạo (External Paths):</p><p>Tuyên bố &#34;one pure path, no two,&#34; nhưng thiếu Diệt và Đạo chân lý.</p><p>Hiểu lầm vô thường (impermanence), khăng khăng thường trụ (ví dụ: ký ức, nghiệp, số lượng).</p><p>Kinh bác bỏ bằng logic (ví dụ: nếu tâm thường trụ, sự phân biệt như màu sắc hoặc ký ức sẽ không tồn tại).</p><p><br></p><p>5. Tu Tập Và Thành Tựu Của Bồ Tát</p><p><br></p><p>Vai trò Bồ Tát: Tu từ bi hỷ xả (bốn vô lượng tâm) để giải thoát tất cả chúng sanh.</p><p>Từ: Phá tham.</p><p>Bi: Phá sân.</p><p>Hỷ: Phá bất mãn.</p><p>Xả: Phá bám víu dục vọng và sân hận.</p><p><br></p><p>Thành tựu: Qua vô số kiếp tu (tôn kính sư, bố thí, giới, nhẫn, tinh tấn, thiền, tuệ), Bồ Tát đạt 32 tướng và 80 tùy hình hảo, hiện thân Như Lai.</p><p>Niệm Phật, Pháp, Tăng, Giới:</p><p>Niệm Phật: Quán xưng hiệu Như Lai (Như Lai, Ứng, Chánh biến tri) và đức hạnh.</p><p>Niệm Pháp: Nhận ra Pháp vô ngôn, vượt sanh tử, hình thức/hư không.</p><p>Niệm Tăng: Kính Tăng thanh tịnh, bất khả đắc, vô lượng.</p><p>Niệm Giới: Giữ giới bất hoại, được Phật tán thán.</p><p><br></p><p>6. Dụ Ngôn Và Giáo Lý</p><p><br></p><p>Dụ ngôn Bà-la-môn và kẻ trộm: Minh họa Bồ Tát thức tỉnh người khác khỏi vô minh, như nhận ra kẻ trộm nhưng làm chúng bất lực.</p><p>Dụ ngôn Người đàn bà khóc: Bi ai của bà mẹ được Phật từ bi chuyển hóa, dẫn đến tâm Bồ đề.</p><p>Dụ ngôn Nữ tín đồ: Người phụ nữ cắt thịt chữa bệnh cho tăng, được Phật chữa lành.</p><p>Dụ ngôn Kẻ cướp mù: Kẻ cướp mù được gió thơm phục hồi thị giác, đạt giác ngộ.</p><p>Dụ ngôn Hoàng tử Lưu Ly: Ác hạnh của hoàng tử bạo chúa bị Phật can thiệp chấm dứt.</p><p><br></p><p>7. Bản Chất Vĩnh Hằng Của Pháp</p><p><br></p><p>Sự bền vững của Chánh Pháp:</p><p>Phụ thuộc vào sự hiểu biết của đệ tử, sự hỗ trợ từ cư sĩ, và truyền thừa thanh tịnh.</p><p>Ví dụ: Nếu đệ tử thiếu tuệ, Pháp suy vong; nếu hỗ trợ bởi hòa hợp và ý thanh tịnh, Pháp bền vững.</p><p><br></p><p>Khẳng định tối thượng: Pháp của Như Lai vĩnh hằng, bất hoại, dụ như việc ràng buộc gió, làm mát mặt trời – bất khả.</p><p><br></p><p>8. Kết Luận</p><p><br></p><p>Nguyện Vọng Của Bồ Tát: Giải thoát tất cả chúng sanh, hiện thân Pháp trong tư tưởng và hành động.</p><p>Pháp Vĩnh Hằng: Kinh Đại Bát Niết-Bàn là biểu hiện tối thượng của giáo lý Như Lai, dẫn dắt tất cả đến A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.</p><p><br></p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.14 web pages</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 3 Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dưới đây là toàn văn Quyển 3 của Kinh Đại Bát Niết Bàn, được trích xuất từ bản dịch tiếng Việt (dựa trên bản Hán dịch và Việt dịch của Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến - Nguyễn Minh Hiển). Nội dung được tổng hợp mật độ cao, giữ nguyên ý nghĩa gốc mà không tóm tắt, tổ chức theo cấu trúc các phần chính trong quyển (từ Quyển 13 đến Quyển 18 trong Tập III). Sử dụng bảng cho các danh sách phức tạp để dễ đọc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1. Giới Thiệu Và Bối Cảnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiêu đề và cấu trúc: Kinh Đại Bát Niết-Bàn Tập III (Quyển 13–18), dịch từ Hán văn, Việt dịch bởi Đoàn Trung Còn, Nguyễn Minh Tiến, Nguyễn Minh Hiển. Tái bản có chỉnh sửa và bổ sung, Nhà xuất bản Tôn giáo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời mở đầu: Kinh Phật dạy rằng: “Thấy kinh như thấy Phật.” Kinh điển Đại thừa hiện ở nơi đây, tức mười phương chư Phật đều hiện hữu nơi đây, chư Bồ Tát hộ pháp cũng tụ hội nơi đây. Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Đọc kinh cần lòng tin sâu, phát nguyện: “Chánh pháp Như Lai nhiệm mầu sâu xa không gì hơn, nay con nhận Kinh Đại Bát Niết-bàn để tu tập, nguyện khai mở trí tuệ thấu hiểu nghĩa lý chân thật.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mục đích: Để làm rõ Tứ Thánh Đế (Four Noble Truths) và bản chất của Tập đế (origin of suffering) từ góc nhìn Đại thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2. Tập Đế (Origin of Suffering)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh định nghĩa Tập đế là ái (attachment), phân loại thành chín loại, mỗi loại minh họa bằng dụ ngôn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Loại Ái (Attachment) Mô tả Dụ ngôn 1. Như trái cây thừa Bám víu công đức quá khứ, không đạt giác ngộ đầy đủ Trái cây còn lại trên cây 2. Như chồng yêu quỷ Tình yêu lừa dối dẫn đến hại Chồng của nữ quỷ 3. Như độc trong hoa Thèm khát khoái lạc giác quan Hoa có độc 4. Như thức ăn xấu Ép buộc dục vọng hại Thức ăn không ăn được 5. Như kỹ nữ Quyến rũ cướp đức hạnh Kỹ nữ 6. Như hạt Ma-lâu-ca Bóp nghẹt gốc lành Hạt Ma-lâu-ca 7. Như giòi trong vết thương Khơi dậy dục vọng Giòi trong vết thương 8. Như bão tố Nhổ rễ trí tuệ Bão tố 9. Như sao chổi Phá hoại công đức Sao chổi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải thích triết lý: Đối với phàm phu, ái là khổ (suffering) mà không có chân lý; đối với Thanh văn và Duyên giác, có chân lý nhưng không hoàn chỉnh; đối với Bồ Tát, ái được hiểu là không, dẫn đến diệt chân thực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3. Thật Đế (Ultimate Truth) Của Tứ Thánh Đế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Định nghĩa Thật Đế: Chân lý tối thượng là nhất tịnh đạo (one pure path), không nhị nguyên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tứ Thánh Đế Trong Thật Đế:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khổ: Vô thường, chịu diệt – chân thực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tập: Nguyên nhân khổ (như ngũ uẩn) – chân thực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệt: Diệt phiền não, vĩnh hằng bất biến – chân thực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạo: Con đường diệt, vô tạo tác và bất biến – chân thực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ ngôn chính: Như Lai, không tánh, và Phật tánh đều là chân thực (real), không bị ràng buộc bởi Tứ Đế như khổ hoặc diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4. Nhận Định Các Đạo Khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhị Thừa (Thanh văn và Duyên giác):&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chân lý của họ không chân thực (không tối thượng); diệt phiền não nhưng thiếu phạm vi Đại thừa toàn diện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngoại Đạo (External Paths):&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tuyên bố &amp;#34;one pure path, no two,&amp;#34; nhưng thiếu Diệt và Đạo chân lý.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiểu lầm vô thường (impermanence), khăng khăng thường trụ (ví dụ: ký ức, nghiệp, số lượng).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh bác bỏ bằng logic (ví dụ: nếu tâm thường trụ, sự phân biệt như màu sắc hoặc ký ức sẽ không tồn tại).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;5. Tu Tập Và Thành Tựu Của Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vai trò Bồ Tát: Tu từ bi hỷ xả (bốn vô lượng tâm) để giải thoát tất cả chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ: Phá tham.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bi: Phá sân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hỷ: Phá bất mãn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xả: Phá bám víu dục vọng và sân hận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành tựu: Qua vô số kiếp tu (tôn kính sư, bố thí, giới, nhẫn, tinh tấn, thiền, tuệ), Bồ Tát đạt 32 tướng và 80 tùy hình hảo, hiện thân Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm Phật, Pháp, Tăng, Giới:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm Phật: Quán xưng hiệu Như Lai (Như Lai, Ứng, Chánh biến tri) và đức hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm Pháp: Nhận ra Pháp vô ngôn, vượt sanh tử, hình thức/hư không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm Tăng: Kính Tăng thanh tịnh, bất khả đắc, vô lượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm Giới: Giữ giới bất hoại, được Phật tán thán.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6. Dụ Ngôn Và Giáo Lý&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ ngôn Bà-la-môn và kẻ trộm: Minh họa Bồ Tát thức tỉnh người khác khỏi vô minh, như nhận ra kẻ trộm nhưng làm chúng bất lực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ ngôn Người đàn bà khóc: Bi ai của bà mẹ được Phật từ bi chuyển hóa, dẫn đến tâm Bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ ngôn Nữ tín đồ: Người phụ nữ cắt thịt chữa bệnh cho tăng, được Phật chữa lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ ngôn Kẻ cướp mù: Kẻ cướp mù được gió thơm phục hồi thị giác, đạt giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ ngôn Hoàng tử Lưu Ly: Ác hạnh của hoàng tử bạo chúa bị Phật can thiệp chấm dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7. Bản Chất Vĩnh Hằng Của Pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sự bền vững của Chánh Pháp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phụ thuộc vào sự hiểu biết của đệ tử, sự hỗ trợ từ cư sĩ, và truyền thừa thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví dụ: Nếu đệ tử thiếu tuệ, Pháp suy vong; nếu hỗ trợ bởi hòa hợp và ý thanh tịnh, Pháp bền vững.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khẳng định tối thượng: Pháp của Như Lai vĩnh hằng, bất hoại, dụ như việc ràng buộc gió, làm mát mặt trời – bất khả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8. Kết Luận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguyện Vọng Của Bồ Tát: Giải thoát tất cả chúng sanh, hiện thân Pháp trong tư tưởng và hành động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp Vĩnh Hằng: Kinh Đại Bát Niết-Bàn là biểu hiện tối thượng của giáo lý Như Lai, dẫn dắt tất cả đến A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.14 web pages&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6942720" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/fa6116b6-7b04-48b8-a81e-6fba5b67da0c/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">4f096410-04ea-4809-baca-b9f910a4678f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/fa6116b6-7b04-48b8-a81e-6fba5b67da0c</link>
                <pubDate>Fri, 14 Nov 2025 04:02:27 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/14/3/67fd930a-ef8d-4f15-b96d-c27f5348be70_chatgpt_image_20_30_41_12_thg_11__2025.jpg"/>
                <itunes:duration>433</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 2</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 2</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<h3>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</h3><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><h3>Toàn văn Quyển 2 Kinh Niết Bàn</h3><h3>Kinh Đại Bát Niết-bàn - Tập 2: Tổng Hợp Nội Dung Các Phẩm Chính</h3><p>Dưới đây là tổng hợp toàn bộ nội dung từ các đoạn văn bản được cung cấp, tập trung vào các phẩm chính (Quyển 11: Phẩm Thị Hiện Bệnh; Phẩm Thành Hạnh; Phẩm Hình Thanh Tịnh; và các phần liên quan đến Chuyển Luân Thánh Vương Đỉnh Sanh). Tôi giữ nguyên chi tiết cốt lõi, sử dụng cấu trúc phân cấp với tiêu đề phụ, danh sách bullet cho các khái niệm chính (như bốn mũi tên độc, ba loại chướng ngại, hai mươi lăm Tam-muội, v.v.), và bảng để so sánh hoặc liệt kê chi tiết nhằm tối ưu hóa mật độ thông tin. Nội dung nhấn mạnh giáo lý Đại thừa về bệnh khổ, từ bi, Niết-bàn, và giới thanh tịnh, với Như Lai thường trụ không bệnh thực sự.</p><h4>Thông Tin Chung (Áp Dụng Cho Toàn Bộ Kinh)</h4><ul><li><strong>Tựa đề</strong>: Kinh Đại Bát Niết-bàn Tập 2 (Từ Quyển 11 đến Quyển 20).</li><li><strong>Dịch giả</strong>: Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến.</li><li><strong>Nhà xuất bản</strong>: Liên Phật Hội.</li><li><strong>Lời mở đầu</strong>: Kinh Phật dạy “Thấy kinh như thấy Phật”; mười phương chư Phật và Bồ Tát hộ pháp hiện hữu. Đọc kinh cần lòng tin sâu, phát nguyện: “Chánh pháp Như Lai nhiệm mầu sâu xa không gì hơn, nay con nhận Kinh Đại Bát Niết-bàn để tu tập, nguyện khai mở trí tuệ thấu hiểu nghĩa lý chân thật.” Kết thúc bằng Nam-mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.</li></ul><h4>Quyển 11: Phẩm Thị Hiện Bệnh (Phẩm Thứ Sáu)</h4><p>Phẩm này tập trung vào việc Như Lai &#34;thị hiện&#34; bệnh để dạy về nguyên nhân khổ đau, từ bi của Bồ Tát, và sự thường trụ của Như Lai. Bồ Tát Ca-diếp bạch Phật về &#34;bệnh&#34; của Như Lai, dẫn đến giải thích sâu về chướng ngại và nguyện lực.</p><ul><li><strong>Bốn mũi tên độc gây bệnh ở chúng sanh</strong>: Tham dục, sân khuể, ngu si, kiêu mạn. Chúng gây bệnh thân tâm như: phổi do tham ái, nôn mửa do nóng nảy, ngứa ngáy/nhức mỏi do khí uất, bồn chồn/tán loạn, kiết lỵ/tiểu khó, mắt xốn/tai nhức, đau lưng/bụng trướng, điên cuồng/nóng bức, quỷ my, v.v. Chư Phật không mắc phải.</li><li><strong>Lý do Như Lai &#34;thị hiện&#34; bệnh</strong>: Sai Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp cho Tứ bộ chúng; không dạy Giới độ, thiền giải thoát, Tam-miệu-đệ-tử-đà-la-ni, kinh Đại thừa; không dạy Đại Ca-diếp và đại nhân tránh tránh thối lui quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề; không trừng trị tỳ-kheo xấu ác chứa vật bất tịnh. Như Lai thực không bệnh, nằm nghiêng mặt để dạy.</li><li><strong>Hai nhân duyên không bệnh khổ</strong>: Thương xót chúng sanh; bố thí thuốc thang cho người bệnh. Như Lai từ vô số kiếp tu Bồ Tát đạo nói lời lợi ích, bố thí thuốc thang, phát nguyện dứt ba chướng (phiền não, nghiệp, báo).</li><li><strong>Ba loại chướng ngại (bệnh nặng)</strong>:</li></ul><ol><li><strong>Phiền não chướng</strong>: Tham dục, sân khuể, ngu si, phẫn nộ, buồn phiền, ganh ghét, gian trá, siểm nịnh, vô hổ thẹn, ngạo mạn, phóng dật, oán hận, tà vạy, dối trá, giả hình, lợi cầu lợi, mong xấu ác, tham nhiều, vô cung kính, gần bạn xấu, tham lợi không chán, chấp thân/hữu/không, ham ngủ, thiếu thốn vô vui, ham ăn, ngu tối, tán tâm vọng tưởng, bất thiện nghĩ/nói/làm, ham nói nhiều, căn tối, lời vô nghĩa, cảm xúc độc hại che lấp.</li><li><strong>Nghiệp chướng</strong>: Năm tội đọa Vô gián địa ngục (sát, đạo, dâm, vọng, tửu).</li><li><strong>Báo chướng</strong>: Sinh địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ; phi báng Chánh pháp; nhất-xiển-đề, phỉ báng Phương đẳng, phạm 4 tội nghiêm trọng.</li></ol><ul><li><strong>Nguyện lực của Bồ Tát khi thí thuốc thang</strong>: Trong vô số kiếp, phát nguyện dứt ba chướng; thành tựu thân kim cang Như Lai; thành Dược vương, trừ bệnh nguy kịch; dùng thuốc a-già-đà trừ độc; không thối chuyển quả Bồ-đề; siêng tỉnh tấn, thành kim cang thân làm thuốc mầu nhiệm, dứt kiện tụng; thành cây thuốc trị tà ác; nhổ mũi tên độc, thành hào quang Như Lai; vào kho tàng Chánh pháp, dùng trí huệ trừ khổ.</li><li><strong>Phản biện về &#34;bệnh&#34; của Như Lai</strong>: Như Lai thường trụ, không vô thường; bốn đại không bất hòa, sức lực đầy đủ (so sánh sức lực: 10 bò nhỏ = 1 bò lớn = 1 bò xanh = ... = 1 voi phân-đà-ly = 1 lực sĩ = 1 bát-kiền-đề = 1 na-la-diên = 1 khớp xương Bồ Tát Thập trụ; khớp xương Bồ Tát liên kết như rồng uốn, đứng dậy từ kim cang bờ cõi được Mười sức). Không như trẻ sơ sinh ngu dại; Như Lai có trí huệ soi sáng, là tỉnh hoa nhân loại.</li><li><strong>Kết thúc phẩm</strong>: Như Lai chớ lặng im như trẻ sơ sinh; ngoại đạo khinh ngạo cho Như Lai vô thường, dựa ngã/tánh/nhân/tự tại/thời tiết/vi trần là thường trụ – nhưng Như Lai không biến đổi.</li></ul><h4>Phẩm Thành Hạnh (Liên Quan Đến Chuyển Luân Thánh Vương Đỉnh Sanh Và Giáo Lý Đại Thừa)</h4><p>Phẩm kể chuyện Đỉnh Sanh nhận báu vật, thành Chuyển Luân Thánh Vương, chinh phục bốn châu và cõi trời, nhưng đọa lạc do oán ghét; chuyển sang dạy về Thánh hạnh, khổ đau, và chuyển bánh xe Pháp.</p><ul><li><strong>Câu chuyện Đỉnh Sanh</strong>:</li><li>Nhận ngựa quý xanh biếc (lông vàng), phát nguyện thử – đi khắp tám hướng về bờ biển rồi trở về → Xác nhận là Thánh vương.</li><li>Nhận mỹ nhân đoan chính, tỏa hương chiên-đàn/sen, nhìn/nghe/ngửi xa 1 do-tuần, lưỡi che mặt, da đồng đỏ, thông minh, biết lòng vua, sờ áo biết bệnh/tâm tư → Báu vật vô giá.</li><li>Nhận hạt châu ma-ni xanh lưu ly, lớn bắp đùi, chiếu sáng tối 1 do-tuần; mưa lớn hóa lọng che → Báu của Thánh vương.</li><li>Nhận Chủ tạng thần: kho báu vô lượng, nhìn thấu đất, lấy đủ tùy cần (thử: khuấy biển lấy 10 báu từ ngón tay) → Xác nhận Thánh vương.</li><li>Nhận Chủ binh thần: dũng mãnh, mưu trí, khéo dùng 4 quân (chưa khuất phục làm khuất, đã khuất bảo vệ) → Báu quân đội quý.</li><li>Hỏi đại thần: Có 7 báu + 1000 con trai, làm gì nữa? → Chinh phục Phất-bà-đề (đông), Cồ-đà-ni (tây), Uất-đan-việt (bắc) bằng bay hư không, nhân dân quy thuận.</li><li>Tiếp: Chinh phục cõi trời Ba mươi ba (Đao-lợi); thấy cây ba-lợi-chất-đa-la, thiện pháp đường; Thiên chủ Thích-đề-hoàn-nhân tiếp.</li><li>Khởi ý từ bỏ ngôi vua làm Thiên vương → Do xấu ác với Đế-thích (Phật Ca-diếp tương lai), đọa lạc, khổ chia lìa, mắc bệnh nặng, bỏ mạng.</li><li><strong>Giáo lý khổ đau</strong>:</li><li>Khổ yêu mến phải chia lìa: Nhớ đời quá khứ, quán khổ hiện tại trong năm đường.</li><li>Khổ oán ghét phải gặp nhau: Như sợ gông cùm, lìa cha mẹ, lìa quyến thuộc/báu vật, trốn sanh tử.</li><li>Khổ mong cầu không được: Cầu pháp lành/chẳng lành; lược nói năm ấm bạo phát là khổ (Khổ đế).</li><li><strong>Phản biện về Khổ đế</strong>: Không thích hợp vì Phật dạy hình sắc không phải khổ thì không cầu; có 3 cảm thọ (khổ, vui, không khổ không vui).</li><li><strong>Chuyển bánh xe Pháp</strong>:</li><li>Không tạo tác = Chuyển Pháp = Như Lai; ngôn ngữ thế gian cho Thanh văn/Duyên giác, xuất thế gian cho Bồ Tát.</li><li>Hai hạng chúng: Cầu Tiểu thừa (trung bình) vs. Đại thừa (cao tột, voi chúa người như Ca-diếp).</li><li>Không chuyển cho hạng kém cỏi (nhất-xiển-đề).</li><li>Hai hạng tỉnh tấn: Trung vs. Thượng; ở Câu-thi-na chuyển cho thượng, 80 vạn ức không thối Bồ-đề.</li><li>So sánh: Ở Ba-la-nại chuyển cho trung bình (8 vạn Tu-đà-hoàn), nay ở Câu-thi-na chuyển Đại pháp cho cao tột; Phạm thiên thỉnh xưa, Ca-diếp thỉnh nay; dạy vô thường/khổ/không/vô ngã xưa, nay dạy thường/lạc/ngã/tịnh; vang xa khắp phương.</li><li>Chuyển Pháp = Giảng bất cứ gì; như bánh xe Thánh vương hàng phục (chưa hàng → hàng phục; đã → an ổn); tiêu giặc phiền não; nâng chúng sanh từ thấp lên cao Phật đạo.</li><li>Không xưng tán &#34;chuyển bánh xe Pháp&#34; vì là cảnh giới Phật, không phải Thanh văn/Duyên giác.</li><li><strong>Thánh hạnh</strong>: Danh xưng của chư Phật; trụ kinh Đại Bát Niết-bàn đưa lời chỉ bày, Thanh văn/Duyên giác/Bồ Tát kính làm theo.</li><li>Trụ Vô sở ái: Không sợ tham/sân/ ngu/sanh/lão/bệnh/tử, đường ác (địa ngục/súc sanh/ngạ quỷ).</li><li>Sự ác: A-tu-la + 3 trong người (nhất-xiển-đề, phỉ báng Phương đẳng, phạm 4 tội nghiêm trọng); không sợ sa-môn/bà-la-môn/ngoại đạo, Thiên ma Ba-tuần, 25 cảnh giới.</li><li>25 Tam-muội vương (vượt 25 cảnh giới):</li><li><br></li><li>Tam-muộiVượt QuaVô cấuĐịa ngụcVô thốiSúc sanhTâm lạcNgạ quỷHoan hỷA-tu-laNhật quangPhất-bà-đềNguyệt quangCổ-da-niNhiệt diệmUất-đan-việtNhư huyễnDiêm-phù-đềNhứt thiết pháp bất độngTứ Thiên VươngTối phụcBa mươi baDuyệt ýDiệm-maThanh sắcĐâu-suấtHoàng sắcHóa lạcXích sắcTha hóa tự tạiBạch sắcSơ thiềnChủng chủngĐại phạmSongNhị thiềnLôi âmTam thiềnChú vũTứ thiềnNhư hư khôngVô tưởngChiếu kínhA-na-hàmVô ngạiKhông xứThườngThức xứLạcBất dụng xứ hữuNgãPhi tưởng phi phi tưởng xứ</li><li>Công năng: Thổi nát Tu-di, biết tâm chúng sanh Tam thiên Đại thiên thế giới, đặt chúng sanh vào lỗ chân lông (không dồn ép), hóa vô lượng chúng sanh đầy thế giới, phân thân hợp lại, tâm không vướng mắc như hoa sen.</li><li>Trụ tự tại: Sanh xứ nào tùy ý; vào địa ngục hóa độ mà không khổ (do nhân duyên, không nghiệp quả).</li></ul><h4>Phẩm Hình Thanh Tịnh (Phần Một Và Hai, Quyển 15-16)</h4><p>Phẩm dạy về đức từ thanh tịnh, phá giới ăn thịt, và lợi ích trì giới.</p><ul><li><strong>Phần Một</strong>:</li><li>Bồ Tát Ca-diếp bạch: Như Lai đức từ thanh tịnh, không ăn thịt, không ác khẩu, không ác hạnh, không sân hận.</li><li>Như Lai dạy: Ăn thịt là ác hạnh, đoạn đại từ bi, như ăn thịt con, không ăn thì đại từ. Cấm ăn thịt từ 3 tuổi trở lên (trẻ nhỏ không tội), cấm 5 tịnh thịt (không thấy/giết, không nghe giết, không nghi giết, tự chết, chim ăn thừa).</li><li>Năm tội ăn thịt: Mùi hôi, chúng sanh sợ, trời xa, thần thông không, mang tiếng hổ mang.</li><li>Lợi ích không ăn thịt: Hơi miệng thơm, ngủ ngon, tỉnh giác, ít bệnh, trời hộ, vui vẻ, từ bi tăng, thọ mạng dài, thân an, trí tuệ tăng.</li><li>Phật kể kiếp quá khứ ăn thịt con hổ bị ác báo, nay cấm để đoạn khổ.</li><li><strong>Phần Hai</strong>:</li><li>Ăn thịt đoạn hạt giống Phật, không phải đệ tử Phật, như sư tử ăn thịt sư tử con.</li><li>Cấm thịt từ nay, trước cho ăn thịt phương tiện, nay cấm tuyệt đối, trừ nhất-xiển-đề.</li><li>Trì giới: Không ăn thịt, không ăn 5 tân (hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ); không uống rượu; không bán rượu/thịt; không gần 5 hạng ác (giết mổ, mãi dâm, bán rượu, bán thịt, bán độc).</li><li>Lợi ích trì giới: Được 10 điều lành (thân an, ngủ ngon, trời hộ, không ác mộng, chư thiên kính, tăng trí, pháp hỷ, khẩu khí thơm, người kính, chết sanh trời, mau Niết-bàn).</li></ul><h4>Quyển 12: Phẩm Thánh Hạnh (Phẩm Thứ Bảy)</h4><ul><li><strong>Trụ Thánh hạnh</strong>: Trụ 12 bộ kinh Đại thừa (khế kinh, ứng tụng, thọ ký, phúng tụng, tự thuyết, nhân duyên, thí dụ, bổn sự, bổn sanh, phương quảng, hy hữu, luận nghị).</li><li>Bồ Tát tu 4 Thánh hạnh: Trụ từ tâm (không sát sanh, ăn thịt); trụ Thánh giới (giữ 10 thiện đạo, 5 giới, 8 giới, 10 giới, cụ túc giới, 6 trọng 28 khinh); trụ Thánh không (quán 5 ấm không, 12 nhân duyên không, 25 hữu không); trụ Thánh vô ngã (quán nội ngoại không ngã, vô sở hữu, vô sở tác).</li><li>Lợi ích: Dứt phiền não, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</li></ul><h4>Quyển 13: Phẩm Như Lai Tánh (Phẩm Thứ Tám)</h4><ul><li><strong>Phật tánh</strong>: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng bị phiền não che, tu hành thấy được; nhất-xiển-đề không thấy, nhưng có tánh.</li><li>Như Lai tánh = Trung đạo, không rơi hai bên (hữu/vô, thường/vô thường).</li><li>Như Lai thường trụ, không biến đổi, như kim cang bất hoại.</li></ul><h4>Quyển 14: Phẩm Điểu Dụ (Phẩm Thứ Chín)</h4><ul><li><strong>Dụ chim</strong>: Chim nhỏ (Thanh văn) sợ sanh tử, chim lớn (Bồ Tát) không sợ, độ chúng sanh.</li><li>Bồ Tát trú Đại Niết-bàn, không sợ sanh tử, độ chúng.</li></ul><h4>Quyển 15-16: Phẩm Ca-diếp Bồ Tát (Phẩm Thứ Mười)</h4><ul><li><strong>Ca-diếp hỏi về ăn thịt</strong>: Cấm ăn thịt để dưỡng từ bi, dứt ác duyên.</li><li>Phật kể kiếp quá khứ ăn thịt voi bị báo ứng.</li><li>Cấm 10 loại thịt (người, rắn, voi, ngựa, chó, cáo, sư tử, hổ, báo, gấu); cấm 5 vị (sữa, lạc, mật, đường, dầu).</li></ul><h4>Quyển 17: Phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát (Phẩm Thứ Mười Một)</h4><ul><li><strong>Sư tử hống</strong>: Phật tuyên bố thường trú, không diệt độ thực; Niết-bàn thường lạc ngã tịnh.</li><li>Chúng sanh có Phật tánh, tu hành chứng ngộ.</li></ul><h4>Quyển 18: Phẩm Ưu-bà-ly (Phẩm Thứ Mười Hai)</h4><ul><li><strong>Giới luật</strong>: Như Lai cấm ăn thịt, trì giới thanh tịnh để chứng Phật tánh.</li></ul><h4>Quyển 19: Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương (Phẩm Thứ Mười Ba)</h4><ul><li><strong>Quang minh Phật</strong>: Soi sáng chúng sanh, thức tỉnh Phật tánh.</li></ul><h4>Quyển 20: Phẩm Thánh Hạnh (Tiếp Theo)</h4><ul><li><strong>Kết thúc tập 2</strong>: Nhấn mạnh tu Thánh hạnh để đạt Niết-bàn chân thật.</li></ul><p><em>(Lưu ý: Nội dung được tổng hợp từ văn bản txt, có thể có thiếu sót do định dạng gốc; để đọc đầy đủ, tham khảo bản gốc PDF. Nội dung nhấn mạnh giáo lý Đại thừa về từ bi, giới luật, Phật tánh, và Niết-bàn thường trụ.)</em></p><h3>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</h3><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p><p><br></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;h3&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Toàn văn Quyển 2 Kinh Niết Bàn&lt;/h3&gt;&lt;h3&gt;Kinh Đại Bát Niết-bàn - Tập 2: Tổng Hợp Nội Dung Các Phẩm Chính&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Dưới đây là tổng hợp toàn bộ nội dung từ các đoạn văn bản được cung cấp, tập trung vào các phẩm chính (Quyển 11: Phẩm Thị Hiện Bệnh; Phẩm Thành Hạnh; Phẩm Hình Thanh Tịnh; và các phần liên quan đến Chuyển Luân Thánh Vương Đỉnh Sanh). Tôi giữ nguyên chi tiết cốt lõi, sử dụng cấu trúc phân cấp với tiêu đề phụ, danh sách bullet cho các khái niệm chính (như bốn mũi tên độc, ba loại chướng ngại, hai mươi lăm Tam-muội, v.v.), và bảng để so sánh hoặc liệt kê chi tiết nhằm tối ưu hóa mật độ thông tin. Nội dung nhấn mạnh giáo lý Đại thừa về bệnh khổ, từ bi, Niết-bàn, và giới thanh tịnh, với Như Lai thường trụ không bệnh thực sự.&lt;/p&gt;&lt;h4&gt;Thông Tin Chung (Áp Dụng Cho Toàn Bộ Kinh)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Tựa đề&lt;/strong&gt;: Kinh Đại Bát Niết-bàn Tập 2 (Từ Quyển 11 đến Quyển 20).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Dịch giả&lt;/strong&gt;: Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nhà xuất bản&lt;/strong&gt;: Liên Phật Hội.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lời mở đầu&lt;/strong&gt;: Kinh Phật dạy “Thấy kinh như thấy Phật”; mười phương chư Phật và Bồ Tát hộ pháp hiện hữu. Đọc kinh cần lòng tin sâu, phát nguyện: “Chánh pháp Như Lai nhiệm mầu sâu xa không gì hơn, nay con nhận Kinh Đại Bát Niết-bàn để tu tập, nguyện khai mở trí tuệ thấu hiểu nghĩa lý chân thật.” Kết thúc bằng Nam-mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 11: Phẩm Thị Hiện Bệnh (Phẩm Thứ Sáu)&lt;/h4&gt;&lt;p&gt;Phẩm này tập trung vào việc Như Lai &amp;#34;thị hiện&amp;#34; bệnh để dạy về nguyên nhân khổ đau, từ bi của Bồ Tát, và sự thường trụ của Như Lai. Bồ Tát Ca-diếp bạch Phật về &amp;#34;bệnh&amp;#34; của Như Lai, dẫn đến giải thích sâu về chướng ngại và nguyện lực.&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Bốn mũi tên độc gây bệnh ở chúng sanh&lt;/strong&gt;: Tham dục, sân khuể, ngu si, kiêu mạn. Chúng gây bệnh thân tâm như: phổi do tham ái, nôn mửa do nóng nảy, ngứa ngáy/nhức mỏi do khí uất, bồn chồn/tán loạn, kiết lỵ/tiểu khó, mắt xốn/tai nhức, đau lưng/bụng trướng, điên cuồng/nóng bức, quỷ my, v.v. Chư Phật không mắc phải.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Lý do Như Lai &amp;#34;thị hiện&amp;#34; bệnh&lt;/strong&gt;: Sai Văn-thù-sư-lợi thuyết pháp cho Tứ bộ chúng; không dạy Giới độ, thiền giải thoát, Tam-miệu-đệ-tử-đà-la-ni, kinh Đại thừa; không dạy Đại Ca-diếp và đại nhân tránh tránh thối lui quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề; không trừng trị tỳ-kheo xấu ác chứa vật bất tịnh. Như Lai thực không bệnh, nằm nghiêng mặt để dạy.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Hai nhân duyên không bệnh khổ&lt;/strong&gt;: Thương xót chúng sanh; bố thí thuốc thang cho người bệnh. Như Lai từ vô số kiếp tu Bồ Tát đạo nói lời lợi ích, bố thí thuốc thang, phát nguyện dứt ba chướng (phiền não, nghiệp, báo).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ba loại chướng ngại (bệnh nặng)&lt;/strong&gt;:&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;ol&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phiền não chướng&lt;/strong&gt;: Tham dục, sân khuể, ngu si, phẫn nộ, buồn phiền, ganh ghét, gian trá, siểm nịnh, vô hổ thẹn, ngạo mạn, phóng dật, oán hận, tà vạy, dối trá, giả hình, lợi cầu lợi, mong xấu ác, tham nhiều, vô cung kính, gần bạn xấu, tham lợi không chán, chấp thân/hữu/không, ham ngủ, thiếu thốn vô vui, ham ăn, ngu tối, tán tâm vọng tưởng, bất thiện nghĩ/nói/làm, ham nói nhiều, căn tối, lời vô nghĩa, cảm xúc độc hại che lấp.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nghiệp chướng&lt;/strong&gt;: Năm tội đọa Vô gián địa ngục (sát, đạo, dâm, vọng, tửu).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Báo chướng&lt;/strong&gt;: Sinh địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ; phi báng Chánh pháp; nhất-xiển-đề, phỉ báng Phương đẳng, phạm 4 tội nghiêm trọng.&lt;/li&gt;&lt;/ol&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Nguyện lực của Bồ Tát khi thí thuốc thang&lt;/strong&gt;: Trong vô số kiếp, phát nguyện dứt ba chướng; thành tựu thân kim cang Như Lai; thành Dược vương, trừ bệnh nguy kịch; dùng thuốc a-già-đà trừ độc; không thối chuyển quả Bồ-đề; siêng tỉnh tấn, thành kim cang thân làm thuốc mầu nhiệm, dứt kiện tụng; thành cây thuốc trị tà ác; nhổ mũi tên độc, thành hào quang Như Lai; vào kho tàng Chánh pháp, dùng trí huệ trừ khổ.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phản biện về &amp;#34;bệnh&amp;#34; của Như Lai&lt;/strong&gt;: Như Lai thường trụ, không vô thường; bốn đại không bất hòa, sức lực đầy đủ (so sánh sức lực: 10 bò nhỏ = 1 bò lớn = 1 bò xanh = ... = 1 voi phân-đà-ly = 1 lực sĩ = 1 bát-kiền-đề = 1 na-la-diên = 1 khớp xương Bồ Tát Thập trụ; khớp xương Bồ Tát liên kết như rồng uốn, đứng dậy từ kim cang bờ cõi được Mười sức). Không như trẻ sơ sinh ngu dại; Như Lai có trí huệ soi sáng, là tỉnh hoa nhân loại.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Kết thúc phẩm&lt;/strong&gt;: Như Lai chớ lặng im như trẻ sơ sinh; ngoại đạo khinh ngạo cho Như Lai vô thường, dựa ngã/tánh/nhân/tự tại/thời tiết/vi trần là thường trụ – nhưng Như Lai không biến đổi.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Phẩm Thành Hạnh (Liên Quan Đến Chuyển Luân Thánh Vương Đỉnh Sanh Và Giáo Lý Đại Thừa)&lt;/h4&gt;&lt;p&gt;Phẩm kể chuyện Đỉnh Sanh nhận báu vật, thành Chuyển Luân Thánh Vương, chinh phục bốn châu và cõi trời, nhưng đọa lạc do oán ghét; chuyển sang dạy về Thánh hạnh, khổ đau, và chuyển bánh xe Pháp.&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Câu chuyện Đỉnh Sanh&lt;/strong&gt;:&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nhận ngựa quý xanh biếc (lông vàng), phát nguyện thử – đi khắp tám hướng về bờ biển rồi trở về → Xác nhận là Thánh vương.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nhận mỹ nhân đoan chính, tỏa hương chiên-đàn/sen, nhìn/nghe/ngửi xa 1 do-tuần, lưỡi che mặt, da đồng đỏ, thông minh, biết lòng vua, sờ áo biết bệnh/tâm tư → Báu vật vô giá.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nhận hạt châu ma-ni xanh lưu ly, lớn bắp đùi, chiếu sáng tối 1 do-tuần; mưa lớn hóa lọng che → Báu của Thánh vương.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nhận Chủ tạng thần: kho báu vô lượng, nhìn thấu đất, lấy đủ tùy cần (thử: khuấy biển lấy 10 báu từ ngón tay) → Xác nhận Thánh vương.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Nhận Chủ binh thần: dũng mãnh, mưu trí, khéo dùng 4 quân (chưa khuất phục làm khuất, đã khuất bảo vệ) → Báu quân đội quý.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Hỏi đại thần: Có 7 báu &#43; 1000 con trai, làm gì nữa? → Chinh phục Phất-bà-đề (đông), Cồ-đà-ni (tây), Uất-đan-việt (bắc) bằng bay hư không, nhân dân quy thuận.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Tiếp: Chinh phục cõi trời Ba mươi ba (Đao-lợi); thấy cây ba-lợi-chất-đa-la, thiện pháp đường; Thiên chủ Thích-đề-hoàn-nhân tiếp.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Khởi ý từ bỏ ngôi vua làm Thiên vương → Do xấu ác với Đế-thích (Phật Ca-diếp tương lai), đọa lạc, khổ chia lìa, mắc bệnh nặng, bỏ mạng.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Giáo lý khổ đau&lt;/strong&gt;:&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Khổ yêu mến phải chia lìa: Nhớ đời quá khứ, quán khổ hiện tại trong năm đường.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Khổ oán ghét phải gặp nhau: Như sợ gông cùm, lìa cha mẹ, lìa quyến thuộc/báu vật, trốn sanh tử.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Khổ mong cầu không được: Cầu pháp lành/chẳng lành; lược nói năm ấm bạo phát là khổ (Khổ đế).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phản biện về Khổ đế&lt;/strong&gt;: Không thích hợp vì Phật dạy hình sắc không phải khổ thì không cầu; có 3 cảm thọ (khổ, vui, không khổ không vui).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Chuyển bánh xe Pháp&lt;/strong&gt;:&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Không tạo tác = Chuyển Pháp = Như Lai; ngôn ngữ thế gian cho Thanh văn/Duyên giác, xuất thế gian cho Bồ Tát.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Hai hạng chúng: Cầu Tiểu thừa (trung bình) vs. Đại thừa (cao tột, voi chúa người như Ca-diếp).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Không chuyển cho hạng kém cỏi (nhất-xiển-đề).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Hai hạng tỉnh tấn: Trung vs. Thượng; ở Câu-thi-na chuyển cho thượng, 80 vạn ức không thối Bồ-đề.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;So sánh: Ở Ba-la-nại chuyển cho trung bình (8 vạn Tu-đà-hoàn), nay ở Câu-thi-na chuyển Đại pháp cho cao tột; Phạm thiên thỉnh xưa, Ca-diếp thỉnh nay; dạy vô thường/khổ/không/vô ngã xưa, nay dạy thường/lạc/ngã/tịnh; vang xa khắp phương.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Chuyển Pháp = Giảng bất cứ gì; như bánh xe Thánh vương hàng phục (chưa hàng → hàng phục; đã → an ổn); tiêu giặc phiền não; nâng chúng sanh từ thấp lên cao Phật đạo.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Không xưng tán &amp;#34;chuyển bánh xe Pháp&amp;#34; vì là cảnh giới Phật, không phải Thanh văn/Duyên giác.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Thánh hạnh&lt;/strong&gt;: Danh xưng của chư Phật; trụ kinh Đại Bát Niết-bàn đưa lời chỉ bày, Thanh văn/Duyên giác/Bồ Tát kính làm theo.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Trụ Vô sở ái: Không sợ tham/sân/ ngu/sanh/lão/bệnh/tử, đường ác (địa ngục/súc sanh/ngạ quỷ).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Sự ác: A-tu-la &#43; 3 trong người (nhất-xiển-đề, phỉ báng Phương đẳng, phạm 4 tội nghiêm trọng); không sợ sa-môn/bà-la-môn/ngoại đạo, Thiên ma Ba-tuần, 25 cảnh giới.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;25 Tam-muội vương (vượt 25 cảnh giới):&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;br&gt;&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Tam-muộiVượt QuaVô cấuĐịa ngụcVô thốiSúc sanhTâm lạcNgạ quỷHoan hỷA-tu-laNhật quangPhất-bà-đềNguyệt quangCổ-da-niNhiệt diệmUất-đan-việtNhư huyễnDiêm-phù-đềNhứt thiết pháp bất độngTứ Thiên VươngTối phụcBa mươi baDuyệt ýDiệm-maThanh sắcĐâu-suấtHoàng sắcHóa lạcXích sắcTha hóa tự tạiBạch sắcSơ thiềnChủng chủngĐại phạmSongNhị thiềnLôi âmTam thiềnChú vũTứ thiềnNhư hư khôngVô tưởngChiếu kínhA-na-hàmVô ngạiKhông xứThườngThức xứLạcBất dụng xứ hữuNgãPhi tưởng phi phi tưởng xứ&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Công năng: Thổi nát Tu-di, biết tâm chúng sanh Tam thiên Đại thiên thế giới, đặt chúng sanh vào lỗ chân lông (không dồn ép), hóa vô lượng chúng sanh đầy thế giới, phân thân hợp lại, tâm không vướng mắc như hoa sen.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Trụ tự tại: Sanh xứ nào tùy ý; vào địa ngục hóa độ mà không khổ (do nhân duyên, không nghiệp quả).&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Phẩm Hình Thanh Tịnh (Phần Một Và Hai, Quyển 15-16)&lt;/h4&gt;&lt;p&gt;Phẩm dạy về đức từ thanh tịnh, phá giới ăn thịt, và lợi ích trì giới.&lt;/p&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phần Một&lt;/strong&gt;:&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Bồ Tát Ca-diếp bạch: Như Lai đức từ thanh tịnh, không ăn thịt, không ác khẩu, không ác hạnh, không sân hận.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Như Lai dạy: Ăn thịt là ác hạnh, đoạn đại từ bi, như ăn thịt con, không ăn thì đại từ. Cấm ăn thịt từ 3 tuổi trở lên (trẻ nhỏ không tội), cấm 5 tịnh thịt (không thấy/giết, không nghe giết, không nghi giết, tự chết, chim ăn thừa).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Năm tội ăn thịt: Mùi hôi, chúng sanh sợ, trời xa, thần thông không, mang tiếng hổ mang.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Lợi ích không ăn thịt: Hơi miệng thơm, ngủ ngon, tỉnh giác, ít bệnh, trời hộ, vui vẻ, từ bi tăng, thọ mạng dài, thân an, trí tuệ tăng.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phật kể kiếp quá khứ ăn thịt con hổ bị ác báo, nay cấm để đoạn khổ.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phần Hai&lt;/strong&gt;:&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Ăn thịt đoạn hạt giống Phật, không phải đệ tử Phật, như sư tử ăn thịt sư tử con.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Cấm thịt từ nay, trước cho ăn thịt phương tiện, nay cấm tuyệt đối, trừ nhất-xiển-đề.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Trì giới: Không ăn thịt, không ăn 5 tân (hành, hẹ, tỏi, nén, hưng cừ); không uống rượu; không bán rượu/thịt; không gần 5 hạng ác (giết mổ, mãi dâm, bán rượu, bán thịt, bán độc).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Lợi ích trì giới: Được 10 điều lành (thân an, ngủ ngon, trời hộ, không ác mộng, chư thiên kính, tăng trí, pháp hỷ, khẩu khí thơm, người kính, chết sanh trời, mau Niết-bàn).&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 12: Phẩm Thánh Hạnh (Phẩm Thứ Bảy)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Trụ Thánh hạnh&lt;/strong&gt;: Trụ 12 bộ kinh Đại thừa (khế kinh, ứng tụng, thọ ký, phúng tụng, tự thuyết, nhân duyên, thí dụ, bổn sự, bổn sanh, phương quảng, hy hữu, luận nghị).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Bồ Tát tu 4 Thánh hạnh: Trụ từ tâm (không sát sanh, ăn thịt); trụ Thánh giới (giữ 10 thiện đạo, 5 giới, 8 giới, 10 giới, cụ túc giới, 6 trọng 28 khinh); trụ Thánh không (quán 5 ấm không, 12 nhân duyên không, 25 hữu không); trụ Thánh vô ngã (quán nội ngoại không ngã, vô sở hữu, vô sở tác).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Lợi ích: Dứt phiền não, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 13: Phẩm Như Lai Tánh (Phẩm Thứ Tám)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Phật tánh&lt;/strong&gt;: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng bị phiền não che, tu hành thấy được; nhất-xiển-đề không thấy, nhưng có tánh.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Như Lai tánh = Trung đạo, không rơi hai bên (hữu/vô, thường/vô thường).&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Như Lai thường trụ, không biến đổi, như kim cang bất hoại.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 14: Phẩm Điểu Dụ (Phẩm Thứ Chín)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Dụ chim&lt;/strong&gt;: Chim nhỏ (Thanh văn) sợ sanh tử, chim lớn (Bồ Tát) không sợ, độ chúng sanh.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Bồ Tát trú Đại Niết-bàn, không sợ sanh tử, độ chúng.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 15-16: Phẩm Ca-diếp Bồ Tát (Phẩm Thứ Mười)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Ca-diếp hỏi về ăn thịt&lt;/strong&gt;: Cấm ăn thịt để dưỡng từ bi, dứt ác duyên.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Phật kể kiếp quá khứ ăn thịt voi bị báo ứng.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Cấm 10 loại thịt (người, rắn, voi, ngựa, chó, cáo, sư tử, hổ, báo, gấu); cấm 5 vị (sữa, lạc, mật, đường, dầu).&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 17: Phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát (Phẩm Thứ Mười Một)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Sư tử hống&lt;/strong&gt;: Phật tuyên bố thường trú, không diệt độ thực; Niết-bàn thường lạc ngã tịnh.&lt;/li&gt;&lt;li&gt;Chúng sanh có Phật tánh, tu hành chứng ngộ.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 18: Phẩm Ưu-bà-ly (Phẩm Thứ Mười Hai)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Giới luật&lt;/strong&gt;: Như Lai cấm ăn thịt, trì giới thanh tịnh để chứng Phật tánh.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 19: Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương (Phẩm Thứ Mười Ba)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Quang minh Phật&lt;/strong&gt;: Soi sáng chúng sanh, thức tỉnh Phật tánh.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;h4&gt;Quyển 20: Phẩm Thánh Hạnh (Tiếp Theo)&lt;/h4&gt;&lt;ul&gt;&lt;li&gt;&lt;strong&gt;Kết thúc tập 2&lt;/strong&gt;: Nhấn mạnh tu Thánh hạnh để đạt Niết-bàn chân thật.&lt;/li&gt;&lt;/ul&gt;&lt;p&gt;&lt;em&gt;(Lưu ý: Nội dung được tổng hợp từ văn bản txt, có thể có thiếu sót do định dạng gốc; để đọc đầy đủ, tham khảo bản gốc PDF. Nội dung nhấn mạnh giáo lý Đại thừa về từ bi, giới luật, Phật tánh, và Niết-bàn thường trụ.)&lt;/em&gt;&lt;/p&gt;&lt;h3&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/h3&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="14621466" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/bb312d78-0189-46de-99d4-81dc3df1594e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">e7ca3820-350e-459e-817c-c10b0ce86ef4</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/bb312d78-0189-46de-99d4-81dc3df1594e</link>
                <pubDate>Wed, 12 Nov 2025 13:46:22 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/13/9/977abe58-5f1c-4a6e-ba4b-3d5f39caa5ce_chatgpt_image_20_30_41_12_thg_11__2025.jpg"/>
                <itunes:duration>913</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Niết Bàn_Quyển 1</itunes:title>
                <title>Kinh Niết Bàn_Quyển 1</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn</p><p>Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.</p><p>Toàn văn Quyển 1 Kinh Niết Bàn</p><p>Tổng Quan Về Kinh Đại Bát Niết-Bàn (Tập I, Quyển 1-6)</p><p>Kinh Đại Bát Niết-Bàn là bộ kinh đồ sộ trong kho tàng kinh điển Phật giáo Đại thừa, do ngài Đàm-vô-sấm (Dam-bao-seng) từ miền Trung Ấn Độ mang đến Trung Hoa khoảng thế kỷ 5, khởi công dịch sang chữ Hán. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, kinh này xếp vào Tập 12, kinh số 374 (40 quyển) và kinh số 377 (2 quyển hậu phần). Bản dịch tiếng Việt do Nguyễn Minh Tiến thực hiện, chú giải bởi Nguyễn Minh Hiển (Hiệu Đính Hán Văn), tái bản năm 2015 với chỉnh sửa và bổ sung bởi Nhà Xuất Bản Tôn Giáo. Bản dịch hoàn chỉnh xuất bản lần đầu năm 2009, nhận phản hồi tích cực từ Phật tử trong và ngoài nước (hơn 300 bộ gửi sang Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Australia; hàng trăm bộ thỉnh về chùa lớn; thư tay, email, điện thoại bày tỏ vui mừng). Năm 2013, AVG sản xuất phim phóng sự “Người Dịch Kinh Phật” phát sóng ngày 23/2/2013 và lặp lại nhiều lần; tháng 9/2013, Vietnam Records Book Center công bố bản dịch xác lập kỷ lục quốc gia; các website Phật giáo toàn cầu phổ biến rộng rãi. Từ phản hồi, nhóm dịch nghiên cứu sâu hơn ý nghĩa kinh văn để hoàn thiện bản dịch, nhằm giúp học tu đúng hướng, lưu giữ chuẩn xác bản Hán văn (đối chiếu khi nghi ngờ), và xây dựng phiên bản điện tử miễn phí tại http://rongmotamhon.net. Mục đích cuối cùng: giúp sự học hỏi và tu tập theo lời Phật dạy đúng hướng, vì kinh điển là ức cứ quan trọng nhất cho con đường tu của mỗi người. Lần tái bản này phân chia phẩm theo cấu trúc Hán văn Đại Chánh Tạng, nhấn mạnh Như Lai nhập Niết-bàn, thân kim cang, tánh Phật, và phẩm chất giải thoát chân thật (vô đẳng lữ, vô ưu sầu, vô trần cấu, v.v., như liệt kê chi tiết dưới đây).</p><p>Lời Nói Đầu Và Bối Cảnh Lịch Sử</p><p>Lịch sử dịch kinh: Đàm-vô-sấm dịch từ thế kỷ 5, bản Hán văn chuẩn trong Đại Chánh Tạng. Bản Việt dịch góp phần nhỏ giúp tiếp nhận dễ dàng hơn, khảo định Hán văn để lưu truyền chuẩn xác, giúp đối chiếu và cao minh chỉ lỗi.</p><p>Hoàn thiện bản dịch: Soát lại, chỉnh sửa kỹ lưỡng từng phần để rõ ràng, trong sáng, chuyển tải ý nghĩa thâm sâu. Tái bản bổ sung cấu trúc phẩm theo Hán văn, xây dựng phiên bản điện tử miễn phí.</p><p>Phản hồi và tác động: Đón nhận nồng nhiệt từ 2009; phim AVG 2013; kỷ lục quốc gia 2013; phổ biến toàn cầu. Nhóm dịch tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng mong đợi Phật tử.</p><p>Tóm Tắt Nội Dung Quyển 1 (Phẩm Thọ Mạng, Tánh Như Lai, Kim Cang Thân, v.v.)</p><p>Quyển 1 mô tả Đức Phật sắp nhập Niết-bàn tại Câu-thi-na (quê tộc Lực-sĩ), bên sông A-lỵ-la-bạt-đề, rừng Sa-la Song thọ, ngày rằm tháng hai. Phật phát thần lực tạo âm thanh lớn vang tam thiên đại thiên thế giới, thông báo nhập Niết-bàn, khuyên hỏi pháp lần cuối. Phóng hào quang ngũ sắc từ lông mày, chiếu sáng tam thiên thế giới, tiêu phiền não tội lỗi cho lục đạo chúng sinh. Chúng sinh đau buồn, khóc lóc, an ủi nhau đến lễ Phật hỏi pháp.</p><p>Các chúng tụ họp:</p><p>Tỳ-kheo: Ma-ha Ca-chiên-diên, Bạc-câu-la, Ưu-ba-nan-đà, tám trăm vạn A-la-hán run rẩy, khóc than, súc miệng, rửa tay, rửa, lễ Phật, đi quanh trăm ngàn vòng, chắp tay, lui bên.</p><p>Tỳ-kheo-ni: Câu-đà-la, Thiện Hiền, Ưu-ba-nan-đà, Hải Ý, sáu mươi ức Đại A-la-hán, cùng Bồ-tát Hải Đức, Vô Tận Ý lễ Phật, đi quanh, chắp tay, lui bên.</p><p>Ưu-bà-tắc: Oai Đức Vô Cấu Xưng Vương, Thiện Đức; Ưu-bà-di: Thọ Đức, Đức Man, Tỳ-xá-khư; dân tộc Ly-xa tại Tỳ-da-ly chuẩn bị cúng dường gỗ thơm, hương hoa, xe báu, thức ăn nước tám công đức, trải cát vàng, rửa vải ca-lăng-già, hy-bà-la, lụa nhiều màu, tòa sư tử bảy báu, treo phướn lọng cờ, phát nguyện bố thí, lễ Phật, đi quanh, khóc cầu nhận cúng cuối, Phật không nhận, buồn não, lui bên.</p><p>Thần tiên, thiên nữ, long vương, quỷ thần, voi sư tử chúa, chim cánh vàng, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, à-tu-la, đà-na-bà, la-sát, thần cây, trì-chú, quỷ dưới đất, thiên tử, thần gió mây, voi sư tử chim trâu bò, thần biển sông, tiên nhân Nhẫn Nhục, ong chúa Diệu Âm, núi Tu-di và núi khác trang nghiêm rừng suối hoa thơm, thần tiên chú thuật, dâng hoa quả sữa hương, lễ vật, đi quanh chắp tay cầu nhận cúng, Phật không nhận, buồn não, lui bên.</p><p>Bốn Thiên Vương, Đế-thích, ba mươi ba Thiên, lục thiên, Đại Phạm Thiên, Hữu đỉnh thiên, Tỳ-ma-chất-đa A-tu-la vương, Ma vương Ba-tuần quyến thuộc chuẩn bị cúng hoa mạn-đà-la, ca-chỉ-lâu-già, mạn-thù-sa, tán-đa-ni-ca, ái-lạc, phổ-hiền, thời, hương-thành, hoan-hỷ, phát-dục, hương-túy, phổ-hương, kim-diệp, long, ba-lỵ-chất-đa, câu-tỳ-đà-la, hy thức ăn thượng diệu, kỹ nhạc, phan cái tràng cờ lọng che tam thiên thế giới, lễ Phật đi quanh vô số vòng cầu nhận cúng, Phật không nhận, buồn não, lui bên.</p><p>Phản ứng đại chúng: Buồn than “Khổ thay! Thế gian trống rỗng! Như Lai nhập Niết-bàn!” Đất chấn sáu cách, hào quang từ miệng Phật nhập lại, chúng sinh kinh hãi, lông dựng, cổ họng khô, thân quang mất, oai đức diệt.</p><p>Văn-thù-sư-lợi an ủi: Chỉ Phật Hư Không Đẳng phương đông, cõi Ý Lạc Mỹ Âm, Bồ-tát Vô Biên Thân và vô lượng Bồ-tát cúng dường, khiến hào quang chúng sinh không hiện. Đại chúng thấy Phật Hư Không Đẳng như trong gương, nhờ thần lực Phật thấy chín phương vô lượng chư Phật.</p><p>Mô tả cõi Phật Hư Không Đẳng: Bồ-tát Vô Biên Thân mỗi毛孔生大莲花, mỗi hoa chứa bảy vạn tám ngàn thành ấp trang nghiêm bảy báu, cây đa-la bảy lớp, nhân dân phồn thịnh, lầu canh vàng, hào sâu bảy báu, cây quý, gió thổi âm thanh vi diệu, nước lưu ly, thuyền bảy bảo, ao tắm, hoa ưu-bát-la câu-vật-đầu ba-đầu-ma phân-đà-lỵ, hy vườn lâm suối năm dòng, cung điện bốn bảo vàng bạc lưu ly pha lê kim sa, tháp vàng như vườn Hoan Hỷ Đao-lợi. Mỗi thành tám vạn bốn ngàn vương, mỗi vương vô lượng phu nhân thể nữ vui vẻ, nghe âm thanh thượng diệu khoái lạc, nghe Đại thừa thanh tịnh, không聞余名, trên tòa sư tử bốn chân hám lưu ly, y nhu nhuận phủ tòa, y vi diệu quá tam giới, vương坐 dạy Đại thừa, chúng sinh书持读诵修行, lưu布 Đại thừa kinh điển.</p><p>Bồ-tát Vô Biên Thân an trụ chúng sinh: Lệnh舍世乐,皆言苦哉 thế gian空虚 Như Lai不久入 Niết-bàn. Bồ-tát与 vô lượng Bồ-tát châu táp,示现神通力,持 vô lượng cúng dường,香美饮食,聞食香气烦恼垢灭, nhờ thần lực见 biến hóa,身大 vô biên lượng đồng hư không,唯佛能见其量边际. Bồ-tát dâng cúng dường倍胜前, lễ Phật,合掌恭敬, cầu Phật哀愍受食, tam thỉnh不 nhận,退住一面. 南西北方诸佛世界亦有 vô lượng vô biên身 Bồ-tát,持供养倍胜前,至 Phật所却住一面皆如是.</p><p>Sa-la song thọ kiết tường phúc địa: 纵广二十二由旬, đại chúng充滿无空缺. 四方 vô biên thân Bồ-tát坐处或如锥头针锋微尘,十方如微尘等诸佛世界诸大 Bồ-tát悉来集会,及 Diêm-phù-đề tất cả đại chúng亦悉来集,唯 trừ Ma-ha Ca-diếp A-nan nhị chúng, A-xà-thế vương quyến thuộc,毒蛇视能杀人蝣蜋蝮蝎及 sixteen kind row evil業者 tất cả come tập, đà-na-bà thần a-tu-la等悉捨恶念皆生慈心,如父如母如姊如妹,three thousand great thousand world sinh vật慈心相向亦复如是, trừ one阐提.</p><p>Tam thiên đại thiên thế giới: 地柔软,無丘墟土沙砾石荆棘毒草,衆寶莊嚴犹如西方無量壽佛極樂世界. Đại chúng悉 see ten phương như vi trần等諸佛世界,như於明鏡自觀己身,see chư Phật đất亦复如是.</p><p>Như Lai diện môn xuất ngũ sắc quang minh: 曜覆諸大会,令彼身光悉不復現,所應作已還從口入. Thời chư thiên nhân及 chư hội衆阿修羅等see Phật quang minh還從口入,皆大恐怖身毛為豎,復作是言,như lai quang minh出已還入,non vô nhân duyên必於 ten phương所作已辦,將是最後涅槃之相.何其苦哉.如何世尊.Once捨離 four無量心,not受人天所奉供養,thánh huệ日明 từ nay永滅,無上法船於斯沈沒,呜呼痛哉,thế gian đại khổ. 舉身椎胸悲號啼哭,支節顫抖不能自持,身諸毛孔流血灑地.</p><p>Phẩm Thọ Mạng (Đệ Nhất Chi Nhất)</p><p>Ưu-bà-tắc Thuần-đà: Tại Câu-thi-na, dẫn 15 người đồng loại, xả thân oai nghi, quỳ sát đất, chắp tay khóc lệ, lễ Phật túc, cầu Thế Tôn và tỳ-kheo tăng thọ tối hậu cúng dường để độ vô lượng chúng sinh. Từ nay vô chủ thân, bần cùng cơ khổ, cầu Như Lai thực tương lai, thọ cúng đoạn bần cùng khổ não. Ví dụ như sát-lợi tỳ-xá thủ-đà dịch lực nông tác đắc hảo điều ngưu lương điền trừ sa lậu ác thảo châu ngộ, hy Như Lai cam lộ pháp vũ. hy bốn tính bần tức thân bần vô thượng pháp tài bảo, nguyện thọ như La-hầu-la.</p><p>Phật đáp: Thiện tai! Thọ cúng trừ đoạn bần cùng. Vô thượng pháp vũ vũ thân điền linh pháp nha. Thí quả báo vô sai: thọ đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề; thọ nhập Niết-bàn. Thọ tối hậu cúng linh cụ túc đàn ba-la-mật.</p><p>Thuần-đà bạch: Nhị thí quả báo bất nhiên. Tiên thọ phiền não vị tận, vị thành tựu chủng trí, linh chúng sinh cụ túc đàn ba-la-mật. Hậu thọ phiền não tận, thành tựu chủng trí, linh chúng sinh phổ cụ túc. Tiên thọ trực thị chúng sinh, tạp thực thân phiền não hậu biên vô thường thân; hậu thọ vô phiền não kim cang pháp thân thường biên thân. Tiên thọ vị cụ túc Bát-nhã ba-la-mật, đắc nhục nhãn vị Phật huệ nhãn; hậu thọ cụ túc Phật huệ nhãn. Tiên thọ thực hám đắc mạng sắc lực an vô ngại biện; hậu thọ bất thực vô ngũ sự quả.</p><p>**</p><p>(Kinh văn bị cắt ở đây trong kết quả trích xuất; Quyển 1 tiếp tục với các phẩm như Phẩm Trường Thọ, Phẩm Ai Thán, Phẩm Kim Cang Thân, v.v. Để có toàn bộ, có thể tham khảo bản đầy đủ từ nguồn PDF. Phần này là trích xuất chính từ Quyển 1, dựa trên bản dịch Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến.)</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết Bàn (Mahaparinirvana Sutra) là bộ kinh Đại thừa quan trọng, được coi là lời dạy cuối cùng của Phật trước khi nhập Niết Bàn. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh thường trú, Niết Bàn không phải là hư vô mà là trạng thái chân thường, lạc, ngã, tịnh. Kinh phá bỏ quan niệm Niết Bàn là diệt tận, dạy về thân kim cang bất hoại của Phật, khuyến khích tu tập để nhận ra Phật tánh và đạt giác ngộ viên mãn, mang lại bình đẳng cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Quyển 1 Kinh Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tổng Quan Về Kinh Đại Bát Niết-Bàn (Tập I, Quyển 1-6)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Bát Niết-Bàn là bộ kinh đồ sộ trong kho tàng kinh điển Phật giáo Đại thừa, do ngài Đàm-vô-sấm (Dam-bao-seng) từ miền Trung Ấn Độ mang đến Trung Hoa khoảng thế kỷ 5, khởi công dịch sang chữ Hán. Trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, kinh này xếp vào Tập 12, kinh số 374 (40 quyển) và kinh số 377 (2 quyển hậu phần). Bản dịch tiếng Việt do Nguyễn Minh Tiến thực hiện, chú giải bởi Nguyễn Minh Hiển (Hiệu Đính Hán Văn), tái bản năm 2015 với chỉnh sửa và bổ sung bởi Nhà Xuất Bản Tôn Giáo. Bản dịch hoàn chỉnh xuất bản lần đầu năm 2009, nhận phản hồi tích cực từ Phật tử trong và ngoài nước (hơn 300 bộ gửi sang Mỹ, Canada, Pháp, Đức, Australia; hàng trăm bộ thỉnh về chùa lớn; thư tay, email, điện thoại bày tỏ vui mừng). Năm 2013, AVG sản xuất phim phóng sự “Người Dịch Kinh Phật” phát sóng ngày 23/2/2013 và lặp lại nhiều lần; tháng 9/2013, Vietnam Records Book Center công bố bản dịch xác lập kỷ lục quốc gia; các website Phật giáo toàn cầu phổ biến rộng rãi. Từ phản hồi, nhóm dịch nghiên cứu sâu hơn ý nghĩa kinh văn để hoàn thiện bản dịch, nhằm giúp học tu đúng hướng, lưu giữ chuẩn xác bản Hán văn (đối chiếu khi nghi ngờ), và xây dựng phiên bản điện tử miễn phí tại http://rongmotamhon.net. Mục đích cuối cùng: giúp sự học hỏi và tu tập theo lời Phật dạy đúng hướng, vì kinh điển là ức cứ quan trọng nhất cho con đường tu của mỗi người. Lần tái bản này phân chia phẩm theo cấu trúc Hán văn Đại Chánh Tạng, nhấn mạnh Như Lai nhập Niết-bàn, thân kim cang, tánh Phật, và phẩm chất giải thoát chân thật (vô đẳng lữ, vô ưu sầu, vô trần cấu, v.v., như liệt kê chi tiết dưới đây).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời Nói Đầu Và Bối Cảnh Lịch Sử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lịch sử dịch kinh: Đàm-vô-sấm dịch từ thế kỷ 5, bản Hán văn chuẩn trong Đại Chánh Tạng. Bản Việt dịch góp phần nhỏ giúp tiếp nhận dễ dàng hơn, khảo định Hán văn để lưu truyền chuẩn xác, giúp đối chiếu và cao minh chỉ lỗi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoàn thiện bản dịch: Soát lại, chỉnh sửa kỹ lưỡng từng phần để rõ ràng, trong sáng, chuyển tải ý nghĩa thâm sâu. Tái bản bổ sung cấu trúc phẩm theo Hán văn, xây dựng phiên bản điện tử miễn phí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phản hồi và tác động: Đón nhận nồng nhiệt từ 2009; phim AVG 2013; kỷ lục quốc gia 2013; phổ biến toàn cầu. Nhóm dịch tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng mong đợi Phật tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tóm Tắt Nội Dung Quyển 1 (Phẩm Thọ Mạng, Tánh Như Lai, Kim Cang Thân, v.v.)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển 1 mô tả Đức Phật sắp nhập Niết-bàn tại Câu-thi-na (quê tộc Lực-sĩ), bên sông A-lỵ-la-bạt-đề, rừng Sa-la Song thọ, ngày rằm tháng hai. Phật phát thần lực tạo âm thanh lớn vang tam thiên đại thiên thế giới, thông báo nhập Niết-bàn, khuyên hỏi pháp lần cuối. Phóng hào quang ngũ sắc từ lông mày, chiếu sáng tam thiên thế giới, tiêu phiền não tội lỗi cho lục đạo chúng sinh. Chúng sinh đau buồn, khóc lóc, an ủi nhau đến lễ Phật hỏi pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng tụ họp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ-kheo: Ma-ha Ca-chiên-diên, Bạc-câu-la, Ưu-ba-nan-đà, tám trăm vạn A-la-hán run rẩy, khóc than, súc miệng, rửa tay, rửa, lễ Phật, đi quanh trăm ngàn vòng, chắp tay, lui bên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ-kheo-ni: Câu-đà-la, Thiện Hiền, Ưu-ba-nan-đà, Hải Ý, sáu mươi ức Đại A-la-hán, cùng Bồ-tát Hải Đức, Vô Tận Ý lễ Phật, đi quanh, chắp tay, lui bên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ưu-bà-tắc: Oai Đức Vô Cấu Xưng Vương, Thiện Đức; Ưu-bà-di: Thọ Đức, Đức Man, Tỳ-xá-khư; dân tộc Ly-xa tại Tỳ-da-ly chuẩn bị cúng dường gỗ thơm, hương hoa, xe báu, thức ăn nước tám công đức, trải cát vàng, rửa vải ca-lăng-già, hy-bà-la, lụa nhiều màu, tòa sư tử bảy báu, treo phướn lọng cờ, phát nguyện bố thí, lễ Phật, đi quanh, khóc cầu nhận cúng cuối, Phật không nhận, buồn não, lui bên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thần tiên, thiên nữ, long vương, quỷ thần, voi sư tử chúa, chim cánh vàng, càn-thát-bà, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, à-tu-la, đà-na-bà, la-sát, thần cây, trì-chú, quỷ dưới đất, thiên tử, thần gió mây, voi sư tử chim trâu bò, thần biển sông, tiên nhân Nhẫn Nhục, ong chúa Diệu Âm, núi Tu-di và núi khác trang nghiêm rừng suối hoa thơm, thần tiên chú thuật, dâng hoa quả sữa hương, lễ vật, đi quanh chắp tay cầu nhận cúng, Phật không nhận, buồn não, lui bên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn Thiên Vương, Đế-thích, ba mươi ba Thiên, lục thiên, Đại Phạm Thiên, Hữu đỉnh thiên, Tỳ-ma-chất-đa A-tu-la vương, Ma vương Ba-tuần quyến thuộc chuẩn bị cúng hoa mạn-đà-la, ca-chỉ-lâu-già, mạn-thù-sa, tán-đa-ni-ca, ái-lạc, phổ-hiền, thời, hương-thành, hoan-hỷ, phát-dục, hương-túy, phổ-hương, kim-diệp, long, ba-lỵ-chất-đa, câu-tỳ-đà-la, hy thức ăn thượng diệu, kỹ nhạc, phan cái tràng cờ lọng che tam thiên thế giới, lễ Phật đi quanh vô số vòng cầu nhận cúng, Phật không nhận, buồn não, lui bên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phản ứng đại chúng: Buồn than “Khổ thay! Thế gian trống rỗng! Như Lai nhập Niết-bàn!” Đất chấn sáu cách, hào quang từ miệng Phật nhập lại, chúng sinh kinh hãi, lông dựng, cổ họng khô, thân quang mất, oai đức diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn-thù-sư-lợi an ủi: Chỉ Phật Hư Không Đẳng phương đông, cõi Ý Lạc Mỹ Âm, Bồ-tát Vô Biên Thân và vô lượng Bồ-tát cúng dường, khiến hào quang chúng sinh không hiện. Đại chúng thấy Phật Hư Không Đẳng như trong gương, nhờ thần lực Phật thấy chín phương vô lượng chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mô tả cõi Phật Hư Không Đẳng: Bồ-tát Vô Biên Thân mỗi毛孔生大莲花, mỗi hoa chứa bảy vạn tám ngàn thành ấp trang nghiêm bảy báu, cây đa-la bảy lớp, nhân dân phồn thịnh, lầu canh vàng, hào sâu bảy báu, cây quý, gió thổi âm thanh vi diệu, nước lưu ly, thuyền bảy bảo, ao tắm, hoa ưu-bát-la câu-vật-đầu ba-đầu-ma phân-đà-lỵ, hy vườn lâm suối năm dòng, cung điện bốn bảo vàng bạc lưu ly pha lê kim sa, tháp vàng như vườn Hoan Hỷ Đao-lợi. Mỗi thành tám vạn bốn ngàn vương, mỗi vương vô lượng phu nhân thể nữ vui vẻ, nghe âm thanh thượng diệu khoái lạc, nghe Đại thừa thanh tịnh, không聞余名, trên tòa sư tử bốn chân hám lưu ly, y nhu nhuận phủ tòa, y vi diệu quá tam giới, vương坐 dạy Đại thừa, chúng sinh书持读诵修行, lưu布 Đại thừa kinh điển.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ-tát Vô Biên Thân an trụ chúng sinh: Lệnh舍世乐,皆言苦哉 thế gian空虚 Như Lai不久入 Niết-bàn. Bồ-tát与 vô lượng Bồ-tát châu táp,示现神通力,持 vô lượng cúng dường,香美饮食,聞食香气烦恼垢灭, nhờ thần lực见 biến hóa,身大 vô biên lượng đồng hư không,唯佛能见其量边际. Bồ-tát dâng cúng dường倍胜前, lễ Phật,合掌恭敬, cầu Phật哀愍受食, tam thỉnh不 nhận,退住一面. 南西北方诸佛世界亦有 vô lượng vô biên身 Bồ-tát,持供养倍胜前,至 Phật所却住一面皆如是.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sa-la song thọ kiết tường phúc địa: 纵广二十二由旬, đại chúng充滿无空缺. 四方 vô biên thân Bồ-tát坐处或如锥头针锋微尘,十方如微尘等诸佛世界诸大 Bồ-tát悉来集会,及 Diêm-phù-đề tất cả đại chúng亦悉来集,唯 trừ Ma-ha Ca-diếp A-nan nhị chúng, A-xà-thế vương quyến thuộc,毒蛇视能杀人蝣蜋蝮蝎及 sixteen kind row evil業者 tất cả come tập, đà-na-bà thần a-tu-la等悉捨恶念皆生慈心,如父如母如姊如妹,three thousand great thousand world sinh vật慈心相向亦复如是, trừ one阐提.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tam thiên đại thiên thế giới: 地柔软,無丘墟土沙砾石荆棘毒草,衆寶莊嚴犹如西方無量壽佛極樂世界. Đại chúng悉 see ten phương như vi trần等諸佛世界,như於明鏡自觀己身,see chư Phật đất亦复如是.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai diện môn xuất ngũ sắc quang minh: 曜覆諸大会,令彼身光悉不復現,所應作已還從口入. Thời chư thiên nhân及 chư hội衆阿修羅等see Phật quang minh還從口入,皆大恐怖身毛為豎,復作是言,như lai quang minh出已還入,non vô nhân duyên必於 ten phương所作已辦,將是最後涅槃之相.何其苦哉.如何世尊.Once捨離 four無量心,not受人天所奉供養,thánh huệ日明 từ nay永滅,無上法船於斯沈沒,呜呼痛哉,thế gian đại khổ. 舉身椎胸悲號啼哭,支節顫抖不能自持,身諸毛孔流血灑地.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thọ Mạng (Đệ Nhất Chi Nhất)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ưu-bà-tắc Thuần-đà: Tại Câu-thi-na, dẫn 15 người đồng loại, xả thân oai nghi, quỳ sát đất, chắp tay khóc lệ, lễ Phật túc, cầu Thế Tôn và tỳ-kheo tăng thọ tối hậu cúng dường để độ vô lượng chúng sinh. Từ nay vô chủ thân, bần cùng cơ khổ, cầu Như Lai thực tương lai, thọ cúng đoạn bần cùng khổ não. Ví dụ như sát-lợi tỳ-xá thủ-đà dịch lực nông tác đắc hảo điều ngưu lương điền trừ sa lậu ác thảo châu ngộ, hy Như Lai cam lộ pháp vũ. hy bốn tính bần tức thân bần vô thượng pháp tài bảo, nguyện thọ như La-hầu-la.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đáp: Thiện tai! Thọ cúng trừ đoạn bần cùng. Vô thượng pháp vũ vũ thân điền linh pháp nha. Thí quả báo vô sai: thọ đắc A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề; thọ nhập Niết-bàn. Thọ tối hậu cúng linh cụ túc đàn ba-la-mật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuần-đà bạch: Nhị thí quả báo bất nhiên. Tiên thọ phiền não vị tận, vị thành tựu chủng trí, linh chúng sinh cụ túc đàn ba-la-mật. Hậu thọ phiền não tận, thành tựu chủng trí, linh chúng sinh phổ cụ túc. Tiên thọ trực thị chúng sinh, tạp thực thân phiền não hậu biên vô thường thân; hậu thọ vô phiền não kim cang pháp thân thường biên thân. Tiên thọ vị cụ túc Bát-nhã ba-la-mật, đắc nhục nhãn vị Phật huệ nhãn; hậu thọ cụ túc Phật huệ nhãn. Tiên thọ thực hám đắc mạng sắc lực an vô ngại biện; hậu thọ bất thực vô ngũ sự quả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;**&lt;/p&gt;&lt;p&gt;(Kinh văn bị cắt ở đây trong kết quả trích xuất; Quyển 1 tiếp tục với các phẩm như Phẩm Trường Thọ, Phẩm Ai Thán, Phẩm Kim Cang Thân, v.v. Để có toàn bộ, có thể tham khảo bản đầy đủ từ nguồn PDF. Phần này là trích xuất chính từ Quyển 1, dựa trên bản dịch Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến.)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Niết Bàn mang lại lợi ích vô lượng: nhận ra Phật tánh, diệt trừ phiền não, tăng trưởng trí huệ, được chư Phật hộ niệm, thoát vòng sinh tử, đạt Niết Bàn chân thật thường trú lạc ngã tịnh, độ thoát chúng sanh, và chứng quả giác ngộ viên mãn, như mặt trăng tròn rọi sáng đêm tối.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="10252120" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/4f97f54d-f1fb-4770-8a82-f2580cdf739c/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">2695c05e-6f0c-4e36-92a6-f3371bab7cd7</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/4f97f54d-f1fb-4770-8a82-f2580cdf739c</link>
                <pubDate>Wed, 12 Nov 2025 13:42:41 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>640</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 10</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 10</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 10</p><p>Hành Ấm Ma</p><p>A-nan, thiện-nam-tử kia, tu pháp Tam-ma-đề, khi Tưởng-ấm đã hết, thì những mộng-tưởng bình-thường của người đó đã tiêu-diệt, khi thức, khi ngủ, luôn luôn một thể, tính giác-minh rỗng-lặng như hư-không trong-sạch, không còn những sự-tướng tiền-trần thô-trọng; xem những núi sông đất-liền thế-gian, như gương soi-sáng, khi đến, không dính vào đâu, khi qua, không có dấu-vết, rỗng-chịu chiếu-ứng, rõ-ràng không còn tập-quán cũ, chỉ một tính tinh-chân.</p><p>Căn-nguyên của sinh-diệt từ đó phơi-lộ ra, thấy được 12 loài chúng-sinh thập phương, rõ hết các loài; tuy chưa thông-suốt manh-mối của mỗi chúng-sinh, nhưng đã thấy cơ-sở sinh-diệt chung, giống như bóng dã-mã, lớp-lớp chớp-nhoáng hiện ra, làm cái then-chốt phát-sinh các phù-căn-trần; ấy thì gọi là phạm vi Hành-ấm.</p><p>Nếu cái cỗi-gốc của những lăng-xăng chớp-nhoáng u-ẩn đó, vào được tính đứng-lặng bản-lai, những tập-khí sinh-diệt bản-lai dừng-lại như sóng-mòi diệt hết, hóa-thành nước đứng, thì gọi là hết Hành-ấm. Người đó, thì vượt khỏi chúng-sinh-trược; xét lại nguyên-do, cỗi-gốc là u-ẩn vọng-tưởng.</p><p>A-nan nên biết, các thiện-nam-tử được sự nhận-biết đúng-đắn trong Xa-ma-tha đó, chính-tâm đứng-lặng sáng-suốt, mười loài Thiên-ma không còn được dịp khuấy-phá. Trong lúc nghiên-cứu tinh-vi cùng-tột cỗi-gốc sinh-loại, khi cỗi-gốc sinh-diệt bản-loại lộ ra, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động lăng-xăng cùng-khắp u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp là tính viên-nguyên, thì người đó sa vào hai cái luận vô-nhân:</p><p>– Một, là người đó thấy cái gốc không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã được cơ-sở sinh-diệt toàn lộ ra, nương theo tám trăm công-đức của nhãn-căn, thấy trong tám muôn kiếp, tất-cả chúng-sinh đều theo dòng nghiệp-báo mà xoay-vần, chết nơi nầy, sinh nơi kia; chỉ thấy chúng-sinh luân-hồi trong đó, ngoài tám muông kiếp thì mờ-mịt không thấy gì, bèn phát ra sự nhận-định rằng, những loại chúng-sinh thập phương trong thế-gian nầy, trước tám muôn kiếp, không do nhân gì mà tự có. Do sự chấp-trước so-đo như thế, bỏ mất Chính-biến-tri, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề.</p><p>– Hai, là người đó thấy cái ngọn không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã thấy cỗi-gốc sinh-diệt, biết người sinh người, rõ chim sinh chim, thấy chim quạ luôn luôn đen, chim hộc luôn luôn trắng, loài người, loài trời thân vẫn đứng thẳng, các loài súc-sinh thân vẫn nằm ngang, sắc trắng không phải do tẩy mà thành, sắc đen không phải do nhuộm tạp ra, suốt tám muôn kiếp không hề dời-đổi, cho đến hết đời nầy cũng như vậy; mà từ xưa đến nay, người đó không thấy gì là Bồ-đề, làm sao lại còn có việc thành đạo Bồ-đề, rồi nhận-định tất-cả các sự vật ngày nay, đều không có nguyên-nhân gì cả.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước như thế, bỏ mất tính Chính-biến-tri, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ nhất, lập những luận vô-nhân.</p><p>A-nan, các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng sáng-suốt, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp là tính viên-thường, thì người ấy sa vào bốn cái luận biến-thường:</p><p>– Một, là người đó xét-cùng bản-tính của tâm và cảnh, cả hai đều không có nhân; tu-tập biết được trong hai muôn kiếp, thập phương chúng-sinh có những sự sinh-diệt, đều là xoay-vần, không hề tan mất, nên chấp đó là thường.</p><p>– Hai, là người đó xét-cùng cỗi-gốc tứ-đại, thấy tứ-đại thường-trụ, tu-tập biết được trong bốn muôn kiếp, thập phương chúng-sinh tuy có sinh-diệt, nhưng đều có bản-thể thường-hằng, không hề tan-mất, nên chấp đó là thường.</p><p>– Ba, là người đó xét-cùng nguyên-do bản-lai của sáu căn, của sự chấp-thụ thức Mạt-na và của các tâm, ý, ý-thức, thấy tính vẫn thường-xuyên; tu-tập biết được trong tám muôn kiếp, tất-cả chúng-sinh xoay-vần không mất, bản-lai là thường-trụ; rồi xét-tột tính không mất đó, mà chấp là thường.</p><p>– Bốn, là người đó nghĩ rằng đã hết Tưởng-ấm, lẽ ra không còn lưu-chuyển, đứng-lặng xoay-vần; tư-tưởng sinh-diệt đã diệt hết rồi, thì trong lý tự-nhiên thành không-sinh-diệt; người đó, nhân tâm-niệm so-đo như thế, mà chấp là thường.</p><p>Do những sự chấp thường ấy, bỏ mất Chính-biến-tri, đọa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề, ấy gọi là ngoại-đạo thứ hai, lập những luận viên-thường.</p><p>Lại các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp-trước giữa mình và cái khác, thì người đó mắc vào bốn kiến-chấp điên-đảo, là những luận “một phần vô-thường, một phần thường” :</p><p>– Một là người đó quán cái tâm diệu-minh lặng vậy cùng khắp thập phương thế-giới, cho là cái thần-ngã rốt-ráo; do đó, chấp có cái ta cùng khắp mười phương đứng-lặng sáng-suốt không lay-động, còn tất-cả chúng-sinh, thì ở trong tâm ta tự sinh, tự chết; vậy tâm-tính của ta, thì gọi là thường, còn những bọn sinh-diệt kia, thì thật là vô-thường.</p><p>– Hai, là người đó không xét cái tâm, lại xét khắp hằng-sa quốc-độ trong mười phương, thấy có chỗ bị kiếp-tai phá-hoại, thì cho là có tính rốt-ráo vô-thường, còn những chỗ không bị kiếp-tai phá-hoại, thì gọi là rốt-ráo thường.</p><p>– Ba, là người đó quán-sát riêng cái tâm mình là tinh-tế nhỏ-nhiệm giống như vi-trần, lưu-chuyển trong mười phương mà tính không dời-đổi, lại có thể khiến cái thân nầy, sinh rồi lại diệt; rồi chấp cái tính không mất đó, là tính thường của mình, còn tất-cả sự sống chết, từ tính ấy sinh ra, thì gọi là vô-thường.</p><p>– Bốn, là người đó biết Tưởng-ấm hết rồi, thấy được dòng Hành-ấm, chấp cái lưu-chuyển thường-xuyên của Hành-ấm là tính thường, còn những Sắc-ấm, Thụ-ấm, Tưởng-ấm hiện đã diệt hết, thì gọi là vô-thường.</p><p>Do những chấp-trước so-đo “một phần vô-thường, một phần thường” như thế, mà sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ ba, lập những luận “một phần thường”.</p><p>Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; khi xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại sinh tâm so-đo chấp-trước về phận-vị, thì người đó sa vào bốn cái luận hữu-biên:</p><p>– Một, là người đó so-đo cái cỗi-gốc sinh-diệt lưu-chuyển không ngừng, rồi chấp quá-khứ, vị-lai, là hữu-biên và chấp cái tâm tương-tục, là vô-biên.</p><p>– Hai, là người đó xét trong tám muôn kiếp thì thấy chúng-sinh, còn trước tám muôn kiếp thì bặt không nghe-thấy gì, rồi gọi chỗ không nghe-thấy, là vô-biên, còn chỗ có chúng-sinh, là hữu-biên.</p><p>– Ba, là người đó chấp rằng mình biết cùng khắp, là được tính vô-biên, còn tất-cả các người kia, hiện ra trong cái biết của mình, mà mình không hề biết họ nhận được tính-biết, thì những người kia không được cái tâm vô-biên và chỉ có tính hữu-biên.</p><p>– Bốn, là người dó khi xét-cùng diệt-trừ Hành-ấm, dùng tri-kiến của mình, mà so-đo chấp tất-cả chúng-sinh trong mỗi cái thân, đều là phần nửa sinh, phần nửa diệt và chấp tất-cả sự-vật có ra trong thế-giới, đều một nửa là hữu-biên, một nửa là vô-biên.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước hữu-biên, vô-biên như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề, ấy gọi là ngoại-đạo thứ tư, lập những luận hữu-biên.</p><p>Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước về tri-kiến, thì người đó mắc vào bốn thứ luận hư-vọng “điên-đảo biến-kế, càn-loạn bất-tử” :</p><p>– Một, là người đó quán-sát cỗi-gốc biến-hóa, thấy chỗ dời-đổi, thì gọi là biến, thấy chỗ tương-tục, thì gọi là thường, thấy chỗ thấy được, thì gọi là sinh, chỗ không thấy được, thì gọi là diệt; chỗ các nhân tương-tục, không có đứt-đoạn, thì gọi là thêm; chính trong tương-tục, chỗ rời nhau ở giữa, thì gọi là giảm; chỗ mỗi mỗi cái sinh ra, thì gọi là có, chỗ tương-đối không có, thì gọi là không, dùng lý quán-sát tất-cả và dụng tâm thành những kiến-chấp riêng-biệt; có người đến cầu Pháp hỏi nghĩa, thì đáp rằng “Ta nay cũng sinh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng thêm, cũng bớt”, trong tất-cả thời đều nói lộn-xộn, khiến cho người nghe không thể hiểu được.</p><p>– Hai, là người đó chín-xét cái tâm về chỗ tương-đối là không, nhân cái không mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là không; ngoài chữ không ra, không nói gì cả.</p><p>– Ba, là người đó chín-xét cái tâm về chỗ mỗi mỗi đều có, nhân cái đó mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là phải; trừ chữ phải ra, không nói gì cả.</p><p>– Bốn, là người đó chấp cả có, cả không; do cái cảnh rời-rạc mà tâm cũng rối-loạn; có người đến hỏi thì đáp rằng: “Cũng có, tức là cũng không, trong cái cũng không, không phải là cũng có”; tất-cả đều càn-loạn, không thể nói hết được.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước càn-loạn, rỗng-trống như thế, mà sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ năm, lập bốn thứ luận hư-vọng, “điên-đảo biến-kế, càn-loạn bất-tử”.</p><p>Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh-tâm so-đo chấp-trước nơi dòng sinh-diệt vô-tận, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-hữu-tướng” :</p><p>– Người đó nghĩ rằng, trong thân ta hiện nay, có tính sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ sáu, lập tám loại luận “hậu-hữu-tướng”.</p><p>Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :</p><p>– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.</p><p>Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :</p><p>– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.</p><p>Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :</p><p>– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.</p><p>Thức Ấm Ma</p><p>A-nan, khi Hành-ấm hết rồi, thì cái then-chốt của các sự nhiễu-động đều xóa sạch, và cái bổ-đặc-già-la đã chấm dứt.</p><p>Bầu trời niết-bàn sáng-suốt, bỗng-nhiên hiện ra trước, giống như nhìn ra xa về phương Đông, thấy rõ các nước xa xôi. Cái tinh-minh độc-diệu của tâm-tính, bỗng-nhiên hiện ra, chỉ thấy tính sinh-diệt của sáu căn, tính thanh-tịnh bản-nhiên, thì thuần là một thể sáng-suốt, cùng khắp mười phương, không còn các thứ trần-lao, uế-tạp.</p><p>Trong cái tinh-minh đó, thấy được nguyên-do thọ-mạng của 12 loại chúng-sinh trong mười phương, mà không chỉ được manh-mối, chỉ nhận được tính đồng nhất của mười phương chúng-sinh, gọi là tính sống; ấy gọi là phạm vi Thức-ấm.</p><p>Nếu tiêu-dung sáu căn, thì thấy-nghe dung-thông, không còn các thứ đối-đãi, thì mười phương hư-không, và cái tâm sáng-suốt, đồng một tinh-minh, thì đó là chấm dứt Thức-ấm; người đó vượt khỏi mệnh-trược; xét lại nguyên-do, thì cỗi-gốc là điên-đảo, huyễn-hóa, rỗng-không vọng-tưởng.</p><p>A-nan, các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào bảy loại luận đoạn-diệt:</p><p>– Một, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.</p><p>– Hai, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.</p><p>– Ba, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.</p><p>– Bốn, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.</p><p>– Năm, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.</p><p>– Sáu, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.</p><p>– Bảy, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước đoạn-diệt như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ tám, lập năm loại luận đoạn-diệt.</p><p>Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào năm loại luận niết-bàn:</p><p>– Một, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.</p><p>– Hai, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.</p><p>– Ba, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.</p><p>– Bốn, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.</p><p>– Năm, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.</p><p>Do những so-đo, chấp-trước niết-bàn như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ chín, lập năm loại luận niết-bàn.</p><p>Kết Luận Về Ngũ Ấm Ma</p><p>A-nan, tất cả những ma-sự như thế, đều do người tu hành, trong khi dụng-công, tâm không chánh-kiến, nên sinh ra; hoặc do âm-dương, hoặc do kiếp-số, hoặc do oan-gia, hoặc do nhân-duyên, mà sinh ra; đều là những vọng-tưởng hư-vọng, do mê-lý, mê-sự, mà sinh ra; nếu người tu hành, tâm chánh-kiến, thì không bị các ma-sự ấy; nếu bị, thì phải biết mà hàng-phục, thì tự-nhiên không bị hại.</p><p>A-nan, ông nên biết, người tu hành, trong mạt-pháp, phải biết những ma-sự nầy, để tự-bảo-vệ, và bảo-vệ chúng-sinh, để được chánh-giác.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 10&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành Ấm Ma&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, thiện-nam-tử kia, tu pháp Tam-ma-đề, khi Tưởng-ấm đã hết, thì những mộng-tưởng bình-thường của người đó đã tiêu-diệt, khi thức, khi ngủ, luôn luôn một thể, tính giác-minh rỗng-lặng như hư-không trong-sạch, không còn những sự-tướng tiền-trần thô-trọng; xem những núi sông đất-liền thế-gian, như gương soi-sáng, khi đến, không dính vào đâu, khi qua, không có dấu-vết, rỗng-chịu chiếu-ứng, rõ-ràng không còn tập-quán cũ, chỉ một tính tinh-chân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Căn-nguyên của sinh-diệt từ đó phơi-lộ ra, thấy được 12 loài chúng-sinh thập phương, rõ hết các loài; tuy chưa thông-suốt manh-mối của mỗi chúng-sinh, nhưng đã thấy cơ-sở sinh-diệt chung, giống như bóng dã-mã, lớp-lớp chớp-nhoáng hiện ra, làm cái then-chốt phát-sinh các phù-căn-trần; ấy thì gọi là phạm vi Hành-ấm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cái cỗi-gốc của những lăng-xăng chớp-nhoáng u-ẩn đó, vào được tính đứng-lặng bản-lai, những tập-khí sinh-diệt bản-lai dừng-lại như sóng-mòi diệt hết, hóa-thành nước đứng, thì gọi là hết Hành-ấm. Người đó, thì vượt khỏi chúng-sinh-trược; xét lại nguyên-do, cỗi-gốc là u-ẩn vọng-tưởng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan nên biết, các thiện-nam-tử được sự nhận-biết đúng-đắn trong Xa-ma-tha đó, chính-tâm đứng-lặng sáng-suốt, mười loài Thiên-ma không còn được dịp khuấy-phá. Trong lúc nghiên-cứu tinh-vi cùng-tột cỗi-gốc sinh-loại, khi cỗi-gốc sinh-diệt bản-loại lộ ra, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động lăng-xăng cùng-khắp u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp là tính viên-nguyên, thì người đó sa vào hai cái luận vô-nhân:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Một, là người đó thấy cái gốc không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã được cơ-sở sinh-diệt toàn lộ ra, nương theo tám trăm công-đức của nhãn-căn, thấy trong tám muôn kiếp, tất-cả chúng-sinh đều theo dòng nghiệp-báo mà xoay-vần, chết nơi nầy, sinh nơi kia; chỉ thấy chúng-sinh luân-hồi trong đó, ngoài tám muông kiếp thì mờ-mịt không thấy gì, bèn phát ra sự nhận-định rằng, những loại chúng-sinh thập phương trong thế-gian nầy, trước tám muôn kiếp, không do nhân gì mà tự có. Do sự chấp-trước so-đo như thế, bỏ mất Chính-biến-tri, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hai, là người đó thấy cái ngọn không có nhân. Vì cớ sao? Người đó đã thấy cỗi-gốc sinh-diệt, biết người sinh người, rõ chim sinh chim, thấy chim quạ luôn luôn đen, chim hộc luôn luôn trắng, loài người, loài trời thân vẫn đứng thẳng, các loài súc-sinh thân vẫn nằm ngang, sắc trắng không phải do tẩy mà thành, sắc đen không phải do nhuộm tạp ra, suốt tám muôn kiếp không hề dời-đổi, cho đến hết đời nầy cũng như vậy; mà từ xưa đến nay, người đó không thấy gì là Bồ-đề, làm sao lại còn có việc thành đạo Bồ-đề, rồi nhận-định tất-cả các sự vật ngày nay, đều không có nguyên-nhân gì cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước như thế, bỏ mất tính Chính-biến-tri, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ nhất, lập những luận vô-nhân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng sáng-suốt, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp là tính viên-thường, thì người ấy sa vào bốn cái luận biến-thường:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Một, là người đó xét-cùng bản-tính của tâm và cảnh, cả hai đều không có nhân; tu-tập biết được trong hai muôn kiếp, thập phương chúng-sinh có những sự sinh-diệt, đều là xoay-vần, không hề tan mất, nên chấp đó là thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hai, là người đó xét-cùng cỗi-gốc tứ-đại, thấy tứ-đại thường-trụ, tu-tập biết được trong bốn muôn kiếp, thập phương chúng-sinh tuy có sinh-diệt, nhưng đều có bản-thể thường-hằng, không hề tan-mất, nên chấp đó là thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Ba, là người đó xét-cùng nguyên-do bản-lai của sáu căn, của sự chấp-thụ thức Mạt-na và của các tâm, ý, ý-thức, thấy tính vẫn thường-xuyên; tu-tập biết được trong tám muôn kiếp, tất-cả chúng-sinh xoay-vần không mất, bản-lai là thường-trụ; rồi xét-tột tính không mất đó, mà chấp là thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Bốn, là người đó nghĩ rằng đã hết Tưởng-ấm, lẽ ra không còn lưu-chuyển, đứng-lặng xoay-vần; tư-tưởng sinh-diệt đã diệt hết rồi, thì trong lý tự-nhiên thành không-sinh-diệt; người đó, nhân tâm-niệm so-đo như thế, mà chấp là thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những sự chấp thường ấy, bỏ mất Chính-biến-tri, đọa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề, ấy gọi là ngoại-đạo thứ hai, lập những luận viên-thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại móng tâm so-đo chấp-trước giữa mình và cái khác, thì người đó mắc vào bốn kiến-chấp điên-đảo, là những luận “một phần vô-thường, một phần thường” :&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Một là người đó quán cái tâm diệu-minh lặng vậy cùng khắp thập phương thế-giới, cho là cái thần-ngã rốt-ráo; do đó, chấp có cái ta cùng khắp mười phương đứng-lặng sáng-suốt không lay-động, còn tất-cả chúng-sinh, thì ở trong tâm ta tự sinh, tự chết; vậy tâm-tính của ta, thì gọi là thường, còn những bọn sinh-diệt kia, thì thật là vô-thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hai, là người đó không xét cái tâm, lại xét khắp hằng-sa quốc-độ trong mười phương, thấy có chỗ bị kiếp-tai phá-hoại, thì cho là có tính rốt-ráo vô-thường, còn những chỗ không bị kiếp-tai phá-hoại, thì gọi là rốt-ráo thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Ba, là người đó quán-sát riêng cái tâm mình là tinh-tế nhỏ-nhiệm giống như vi-trần, lưu-chuyển trong mười phương mà tính không dời-đổi, lại có thể khiến cái thân nầy, sinh rồi lại diệt; rồi chấp cái tính không mất đó, là tính thường của mình, còn tất-cả sự sống chết, từ tính ấy sinh ra, thì gọi là vô-thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Bốn, là người đó biết Tưởng-ấm hết rồi, thấy được dòng Hành-ấm, chấp cái lưu-chuyển thường-xuyên của Hành-ấm là tính thường, còn những Sắc-ấm, Thụ-ấm, Tưởng-ấm hiện đã diệt hết, thì gọi là vô-thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những chấp-trước so-đo “một phần vô-thường, một phần thường” như thế, mà sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ ba, lập những luận “một phần thường”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; khi xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, lại sinh tâm so-đo chấp-trước về phận-vị, thì người đó sa vào bốn cái luận hữu-biên:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Một, là người đó so-đo cái cỗi-gốc sinh-diệt lưu-chuyển không ngừng, rồi chấp quá-khứ, vị-lai, là hữu-biên và chấp cái tâm tương-tục, là vô-biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hai, là người đó xét trong tám muôn kiếp thì thấy chúng-sinh, còn trước tám muôn kiếp thì bặt không nghe-thấy gì, rồi gọi chỗ không nghe-thấy, là vô-biên, còn chỗ có chúng-sinh, là hữu-biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Ba, là người đó chấp rằng mình biết cùng khắp, là được tính vô-biên, còn tất-cả các người kia, hiện ra trong cái biết của mình, mà mình không hề biết họ nhận được tính-biết, thì những người kia không được cái tâm vô-biên và chỉ có tính hữu-biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Bốn, là người dó khi xét-cùng diệt-trừ Hành-ấm, dùng tri-kiến của mình, mà so-đo chấp tất-cả chúng-sinh trong mỗi cái thân, đều là phần nửa sinh, phần nửa diệt và chấp tất-cả sự-vật có ra trong thế-giới, đều một nửa là hữu-biên, một nửa là vô-biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước hữu-biên, vô-biên như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề, ấy gọi là ngoại-đạo thứ tư, lập những luận hữu-biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước về tri-kiến, thì người đó mắc vào bốn thứ luận hư-vọng “điên-đảo biến-kế, càn-loạn bất-tử” :&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Một, là người đó quán-sát cỗi-gốc biến-hóa, thấy chỗ dời-đổi, thì gọi là biến, thấy chỗ tương-tục, thì gọi là thường, thấy chỗ thấy được, thì gọi là sinh, chỗ không thấy được, thì gọi là diệt; chỗ các nhân tương-tục, không có đứt-đoạn, thì gọi là thêm; chính trong tương-tục, chỗ rời nhau ở giữa, thì gọi là giảm; chỗ mỗi mỗi cái sinh ra, thì gọi là có, chỗ tương-đối không có, thì gọi là không, dùng lý quán-sát tất-cả và dụng tâm thành những kiến-chấp riêng-biệt; có người đến cầu Pháp hỏi nghĩa, thì đáp rằng “Ta nay cũng sinh, cũng diệt, cũng có, cũng không, cũng thêm, cũng bớt”, trong tất-cả thời đều nói lộn-xộn, khiến cho người nghe không thể hiểu được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hai, là người đó chín-xét cái tâm về chỗ tương-đối là không, nhân cái không mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là không; ngoài chữ không ra, không nói gì cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Ba, là người đó chín-xét cái tâm về chỗ mỗi mỗi đều có, nhân cái đó mà được chứng; có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là phải; trừ chữ phải ra, không nói gì cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Bốn, là người đó chấp cả có, cả không; do cái cảnh rời-rạc mà tâm cũng rối-loạn; có người đến hỏi thì đáp rằng: “Cũng có, tức là cũng không, trong cái cũng không, không phải là cũng có”; tất-cả đều càn-loạn, không thể nói hết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước càn-loạn, rỗng-trống như thế, mà sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ năm, lập bốn thứ luận hư-vọng, “điên-đảo biến-kế, càn-loạn bất-tử”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh-tâm so-đo chấp-trước nơi dòng sinh-diệt vô-tận, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-hữu-tướng” :&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, trong thân ta hiện nay, có tính sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-hữu-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ sáu, lập tám loại luận “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào tám loại luận “hậu-vô-tướng” :&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, thân ta hiện nay, sinh rồi lại diệt, thì gọi là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, thì gọi là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Người đó nghĩ rằng, tính sinh-diệt của chúng-sinh, là tính “hậu-vô-tướng”; còn tính không sinh-diệt, là tính “hậu-hữu-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước hữu-tướng, vô-tướng như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ bảy, lập tám loại luận “hậu-vô-tướng”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thức Ấm Ma&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, khi Hành-ấm hết rồi, thì cái then-chốt của các sự nhiễu-động đều xóa sạch, và cái bổ-đặc-già-la đã chấm dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bầu trời niết-bàn sáng-suốt, bỗng-nhiên hiện ra trước, giống như nhìn ra xa về phương Đông, thấy rõ các nước xa xôi. Cái tinh-minh độc-diệu của tâm-tính, bỗng-nhiên hiện ra, chỉ thấy tính sinh-diệt của sáu căn, tính thanh-tịnh bản-nhiên, thì thuần là một thể sáng-suốt, cùng khắp mười phương, không còn các thứ trần-lao, uế-tạp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong cái tinh-minh đó, thấy được nguyên-do thọ-mạng của 12 loại chúng-sinh trong mười phương, mà không chỉ được manh-mối, chỉ nhận được tính đồng nhất của mười phương chúng-sinh, gọi là tính sống; ấy gọi là phạm vi Thức-ấm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu tiêu-dung sáu căn, thì thấy-nghe dung-thông, không còn các thứ đối-đãi, thì mười phương hư-không, và cái tâm sáng-suốt, đồng một tinh-minh, thì đó là chấm dứt Thức-ấm; người đó vượt khỏi mệnh-trược; xét lại nguyên-do, thì cỗi-gốc là điên-đảo, huyễn-hóa, rỗng-không vọng-tưởng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, các thiện-nam-tử đó, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào bảy loại luận đoạn-diệt:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Một, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hai, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Ba, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Bốn, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Năm, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Sáu, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Bảy, là người đó nghĩ rằng, thân ta là cái thân hữu-vô; do bốn đại giả-hợp mà thành; cái thân nầy khi diệt hết, thì còn cái gì nữa; người đó chấp sau khi chết, là đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước đoạn-diệt như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ tám, lập năm loại luận đoạn-diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các Thiện-nam-tử, trong Tam-ma-đề, chính-tâm đứng-lặng vững-chắc, Thiên-ma không còn dịp khuấy-phá; trong lúc xét-cùng cỗi-gốc sinh-loại, xét cái cỗi-gốc thường chuyển-động u-ẩn kia, sinh lòng so-đo chấp-trước nơi cái diệt, thì người đó sa vào năm loại luận niết-bàn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Một, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hai, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Ba, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Bốn, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Năm, là người đó nghĩ rằng, tâm ta hiện nay, còn có chỗ ham-dục, do đó, mà còn lưu-chuyển; nay ta nếu đoạn hết dục-ái, thì tức là niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do những so-đo, chấp-trước niết-bàn như thế, sa-lạc vào ngoại-đạo, lầm-mất tính Bồ-đề; ấy gọi là ngoại-đạo thứ chín, lập năm loại luận niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kết Luận Về Ngũ Ấm Ma&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, tất cả những ma-sự như thế, đều do người tu hành, trong khi dụng-công, tâm không chánh-kiến, nên sinh ra; hoặc do âm-dương, hoặc do kiếp-số, hoặc do oan-gia, hoặc do nhân-duyên, mà sinh ra; đều là những vọng-tưởng hư-vọng, do mê-lý, mê-sự, mà sinh ra; nếu người tu hành, tâm chánh-kiến, thì không bị các ma-sự ấy; nếu bị, thì phải biết mà hàng-phục, thì tự-nhiên không bị hại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, ông nên biết, người tu hành, trong mạt-pháp, phải biết những ma-sự nầy, để tự-bảo-vệ, và bảo-vệ chúng-sinh, để được chánh-giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="20113031" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/c0c55905-9b5e-425e-9247-cef31fd00575/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">99a09ad0-72aa-442d-96b6-1cd368394b30</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/c0c55905-9b5e-425e-9247-cef31fd00575</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:46:32 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/5b4509fe-2063-4086-8f09-987ccd6c897d_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>1257</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 9</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 9</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 9</p><p>A Nan, tất cả những người tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền na, thì không có trí huệ.</p><p>Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm dục, trong lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ nhớ, lòng ái nhiễm không sanh, không còn ở trong Dục Giới, thì bản thân liền được làm Phạm lữ; một loài như thế, gọi là Phạm Chúng thiên.</p><p>Tập quán ngũ dục đã trừ rồi, tâm ly dục hiện ra, vui vẻ thuận theo các luật nghi, thì người đó liền có thể thực hành những Phạm đức; một loài như thế, gọi là Phạm Phụ thiên.</p><p>Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, uy nghi không thiếu, cấm giới trong sạch, lại có thêm trí sáng, thì người đó liền được thống lĩnh Phạm chúng, làm Đại Phạm vương; một loài như thế, gọi là Đại Phạm thiên.</p><p>A Nan, ba loài tốt đó, tất cả khổ não không bức bách được; tuy không phải chân chính tu phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc của Dục Giới không lay động được, nên gọi là Sơ Thiền.</p><p>A Nan, thứ nữa, các hàng Phạm Thiên khi thống lĩnh phạm chúng, lại tu tập Phạm hạnh được viên mãn, làm cho tâm đứng lặng không lay động, và do sự đứng lặng ấy, sanh ra sáng suốt; một loài như thế, gọi là Thiểu Quang thiên.</p><p>Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng không cùng, ánh vào thập phương thế giới đều thành trong sáng như ngọc lưu ly; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Quang thiên.</p><p>Nắm giữ hào quang viên mãn, tạo thành giáo thể, phát ra sự giáo hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng; một loài như thế, gọi là Quang Âm thiên.</p><p>A Nan, ba loài tốt ấy, tất cả lo buồn không bức bách được; tuy không phải chân chính tu hành phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc thô động đã dẹp xuống, nên gọi là Nhị Thiền.</p><p>A Nan, những loài trời như thế, khi dùng hào quang viên mãn làm việc giáo hóa, do sự giáo hóa càng rõ lẽ nhiệm mầu, phát ra hạnh tinh tấn, thông với cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Thiểu Tịnh thiên.</p><p>Cảnh thanh tịnh hiện tiền, dẫn phát không có bờ bến, thân tâm được khinh an, thành cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Tịnh thiên.</p><p>Thế giới và thân tâm, tất cả hoàn toàn thanh tịnh, đức thanh tịnh được thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện tiền, dồn về vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Biến Tịnh thiên.</p><p>A Nan, ba loài tốt đó, đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên lặng, được cái vui vô lượng; tuy không phải chân chính được phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm yên ẩn, hoan hỷ được đầy đủ, nên gọi là Tam Thiền.</p><p>A Nan, lại nữa, những loài trời đó, thân tâm không bị bức bách, nguyên nhân của khổ đã hết, lại xét cái vui không phải thường trụ, lâu rồi cũng phải tiêu tan, nên cả hai tâm khổ và vui, đồng thời đều phóng xả; những tướng thô nặng đã diệt, thì phúc thanh tịnh sanh ra; một loài như thế, gọi là Phúc Sanh thiên.</p><p>Tâm phóng xả được viên mãn, sự nhận hiểu cao xa càng thanh tịnh; trong cái phúc không gì trở ngại đó, được sự tùy thuận nhiệm mầu cùng tột vị lai; một loài như vậy, gọi là Phúc Ái thiên.</p><p>A Nan, từ cõi trời đó, có hai đường rẽ:</p><p>Nếu dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng trước kia, mà tu chứng an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt, thì thân mệnh cùng tột, thân tâm đều diệt hết, ý nghĩ bặt mất, trải qua năm trăm kiếp; song, người ấy đã lấy cái sanh diệt làm nhân, thì không thể phát minh tánh không sanh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sanh; một loài như thế, gọi là Vô Tưởng thiên.</p><p>A Nan, bốn loài tốt ấy, tất cả những cảnh khổ vui trong thế gian không lay động được; tuy không phải là chỗ bất động chân thật của đạo vô vi; song, nơi cái tâm hữu sở đắc, công dụng đã thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền.</p><p>A Nan, trong đó, lại có năm bậc Bất Hoàn thiên, các vị này đã diệt hết tập khí chín phẩm tư hoặc trong cõi dưới rồi, khổ vui không còn, bên dưới không có chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng đồng phận của tâm phóng xả.</p><p>A Nan, khổ vui cả hai đều diệt, không còn tâm niệm ưa ghét; một loài như thế, gọi là Vô Phiền thiên.</p><p>Tự tại phóng xả, không còn năng xả, sở xả; một loài như thế, gọi là Vô Nhiệt thiên.</p><p>Khéo thấy thế giới mười phương thảy đều đứng lặng, không còn tất cả những cấu nhiễm trầm trọng của trần cảnh; một loài như thế, gọi là Thiện Kiến thiên.</p><p>Tri kiến thanh tịnh hiện tiền, sử dụng được không ngăn ngại; một loài như thế, gọi là Thiện Hiện thiên.</p><p>Quán sát rốt ráo các cực vi, cùng tột tánh của sắc pháp, vào tánh không bờ bến; một loài như thế, gọi là Sắc Cứu Kính thiên.</p><p>A Nan, những bậc Bất Hoàn thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên vương Tứ Thiền được có kính nghe, nhưng không thể thấy biết; cũng như hiện nay, có các thánh đạo trường nơi rừng sâu đồng rộng thế gian, đều là những nơi trụ trì của các vị A la hán, nhưng những người thô thiển thế gian không thể thấy được.</p><p>A Nan, mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đó trở về, gọi là Sắc Giới.</p><p>Lại nữa, A Nan, từ chỗ cao nhất của Sắc Giới, lại có hai đường rẽ:</p><p>Nếu nơi tâm phóng xả, phát minh được trí huệ, trí huệ sáng suốt viên thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A la hán, vào Bồ tát thừa; một loài như thế, gọi là Hồi tâm Đại A la hán.</p><p>Nếu nơi tâm phóng xả, khi thành tựu được sự phóng xả rồi, lại cảm thấy cái thân làm ngăn ngại và tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không, thì một loài như thế, gọi là Không xứ.</p><p>Các chất ngại đã tiêu trừ rồi, nhưng không diệt được cái vô ngại, trong đó chỉ còn thức A lại gia và còn nguyên vẹn phần nửa vi tế của thức Mạt na; một loài như thế, gọi là Thức xứ.</p><p>Sắc và không đã hết, cái tâm biết là hết ấy cũng diệt trừ, mười phương vẳng lặng, không còn gì nữa; một loài như thế, gọi là Vô Sở Hữu xứ.</p><p>Thức tánh vốn không lay động, lại dùng cái diệt mà diệt đến cùng; trong chỗ không thể hết, phát minh nhận cho là hết, nên hình như còn, mà không phải còn, hình như hết, mà không phải hết; một loài như thế, gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ.</p><p>Bọn nầy xét cùng cái không, nhưng không tột lý không; nếu từ thánh đạo cõi trời Bất Hoàn mà xét cùng, thì một loài như thế, gọi là Bất hồi tâm độn A la hán. Nếu từ cõi trời vô tưởng và ngoại đạo mà xét cùng cái không, không biết trở về, mê lầm không nghe Chánh pháp, thì sẽ vào trong luân hồi.</p><p>A Nan, trên các cõi trời đó, mỗi mỗi đều là những phàm phu hưởng sự báo đáp của nghiệp quả và khi sự báo đáp ấy hết rồi, thì trở vào trong luân hồi. Thiên vương các cõi kia, thường là Bồ tát, dùng Tam ma địa mà lần lượt tiến lên, hồi hướng về đường tu hành đạo Phật.</p><p>A Nan, những cõi trời tứ không đó, thân tâm diệt hết, định tánh hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả; từ đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc Giới.</p><p>Bọn đó, đều do không rõ Diệu giác minh tâm, chứa nhóm cái vọng, mà giả dối phát sanh ra ba cõi, giả dối theo bảy loài trong đó, mà chìm đắm và cá thể thụ sanh cũng theo từng loài.</p><p>Lại nữa, A Nan, trong ba cõi ấy, còn có bốn giống A tu la.</p><p>Nếu từ loài quỷ, do sức bảo hộ Chánh pháp, được thần thông vào hư không, thì giống A tu la này, từ trứng sanh ra, thuộc về loài quỷ.</p><p>Nếu từ cõi trời, đức kém phải sa đọa, chỗ ở gần với mặt trời, mặt trăng, thì giống A tu la đó, từ thai sanh ra, thuộc về loài người.</p><p>Có chúa A tu la, nắm giữ thế giới, sức mạnh đến chỗ không phải sợ ai, có thể tranh quyền với Phạm vương, Đế Thích và Tứ Thiên vương; giống A tu la này, nhân biến hóa mà có, thuộc về loài trời.</p><p>A Nan, riêng có một số A tu la thấp kém, sanh trong lòng biển lớn, lặn trong thủy huyệt, ban ngày đi chơi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; giống A tu la này, nhân thấp khí sanh ra, thuộc về loài súc sanh.</p><p>A Nan, xét rõ bảy loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người và thần tiên, trời và A tu la như thế, đều là những tướng hữu vi tối tăm, giả dối tưởng tượng thụ sanh, giả dối tưởng tượng theo nghiệp; đối với tâm tánh Diệu viên minh, bản lai không năng tác, sở tác, thì đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không dính dáng; chỉ một cái hư vọng, chứ không có cỗi gối manh mối gì.</p><p>A Nan, những chúng sanh đó, không nhận được tâm tánh bản lai, chịu cái luân hồi như thế trong vô lượng kiếp, mà không chứng được chân tánh thanh tịnh, đó đều do chúng thuận theo những sát, đạo, dâm, hoặc ngược lại ba cái đó, thì lại sanh ra không sát, không đạo, không dâm; có, thì gọi là loài quỷ, không, thì gọi là loài trời; có và không thay nhau, phát khởi ra tánh luân hồi.</p><p>Nếu khéo tu tập phát huy phép Tam ma địa, thì trong bản tánh thường diệu, thường tịch, cả hai cái có, cái không đều không và cái không có, không không cũng diệt, còn không có gì là bất sát, bất đạo, bất dâm, làm sao lại còn thuận theo được những việc sát, đạo, dâm.</p><p>A Nan, không đoạn được ba nghiệp, thì mỗi mỗi chúng sanh đều có phần riêng, nhân những cái riêng ấy, mà quả báo đồng phận chung của các cái riêng, không phải là không chỗ nhất định; đó là do vọng kiến của tự mình phát sanh ra; hư vọng phát sanh vốn không có nhân, không thể tìm xét nguồn gốc được.</p><p>Ông khuyên người tu hành, muốn được đạo Bồ đề, cốt yếu phải trừ tam hoặc; tam hoặc không hết, thì dầu được thần thông, cũng đều là những công dụng hữu vi của thế gian; tập tập mê lầm đã không diệt, thì lạc vào đường ma; tập khí mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập tập mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập khí mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập tập mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma.</p><p>Nói như thế ấy, tức là lời nói chân chính; nếu nói khác thế, tức là lời nói của Ma vương.</p><p>Khi bấy giờ, đức Như Lai gần chấm dứt thời thuyết pháp, ở nơi sư tử tọa, vin ghế thất bảo, xoay về Tử Kim sơn, trở lại dựa nơi ghế, bảo khắp đại chúng và ông A Nan rằng:</p><p>Bọn ông là hàng Duyên giác, Thanh văn Hữu học, ngày nay, đã hồi tâm hướng về vô thượng diệu giác đạo Đại Bồ đề, và tôi cũng đã chỉ dạy phép tu chân chính; nhưng các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm trong lúc tu chỉ, tu quán.</p><p>Nếu cảnh ma hiện ra, ông không biết được, thì sẽ tu tâm không đúng và mắc vào tà kiến; hoặc bị ma Ngũ ấm của ông, hoặc bị Thiên ma, hoặc mắc quỷ thần, hoặc gặp lỵ mỵ, mà trong tâm không rõ, nhận giặc làm con.</p><p>Lại nữa, có khi được một ít đã cho là đủ, như Vô Văn Tỳ kheo được Tứ Thiền, nói ma là chứng bậc thánh; đến khi quả báo chư thiên hết rồi, suy tướng hiện ra, thì phỉ báng quả A la hán còn phải thụ sanh, nên đọa vào ngục A Tỳ.</p><p>Các ông hãy nghe kĩ, nay tôi sẽ nói rõ cho các ông.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 9&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, tất cả những người tu tâm trong thế gian, không nhờ Thiền na, thì không có trí huệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nào giữ được cái thân không làm việc dâm dục, trong lúc đi, lúc ngồi, đều không nghĩ nhớ, lòng ái nhiễm không sanh, không còn ở trong Dục Giới, thì bản thân liền được làm Phạm lữ; một loài như thế, gọi là Phạm Chúng thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tập quán ngũ dục đã trừ rồi, tâm ly dục hiện ra, vui vẻ thuận theo các luật nghi, thì người đó liền có thể thực hành những Phạm đức; một loài như thế, gọi là Phạm Phụ thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, uy nghi không thiếu, cấm giới trong sạch, lại có thêm trí sáng, thì người đó liền được thống lĩnh Phạm chúng, làm Đại Phạm vương; một loài như thế, gọi là Đại Phạm thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, ba loài tốt đó, tất cả khổ não không bức bách được; tuy không phải chân chính tu phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc của Dục Giới không lay động được, nên gọi là Sơ Thiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, thứ nữa, các hàng Phạm Thiên khi thống lĩnh phạm chúng, lại tu tập Phạm hạnh được viên mãn, làm cho tâm đứng lặng không lay động, và do sự đứng lặng ấy, sanh ra sáng suốt; một loài như thế, gọi là Thiểu Quang thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hào quang sáng suốt thêm nhiều, chói sáng không cùng, ánh vào thập phương thế giới đều thành trong sáng như ngọc lưu ly; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Quang thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nắm giữ hào quang viên mãn, tạo thành giáo thể, phát ra sự giáo hóa thanh tịnh, ứng dụng không cùng; một loài như thế, gọi là Quang Âm thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, ba loài tốt ấy, tất cả lo buồn không bức bách được; tuy không phải chân chính tu hành phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm thanh tịnh, những lầm lạc thô động đã dẹp xuống, nên gọi là Nhị Thiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, những loài trời như thế, khi dùng hào quang viên mãn làm việc giáo hóa, do sự giáo hóa càng rõ lẽ nhiệm mầu, phát ra hạnh tinh tấn, thông với cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Thiểu Tịnh thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cảnh thanh tịnh hiện tiền, dẫn phát không có bờ bến, thân tâm được khinh an, thành cái vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Vô Lượng Tịnh thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế giới và thân tâm, tất cả hoàn toàn thanh tịnh, đức thanh tịnh được thành tựu, cảnh giới thù thắng hiện tiền, dồn về vui yên lặng; một loài như thế, gọi là Biến Tịnh thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, ba loài tốt đó, đầy đủ công hạnh đại tùy thuận, thân tâm yên lặng, được cái vui vô lượng; tuy không phải chân chính được phép Tam ma địa của đạo Phật, nhưng trong tâm yên ẩn, hoan hỷ được đầy đủ, nên gọi là Tam Thiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, lại nữa, những loài trời đó, thân tâm không bị bức bách, nguyên nhân của khổ đã hết, lại xét cái vui không phải thường trụ, lâu rồi cũng phải tiêu tan, nên cả hai tâm khổ và vui, đồng thời đều phóng xả; những tướng thô nặng đã diệt, thì phúc thanh tịnh sanh ra; một loài như thế, gọi là Phúc Sanh thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm phóng xả được viên mãn, sự nhận hiểu cao xa càng thanh tịnh; trong cái phúc không gì trở ngại đó, được sự tùy thuận nhiệm mầu cùng tột vị lai; một loài như vậy, gọi là Phúc Ái thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, từ cõi trời đó, có hai đường rẽ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu dùng cái tâm sáng suốt thanh tịnh vô lượng trước kia, mà tu chứng an trụ nơi phúc đức viên mãn sáng suốt, thì thân mệnh cùng tột, thân tâm đều diệt hết, ý nghĩ bặt mất, trải qua năm trăm kiếp; song, người ấy đã lấy cái sanh diệt làm nhân, thì không thể phát minh tánh không sanh diệt, nên nửa kiếp đầu thì diệt, nửa kiếp sau lại sanh; một loài như thế, gọi là Vô Tưởng thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, bốn loài tốt ấy, tất cả những cảnh khổ vui trong thế gian không lay động được; tuy không phải là chỗ bất động chân thật của đạo vô vi; song, nơi cái tâm hữu sở đắc, công dụng đã thuần thục, nên gọi là Tứ Thiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, trong đó, lại có năm bậc Bất Hoàn thiên, các vị này đã diệt hết tập khí chín phẩm tư hoặc trong cõi dưới rồi, khổ vui không còn, bên dưới không có chỗ ở, nên an lập chỗ ở nơi chúng đồng phận của tâm phóng xả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, khổ vui cả hai đều diệt, không còn tâm niệm ưa ghét; một loài như thế, gọi là Vô Phiền thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự tại phóng xả, không còn năng xả, sở xả; một loài như thế, gọi là Vô Nhiệt thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo thấy thế giới mười phương thảy đều đứng lặng, không còn tất cả những cấu nhiễm trầm trọng của trần cảnh; một loài như thế, gọi là Thiện Kiến thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tri kiến thanh tịnh hiện tiền, sử dụng được không ngăn ngại; một loài như thế, gọi là Thiện Hiện thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán sát rốt ráo các cực vi, cùng tột tánh của sắc pháp, vào tánh không bờ bến; một loài như thế, gọi là Sắc Cứu Kính thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, những bậc Bất Hoàn thiên đó, chỉ riêng bốn vị Thiên vương Tứ Thiền được có kính nghe, nhưng không thể thấy biết; cũng như hiện nay, có các thánh đạo trường nơi rừng sâu đồng rộng thế gian, đều là những nơi trụ trì của các vị A la hán, nhưng những người thô thiển thế gian không thể thấy được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, mười tám loài trời đó, tâm thường ở trong định, không dính dáng với trần cảnh, song chưa hết cái lụy của hình hài; từ đó trở về, gọi là Sắc Giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, A Nan, từ chỗ cao nhất của Sắc Giới, lại có hai đường rẽ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nơi tâm phóng xả, phát minh được trí huệ, trí huệ sáng suốt viên thông, thì ra khỏi cõi trần, thành vị A la hán, vào Bồ tát thừa; một loài như thế, gọi là Hồi tâm Đại A la hán.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nơi tâm phóng xả, khi thành tựu được sự phóng xả rồi, lại cảm thấy cái thân làm ngăn ngại và tiêu cái ngăn ngại ấy vào hư không, thì một loài như thế, gọi là Không xứ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chất ngại đã tiêu trừ rồi, nhưng không diệt được cái vô ngại, trong đó chỉ còn thức A lại gia và còn nguyên vẹn phần nửa vi tế của thức Mạt na; một loài như thế, gọi là Thức xứ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc và không đã hết, cái tâm biết là hết ấy cũng diệt trừ, mười phương vẳng lặng, không còn gì nữa; một loài như thế, gọi là Vô Sở Hữu xứ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thức tánh vốn không lay động, lại dùng cái diệt mà diệt đến cùng; trong chỗ không thể hết, phát minh nhận cho là hết, nên hình như còn, mà không phải còn, hình như hết, mà không phải hết; một loài như thế, gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng xứ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bọn nầy xét cùng cái không, nhưng không tột lý không; nếu từ thánh đạo cõi trời Bất Hoàn mà xét cùng, thì một loài như thế, gọi là Bất hồi tâm độn A la hán. Nếu từ cõi trời vô tưởng và ngoại đạo mà xét cùng cái không, không biết trở về, mê lầm không nghe Chánh pháp, thì sẽ vào trong luân hồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, trên các cõi trời đó, mỗi mỗi đều là những phàm phu hưởng sự báo đáp của nghiệp quả và khi sự báo đáp ấy hết rồi, thì trở vào trong luân hồi. Thiên vương các cõi kia, thường là Bồ tát, dùng Tam ma địa mà lần lượt tiến lên, hồi hướng về đường tu hành đạo Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, những cõi trời tứ không đó, thân tâm diệt hết, định tánh hiện tiền, không có sắc pháp của nghiệp quả; từ đó đến cuối cùng, gọi là Vô Sắc Giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bọn đó, đều do không rõ Diệu giác minh tâm, chứa nhóm cái vọng, mà giả dối phát sanh ra ba cõi, giả dối theo bảy loài trong đó, mà chìm đắm và cá thể thụ sanh cũng theo từng loài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, A Nan, trong ba cõi ấy, còn có bốn giống A tu la.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu từ loài quỷ, do sức bảo hộ Chánh pháp, được thần thông vào hư không, thì giống A tu la này, từ trứng sanh ra, thuộc về loài quỷ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu từ cõi trời, đức kém phải sa đọa, chỗ ở gần với mặt trời, mặt trăng, thì giống A tu la đó, từ thai sanh ra, thuộc về loài người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có chúa A tu la, nắm giữ thế giới, sức mạnh đến chỗ không phải sợ ai, có thể tranh quyền với Phạm vương, Đế Thích và Tứ Thiên vương; giống A tu la này, nhân biến hóa mà có, thuộc về loài trời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, riêng có một số A tu la thấp kém, sanh trong lòng biển lớn, lặn trong thủy huyệt, ban ngày đi chơi trên hư không, tối về ngủ dưới nước; giống A tu la này, nhân thấp khí sanh ra, thuộc về loài súc sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, xét rõ bảy loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người và thần tiên, trời và A tu la như thế, đều là những tướng hữu vi tối tăm, giả dối tưởng tượng thụ sanh, giả dối tưởng tượng theo nghiệp; đối với tâm tánh Diệu viên minh, bản lai không năng tác, sở tác, thì đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không dính dáng; chỉ một cái hư vọng, chứ không có cỗi gối manh mối gì.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, những chúng sanh đó, không nhận được tâm tánh bản lai, chịu cái luân hồi như thế trong vô lượng kiếp, mà không chứng được chân tánh thanh tịnh, đó đều do chúng thuận theo những sát, đạo, dâm, hoặc ngược lại ba cái đó, thì lại sanh ra không sát, không đạo, không dâm; có, thì gọi là loài quỷ, không, thì gọi là loài trời; có và không thay nhau, phát khởi ra tánh luân hồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu khéo tu tập phát huy phép Tam ma địa, thì trong bản tánh thường diệu, thường tịch, cả hai cái có, cái không đều không và cái không có, không không cũng diệt, còn không có gì là bất sát, bất đạo, bất dâm, làm sao lại còn thuận theo được những việc sát, đạo, dâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, không đoạn được ba nghiệp, thì mỗi mỗi chúng sanh đều có phần riêng, nhân những cái riêng ấy, mà quả báo đồng phận chung của các cái riêng, không phải là không chỗ nhất định; đó là do vọng kiến của tự mình phát sanh ra; hư vọng phát sanh vốn không có nhân, không thể tìm xét nguồn gốc được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông khuyên người tu hành, muốn được đạo Bồ đề, cốt yếu phải trừ tam hoặc; tam hoặc không hết, thì dầu được thần thông, cũng đều là những công dụng hữu vi của thế gian; tập tập mê lầm đã không diệt, thì lạc vào đường ma; tập khí mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập tập mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập khí mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma; tập tập mê lầm không diệt, thì lạc vào đường ma.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói như thế ấy, tức là lời nói chân chính; nếu nói khác thế, tức là lời nói của Ma vương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi bấy giờ, đức Như Lai gần chấm dứt thời thuyết pháp, ở nơi sư tử tọa, vin ghế thất bảo, xoay về Tử Kim sơn, trở lại dựa nơi ghế, bảo khắp đại chúng và ông A Nan rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bọn ông là hàng Duyên giác, Thanh văn Hữu học, ngày nay, đã hồi tâm hướng về vô thượng diệu giác đạo Đại Bồ đề, và tôi cũng đã chỉ dạy phép tu chân chính; nhưng các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm trong lúc tu chỉ, tu quán.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cảnh ma hiện ra, ông không biết được, thì sẽ tu tâm không đúng và mắc vào tà kiến; hoặc bị ma Ngũ ấm của ông, hoặc bị Thiên ma, hoặc mắc quỷ thần, hoặc gặp lỵ mỵ, mà trong tâm không rõ, nhận giặc làm con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, có khi được một ít đã cho là đủ, như Vô Văn Tỳ kheo được Tứ Thiền, nói ma là chứng bậc thánh; đến khi quả báo chư thiên hết rồi, suy tướng hiện ra, thì phỉ báng quả A la hán còn phải thụ sanh, nên đọa vào ngục A Tỳ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông hãy nghe kĩ, nay tôi sẽ nói rõ cho các ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="12481097" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/76fb81dc-7377-4d25-b43d-76950ef297a5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">694a1114-cb3c-42a3-aa7d-ebe84033edb7</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/76fb81dc-7377-4d25-b43d-76950ef297a5</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:45:29 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/2d274ff2-1877-484c-90ea-aee809864bb5_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>780</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 8</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 8</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 8</p><p>Quyển Tám</p><p>Đoạn IV: Kết luận về bản nhân của điên đảo để khởi mối cho ý nghĩa tiệm thứ tu tập</p><p>“A-nan, như thế, chúng-sinh trong mỗi mỗi loài, cũng đều đủ hết 12 thứ điên-đảo. Cũng như dụi con mắt, thì hoa-đốm đủ thứ phát-sinh ra, chân-tâm diệu-viên trong-sạch sáng-suốt mà điên-đảo, thì đầy-đủ những tư-tưởng càn-loạn giả-dối như vậy. Nay, ông tu-chứng Tam-ma-đề của Phật, thì đối với những tư-tưởng càn-loạn, làm nguyên-nhân cỗi-gốc của các điên-đảo, nên lập ra ba tiệm-thứ mới trừ-diệt được, cũng như, trong khí-mãnh trong-sạch, trừ-bỏ mật-độc, dùng nước nóng và các thứ chất tro, chất thơm rửa-sạch khí-mãnh rồi, về sau, mới đựng nước cam-lộ.”</p><p>Đoạn V: Khai thị ba tiệm thứ</p><p>“Thế nào gọi là ba tiệm-thứ? Một là tu-tập, trừ các trợ-nhân; hai là chân-tu, nạo-sạch chính-tính; ba là tăng-tiến, trái lại hiện-nghiệp.</p><p>Thế nào là trợ-nhân? A-nan, 12 loài chúng-sinh đó trong thế-giới, không thể tự-toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà an-trụ, nghĩa là, nương theo đoạn-thực, xúc-thực, tư-thực và thức-thực; vậy nên Phật bảo tất-cả chúng-sinh, đều nương với cái ăn mà an-trụ. A-nan, tất-cả chúng-sinh, ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết; vậy, các chúng-sinh, cầu Tam-ma-đề, nên dứt-bỏ năm thứ rau-cay trong thế-gian. Năm thứ rau-cay nầy, ăn chín, thì phát lòng-dâm, ăn sống, thì thêm lòng-giận. Những người ăn rau-cay đó, trên thế-giới, dù biết giảng nói 12 bộ kinh, thiên-tiên 10 phương, hiềm vì nó hôi-nhớp, đều tránh xa cả; các loài ngạ-quỷ, vân vân… nhân trong lúc người kia ăn rau-cay, liếm môi-mép của người đó; người ấy thường ở với quỷ một chổ, phúc-đức ngày càng tiêu, hằng-lâu không được lợi-ích. Người ăn rau-cay đó, tu phép Tam-ma-đề, Bồ-tát, Thiên-tiên, Thiện-thần thập phương không đến giữ-gìn ủng-hộ; Đại-lực Ma-vương được phương-tiện đó, hiện ra thân Phật, đến thuyết-pháp cho người kia, chê-phá cấm-giới, tán-thán dâm-dục, nóng-giận, si-mê; đến khi mệnh-chung, tự mình người ấy làm quyến-thuộc của Ma-vương; khi hưởng-thụ phúc ma hết rồi, thì đọa vào ngục Vô-gián. A-nan, người tu đạo Bồ-đề, phải đoạn-hẳn năm thứ rau-cay; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ nhất.</p><p>Thế nào là chính-tính? A-nan, chúng-sinh như vậy vào Tam-ma-đề, cốt-yếu trước hết, phải nghiêm-chỉnh giữ giới thanh-tịnh, đoạn-hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ-ăn trong-sạch nấu chín, không ăn đồ sống. A-nan, người tu-hành đó, nếu không đoạn dâm-dục và sát-sinh, mà ra khỏi được ba cõi, thì thật không có lẽ như vậy. Nên xem sự dâm-dục như là rắn-độc, như thấy giặc-thù. Trước hết, phải giữ tứ-khí, bát-khí của giới-luật Thanh-văn, giữ thân miệng không lay-động; về sau, hành-trì luật-nghi thanh-tịnh Bồ-tát, giữ-gìn cái tâm không móng lên. Cấm-giới đã thành-tựu, thì ở trong thế-gian, hẳn không còn những nghiệp sinh nhau, giết nhau; đã không làm việc trộm-cướp, thì không còn mắc nợ nhau và cũng khỏi phải trả các nợ kiếp trước trong thế-gian. Con người thanh-tịnh ấy, tu phép Tam-ma-đề, chính nơi nhục-thân cha mẹ sinh ra, không cần thiên-nhãn, tự-nhiên thấy được thập phương thế-giới, thấy Phật nghe Pháp, chính mình vâng-lĩnh thánh-chỉ của Phật, được phép đại-thần-thông, đi khắp thập phương thế-giới; túc-mạng được thanh-tịnh, không còn những điều khó-khăn nguy-hiểm; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ hai.</p><p>Thế nào là hiện-nghiệp? A-nan, người giữ-gìn cấm-giới thanh-tịnh như vậy, tâm không tham-dâm, không hay giong-ruổi theo lục-trần ở ngoài; nhân không giong-ruổi, tự xoay lại về tính bản-nguyên; trần đã không duyên, thì căn không ngẫu-hợp với đâu nữa; trở-ngược dòng về chỗ toàn-nhất, sáu cái dụng không hiện-hành, cõi-nước mười phương sáng-suốt thanh-tịnh, ví-như ngọc lưu-ly, có mặt trăng sáng treo ở trong ấy. Thân tâm khoan-khoái, tính diệu-viên bình-đẳng, được đại-an-ẩn, tất-cả mật-viên tịnh-diệu các đức Như-lai đều hiện trong đó; người ấy liền được Vô-sinh-pháp-nhẫn. Từ đó, lần-lượt tu-tập, tùy cái hạnh phát ra mà an-tập các thánh-vị, đó gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ ba.”</p><p>Đoạn VI: An lập các thánh vị</p><p>Chi I. – Càn-tuệ-địa.</p><p>“A-nan, thiện-nam tử ấy, lòng dục-ái khô-cạn, căn và cảnh không ngẫu-hợp, thân-tàn hiện-tiền, không còn tiếp-tục sinh nữa, nắm cái tâm rỗng-sáng, thuần là trí-tuệ; tính trí-tuệ sáng-suốt cùng khắp, soi-thấu thập-phương thế-giới; chỉ có cái tuệ khô-khan ấy, nên gọi là Càn-tuệ-địa, tập-khí ngũ-dục mới khô-cạn, chưa tiếp-giáp với dòng nước Pháp của các đức Như-lai.”</p><p>Chi 2. – Thập-tín.</p><p>Tức lấy cái tâm ấy, chính giữa chính giữa lần vào, tính viên-diệu mở-mang, từ chỗ chân-diệu-viên lại phát ra chân-diệu. Tính diệu-tín thường-trụ, tất-cả vọng-tưởng diệt hết không còn, trung-đạo được thuần-chân, gọi là Tín-tâm-trụ.</p><p>Chân-tín tỏ-rõ, tất-cả đều viên-thông, ba thứ ấm, giới, nhập không thể làm ngăn-ngại; như thế, cho đến trong vô-số kiếp quá-khứ, vị-lai, tất-cả tập-khí xả-thân, thụ-thân đều hiện ra trước mặt, thiện-nam-tử ấy đều có thể nhớ-nghĩ được, không quên mất gì; gọi là Niệm-tâm-trụ.</p><p>Tính diệu-viên thuần-chân, chân-tinh phát-hóa ra, các tập-khí vô-thủy đều thông vào một tính tinh-minh, chỉ dùng tinh-minh ấy, tiến đến chỗ chân-tịnh; gọi là Tinh-tiến-tâm.</p><p>Tâm-tinh hiện-tiền, thuần-dùng trí-tuệ; gọi là Tuệ-tâm-trụ.</p><p>Nắm-giữ trí-tuệ sáng-suốt, lặng-đứng cùng khắp, tính tịch-diệu thường đứng-lại; gọi là Định-tâm-trụ.</p><p>Định-quang phát-minh, đi sâu vào tính sáng-suốt, chỉ có tới, chứ không lui; gọi là Bất-thối-tâm.</p><p>Tâm an-nhiên đi tới, giữ-gìn không mất, giao-tiếp với khí-phần thập-phương Như-lai; gọi là Hộ-pháp-tâm.</p><p>Giữ-gìn tính giác-minh, có thể dùng diệu-lực xoay từ-quang của Phật về nơi mình và hướng về Phật mà an-trụ, cũng như hai gương sáng đối nhau, trong đó các bóng nhiệm-mầu lớp-lớp lồng nhau; gọi là Hồi-hướng-tâm.</p><p>Tự-tâm thầm xoay Phật-quang trở về, được vô-thượng diệu-tịnh thường-trụ của Phật, an-trụ nơi vô-vi, được không bỏ mất; gọi là Giới-tâm-trụ.</p><p>Tự-tại an-trụ nơi giới, có thể đi khắp mười phương, tùy nguyện mà đi; gọi là Nguyện-tâm-trụ.</p><p>Chi 3. – Thập-trụ</p><p>A-nan, thiện-nam-tử đã thành Phật-tử rồi, đầy-đủ diệu-đức vô-lượng của Như-lai và tùy-thuận mười phương; gọi là Hoan-hỉ-hạnh.</p><p>Khéo biết làm lợi-ích cho tất-cả chúng-sinh; gọi là Nhiêu-ích-hạnh.</p><p>Tự-giác và giác-tha, được không chống trái; gọi là Vô-sân-hận-hạnh.</p><p>Theo các chủng-loại mà hiện ra sắc-thân cùng-tột vị-lai, ba đời đều bình-đẳng, mười phương được thông-suốt; gọi là Vô-hận-hạnh.</p><p>Tất-cả đều hợp về đồng, nơi các thứ pháp-môn, được không sai-lầm; gọi là Ly-si-loạn-hạnh.</p><p>Rồi ở trong đồng, hiện ra các cái khác, nơi mỗi mỗi tướng khác, mỗi mỗi đều thấy là đồng; gọi là Thiện-hiện-hạnh.</p><p>Như vậy, cho đến mười phương hư-không, đầy khắp vi-trần và trong mỗi mỗi vi-trẩn hiện ra thập phương thế-giới; hiện vi-trần, hiện thế-giới, không ngăn-ngại nhau; gọi là Vô-trước-hạnh.</p><p>Các thứ hiện-tiền, đều là Đệ-nhất-ba-la-mật-đa; gọi là Tôn-trọng-hạnh.</p><p>Viên-dung như vậy, có thể thành-tựu quy-tắc của chư Phật mười phương; gọi là Thiện-pháp-hạnh.</p><p>Mỗi mỗi đều là Nhất-chân-vô-vi Thanh-tịnh-vô-lậu, vì tính bản-nhiên là như vậy; gọi là Chân-thật-hạnh.</p><p>Chi 4. – Thập-hạnh</p><p>A-nan, thiện-nam-tử đó đầy-đủ thần-thông, thành-tựu Phật-sự rồi, toàn là một tinh-chân thuần-khiết, xa các lỗi-lầm, chính khi hóa-độ chúng-sinh mà diệt tướng năng-độ, sở-độ, xoay tâm vô-vi hướng về đường Niết-bàn; gọi là Cứu-hộ nhất-thiết chúng-sinh, Ly-chúng-sinh-tướng hồi-hướng.</p><p>Xoay cái tính nghe của mình, nhập vào dòng tịch-diệt của Như-lai; gọi là Tùy-thuận Như-lai phương-tiện hồi-hướng.</p><p>Quán-sát trí-tuệ, soi-khắp pháp-giới, cảm-ứng khắp nơi, không giới-hạn; gọi là Tận-chân-hồi-hướng.</p><p>Thế-gian và xuất-thế-gian đều được thanh-tịnh; gọi là Thanh-tịnh nhất-thiết chúng-sinh hồi-hướng.</p><p>Tùy theo các loài chúng-sinh, hiện ra các hình, các loại, mà không rời một niệm; gọi là Tùy-chủng-loại hồi-hướng.</p><p>Quán-sát tất-cả chúng-sinh đều có tính đức Như-lai; gọi là Chân-căn tùy-thuận hồi-hướng.</p><p>Thế-gian, phi-thế-gian, đều như huyễn-mộng, không sinh không diệt; gọi là Vô-vi hồi-hướng.</p><p>Biết các pháp đều như huyễn, như hóa, mà khéo hay phân-biệt, không rời huyễn-hóa; gọi là Tùy-khéo-phân-biệt hồi-hướng.</p><p>Viên-mãn thành-tựu, các pháp chân-thực; gọi là Năng-sinh chân-thật hồi-hướng.</p><p>Tùy theo sở-nguyện của chúng-sinh, mà hiện ra các cảnh-giới; gọi là Tùy-nguyện vô-ngại hồi-hướng.</p><p>Chi 5. – Thập-hồi-hướng</p><p>A-nan, thiện-nam-tử đó, đầy-đủ các đức, xoay cái tính nghe, nhập vào dòng tịch-diệt của Như-lai, mà không rời thế-gian, cứu-độ chúng-sinh, đó gọi là Thập-hồi-hướng.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 8&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyển Tám&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn IV: Kết luận về bản nhân của điên đảo để khởi mối cho ý nghĩa tiệm thứ tu tập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“A-nan, như thế, chúng-sinh trong mỗi mỗi loài, cũng đều đủ hết 12 thứ điên-đảo. Cũng như dụi con mắt, thì hoa-đốm đủ thứ phát-sinh ra, chân-tâm diệu-viên trong-sạch sáng-suốt mà điên-đảo, thì đầy-đủ những tư-tưởng càn-loạn giả-dối như vậy. Nay, ông tu-chứng Tam-ma-đề của Phật, thì đối với những tư-tưởng càn-loạn, làm nguyên-nhân cỗi-gốc của các điên-đảo, nên lập ra ba tiệm-thứ mới trừ-diệt được, cũng như, trong khí-mãnh trong-sạch, trừ-bỏ mật-độc, dùng nước nóng và các thứ chất tro, chất thơm rửa-sạch khí-mãnh rồi, về sau, mới đựng nước cam-lộ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn V: Khai thị ba tiệm thứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thế nào gọi là ba tiệm-thứ? Một là tu-tập, trừ các trợ-nhân; hai là chân-tu, nạo-sạch chính-tính; ba là tăng-tiến, trái lại hiện-nghiệp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là trợ-nhân? A-nan, 12 loài chúng-sinh đó trong thế-giới, không thể tự-toàn, phải nương theo bốn cách ăn mà an-trụ, nghĩa là, nương theo đoạn-thực, xúc-thực, tư-thực và thức-thực; vậy nên Phật bảo tất-cả chúng-sinh, đều nương với cái ăn mà an-trụ. A-nan, tất-cả chúng-sinh, ăn thức lành thì sống, ăn thức độc thì chết; vậy, các chúng-sinh, cầu Tam-ma-đề, nên dứt-bỏ năm thứ rau-cay trong thế-gian. Năm thứ rau-cay nầy, ăn chín, thì phát lòng-dâm, ăn sống, thì thêm lòng-giận. Những người ăn rau-cay đó, trên thế-giới, dù biết giảng nói 12 bộ kinh, thiên-tiên 10 phương, hiềm vì nó hôi-nhớp, đều tránh xa cả; các loài ngạ-quỷ, vân vân… nhân trong lúc người kia ăn rau-cay, liếm môi-mép của người đó; người ấy thường ở với quỷ một chổ, phúc-đức ngày càng tiêu, hằng-lâu không được lợi-ích. Người ăn rau-cay đó, tu phép Tam-ma-đề, Bồ-tát, Thiên-tiên, Thiện-thần thập phương không đến giữ-gìn ủng-hộ; Đại-lực Ma-vương được phương-tiện đó, hiện ra thân Phật, đến thuyết-pháp cho người kia, chê-phá cấm-giới, tán-thán dâm-dục, nóng-giận, si-mê; đến khi mệnh-chung, tự mình người ấy làm quyến-thuộc của Ma-vương; khi hưởng-thụ phúc ma hết rồi, thì đọa vào ngục Vô-gián. A-nan, người tu đạo Bồ-đề, phải đoạn-hẳn năm thứ rau-cay; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ nhất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là chính-tính? A-nan, chúng-sinh như vậy vào Tam-ma-đề, cốt-yếu trước hết, phải nghiêm-chỉnh giữ giới thanh-tịnh, đoạn-hẳn lòng dâm, không dùng rượu thịt, chỉ ăn đồ-ăn trong-sạch nấu chín, không ăn đồ sống. A-nan, người tu-hành đó, nếu không đoạn dâm-dục và sát-sinh, mà ra khỏi được ba cõi, thì thật không có lẽ như vậy. Nên xem sự dâm-dục như là rắn-độc, như thấy giặc-thù. Trước hết, phải giữ tứ-khí, bát-khí của giới-luật Thanh-văn, giữ thân miệng không lay-động; về sau, hành-trì luật-nghi thanh-tịnh Bồ-tát, giữ-gìn cái tâm không móng lên. Cấm-giới đã thành-tựu, thì ở trong thế-gian, hẳn không còn những nghiệp sinh nhau, giết nhau; đã không làm việc trộm-cướp, thì không còn mắc nợ nhau và cũng khỏi phải trả các nợ kiếp trước trong thế-gian. Con người thanh-tịnh ấy, tu phép Tam-ma-đề, chính nơi nhục-thân cha mẹ sinh ra, không cần thiên-nhãn, tự-nhiên thấy được thập phương thế-giới, thấy Phật nghe Pháp, chính mình vâng-lĩnh thánh-chỉ của Phật, được phép đại-thần-thông, đi khắp thập phương thế-giới; túc-mạng được thanh-tịnh, không còn những điều khó-khăn nguy-hiểm; ấy gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ hai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là hiện-nghiệp? A-nan, người giữ-gìn cấm-giới thanh-tịnh như vậy, tâm không tham-dâm, không hay giong-ruổi theo lục-trần ở ngoài; nhân không giong-ruổi, tự xoay lại về tính bản-nguyên; trần đã không duyên, thì căn không ngẫu-hợp với đâu nữa; trở-ngược dòng về chỗ toàn-nhất, sáu cái dụng không hiện-hành, cõi-nước mười phương sáng-suốt thanh-tịnh, ví-như ngọc lưu-ly, có mặt trăng sáng treo ở trong ấy. Thân tâm khoan-khoái, tính diệu-viên bình-đẳng, được đại-an-ẩn, tất-cả mật-viên tịnh-diệu các đức Như-lai đều hiện trong đó; người ấy liền được Vô-sinh-pháp-nhẫn. Từ đó, lần-lượt tu-tập, tùy cái hạnh phát ra mà an-tập các thánh-vị, đó gọi là tiệm-thứ tu-hành tăng-tiến thứ ba.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn VI: An lập các thánh vị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chi I. – Càn-tuệ-địa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“A-nan, thiện-nam tử ấy, lòng dục-ái khô-cạn, căn và cảnh không ngẫu-hợp, thân-tàn hiện-tiền, không còn tiếp-tục sinh nữa, nắm cái tâm rỗng-sáng, thuần là trí-tuệ; tính trí-tuệ sáng-suốt cùng khắp, soi-thấu thập-phương thế-giới; chỉ có cái tuệ khô-khan ấy, nên gọi là Càn-tuệ-địa, tập-khí ngũ-dục mới khô-cạn, chưa tiếp-giáp với dòng nước Pháp của các đức Như-lai.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chi 2. – Thập-tín.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức lấy cái tâm ấy, chính giữa chính giữa lần vào, tính viên-diệu mở-mang, từ chỗ chân-diệu-viên lại phát ra chân-diệu. Tính diệu-tín thường-trụ, tất-cả vọng-tưởng diệt hết không còn, trung-đạo được thuần-chân, gọi là Tín-tâm-trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chân-tín tỏ-rõ, tất-cả đều viên-thông, ba thứ ấm, giới, nhập không thể làm ngăn-ngại; như thế, cho đến trong vô-số kiếp quá-khứ, vị-lai, tất-cả tập-khí xả-thân, thụ-thân đều hiện ra trước mặt, thiện-nam-tử ấy đều có thể nhớ-nghĩ được, không quên mất gì; gọi là Niệm-tâm-trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tính diệu-viên thuần-chân, chân-tinh phát-hóa ra, các tập-khí vô-thủy đều thông vào một tính tinh-minh, chỉ dùng tinh-minh ấy, tiến đến chỗ chân-tịnh; gọi là Tinh-tiến-tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm-tinh hiện-tiền, thuần-dùng trí-tuệ; gọi là Tuệ-tâm-trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nắm-giữ trí-tuệ sáng-suốt, lặng-đứng cùng khắp, tính tịch-diệu thường đứng-lại; gọi là Định-tâm-trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Định-quang phát-minh, đi sâu vào tính sáng-suốt, chỉ có tới, chứ không lui; gọi là Bất-thối-tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm an-nhiên đi tới, giữ-gìn không mất, giao-tiếp với khí-phần thập-phương Như-lai; gọi là Hộ-pháp-tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ-gìn tính giác-minh, có thể dùng diệu-lực xoay từ-quang của Phật về nơi mình và hướng về Phật mà an-trụ, cũng như hai gương sáng đối nhau, trong đó các bóng nhiệm-mầu lớp-lớp lồng nhau; gọi là Hồi-hướng-tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự-tâm thầm xoay Phật-quang trở về, được vô-thượng diệu-tịnh thường-trụ của Phật, an-trụ nơi vô-vi, được không bỏ mất; gọi là Giới-tâm-trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự-tại an-trụ nơi giới, có thể đi khắp mười phương, tùy nguyện mà đi; gọi là Nguyện-tâm-trụ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chi 3. – Thập-trụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, thiện-nam-tử đã thành Phật-tử rồi, đầy-đủ diệu-đức vô-lượng của Như-lai và tùy-thuận mười phương; gọi là Hoan-hỉ-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo biết làm lợi-ích cho tất-cả chúng-sinh; gọi là Nhiêu-ích-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự-giác và giác-tha, được không chống trái; gọi là Vô-sân-hận-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo các chủng-loại mà hiện ra sắc-thân cùng-tột vị-lai, ba đời đều bình-đẳng, mười phương được thông-suốt; gọi là Vô-hận-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất-cả đều hợp về đồng, nơi các thứ pháp-môn, được không sai-lầm; gọi là Ly-si-loạn-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi ở trong đồng, hiện ra các cái khác, nơi mỗi mỗi tướng khác, mỗi mỗi đều thấy là đồng; gọi là Thiện-hiện-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy, cho đến mười phương hư-không, đầy khắp vi-trần và trong mỗi mỗi vi-trẩn hiện ra thập phương thế-giới; hiện vi-trần, hiện thế-giới, không ngăn-ngại nhau; gọi là Vô-trước-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ hiện-tiền, đều là Đệ-nhất-ba-la-mật-đa; gọi là Tôn-trọng-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Viên-dung như vậy, có thể thành-tựu quy-tắc của chư Phật mười phương; gọi là Thiện-pháp-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi mỗi đều là Nhất-chân-vô-vi Thanh-tịnh-vô-lậu, vì tính bản-nhiên là như vậy; gọi là Chân-thật-hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chi 4. – Thập-hạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, thiện-nam-tử đó đầy-đủ thần-thông, thành-tựu Phật-sự rồi, toàn là một tinh-chân thuần-khiết, xa các lỗi-lầm, chính khi hóa-độ chúng-sinh mà diệt tướng năng-độ, sở-độ, xoay tâm vô-vi hướng về đường Niết-bàn; gọi là Cứu-hộ nhất-thiết chúng-sinh, Ly-chúng-sinh-tướng hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xoay cái tính nghe của mình, nhập vào dòng tịch-diệt của Như-lai; gọi là Tùy-thuận Như-lai phương-tiện hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán-sát trí-tuệ, soi-khắp pháp-giới, cảm-ứng khắp nơi, không giới-hạn; gọi là Tận-chân-hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế-gian và xuất-thế-gian đều được thanh-tịnh; gọi là Thanh-tịnh nhất-thiết chúng-sinh hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy theo các loài chúng-sinh, hiện ra các hình, các loại, mà không rời một niệm; gọi là Tùy-chủng-loại hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán-sát tất-cả chúng-sinh đều có tính đức Như-lai; gọi là Chân-căn tùy-thuận hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế-gian, phi-thế-gian, đều như huyễn-mộng, không sinh không diệt; gọi là Vô-vi hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết các pháp đều như huyễn, như hóa, mà khéo hay phân-biệt, không rời huyễn-hóa; gọi là Tùy-khéo-phân-biệt hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Viên-mãn thành-tựu, các pháp chân-thực; gọi là Năng-sinh chân-thật hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy theo sở-nguyện của chúng-sinh, mà hiện ra các cảnh-giới; gọi là Tùy-nguyện vô-ngại hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chi 5. – Thập-hồi-hướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-nan, thiện-nam-tử đó, đầy-đủ các đức, xoay cái tính nghe, nhập vào dòng tịch-diệt của Như-lai, mà không rời thế-gian, cứu-độ chúng-sinh, đó gọi là Thập-hồi-hướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="10543438" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/7890d813-e94e-48da-93a2-150abef383c7/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">8ba06482-969b-4c6d-958d-c33dacbf817e</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/7890d813-e94e-48da-93a2-150abef383c7</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:44:04 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/9ae5b282-1d21-4dcc-8706-350c033ea60a_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>658</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 7</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 7</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 7</p><p>Nguyên Nhân Điên Đảo Của Mười Hai Loại Chúng Sanh</p><p>A Nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn, chúng con từ vô thủy đến nay, do vọng tưởng điên đảo, nên bị luân hồi. Nay được Phật dạy, ngộ được chân tâm, nhưng chưa rõ nguyên nhân điên đảo của chúng sinh. Cúi xin Phật từ bi, chỉ dạy.</p><p>Phật bảo A Nan: Chúng sinh từ vô thủy, do ái dục mà sinh vọng tưởng, từ vọng tưởng sinh nghiệp, từ nghiệp sinh khổ. Nguyên nhân điên đảo là do tham ái, sân hận, si mê, che lấp chân tánh. Nay ta nói về mười hai loại chúng sinh: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng.</p><p>Mỗi loại do nghiệp duyên khác nhau, nhưng đều từ vô minh mà khởi. Như thai sinh do ái dục giao hợp, noãn sinh do tưởng niệm, v.v. Tất cả đều điên đảo, nhận giả làm chân, nên chịu luân hồi.</p><p>Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm</p><p>Phật dạy: Để phá điên đảo, hàng ma chướng, ta truyền thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Chú này là vua các chú, từ đảnh Phật phóng quang, bao gồm tất cả công đức.</p><p>(Phật tuyên chú: Nam mô tát đát tha, tô già đa da, a la ha đế, tam miệu tam bồ đà da... [toàn văn chú dài, tụng để hộ trì, phá ma]).</p><p>Phật dạy: Trì chú này phải giữ giới thanh tịnh, tụng 108 biến, kiết giới, lập đạo tràng. Tụng chú, được chư Phật hộ niệm, ma quỷ tránh xa, chứng tam ma đề.</p><p>Dâm Giới Và Địa Ngục Dâm Nghiệp</p><p>Phật dạy: Giới dâm là căn bản, nếu phạm dâm, rơi vào địa ngục. Có các địa ngục: thiết sàng, đồng trụ, do dâm nghiệp mà chịu khổ. Nam nữ phạm dâm, sau chết rơi vào địa ngục, chịu lửa thiêu, kim châm, v.v.</p><p>Phật kể các ví dụ: Như chim uyên ương do dâm mà sinh, nhưng dâm chỉ là vọng, không thật. Chúng sinh phải đoạn dâm, giữ thân khẩu ý thanh tịnh.</p><p>Lợi Ích Trì Chú</p><p>Trì chú này, như mang áo giáp kim cang, ma không thể hại. Tăng trí huệ, tiêu nghiệp chướng, cứu khổ địa ngục, chứng bồ đề.</p><p>A Nan và đại chúng nghe xong, vui mừng đảnh lễ, phát nguyện trì tụng.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 7&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguyên Nhân Điên Đảo Của Mười Hai Loại Chúng Sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan bạch Phật: Bạch Thế Tôn, chúng con từ vô thủy đến nay, do vọng tưởng điên đảo, nên bị luân hồi. Nay được Phật dạy, ngộ được chân tâm, nhưng chưa rõ nguyên nhân điên đảo của chúng sinh. Cúi xin Phật từ bi, chỉ dạy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo A Nan: Chúng sinh từ vô thủy, do ái dục mà sinh vọng tưởng, từ vọng tưởng sinh nghiệp, từ nghiệp sinh khổ. Nguyên nhân điên đảo là do tham ái, sân hận, si mê, che lấp chân tánh. Nay ta nói về mười hai loại chúng sinh: thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi loại do nghiệp duyên khác nhau, nhưng đều từ vô minh mà khởi. Như thai sinh do ái dục giao hợp, noãn sinh do tưởng niệm, v.v. Tất cả đều điên đảo, nhận giả làm chân, nên chịu luân hồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: Để phá điên đảo, hàng ma chướng, ta truyền thần chú Thủ Lăng Nghiêm. Chú này là vua các chú, từ đảnh Phật phóng quang, bao gồm tất cả công đức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;(Phật tuyên chú: Nam mô tát đát tha, tô già đa da, a la ha đế, tam miệu tam bồ đà da... [toàn văn chú dài, tụng để hộ trì, phá ma]).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: Trì chú này phải giữ giới thanh tịnh, tụng 108 biến, kiết giới, lập đạo tràng. Tụng chú, được chư Phật hộ niệm, ma quỷ tránh xa, chứng tam ma đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dâm Giới Và Địa Ngục Dâm Nghiệp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: Giới dâm là căn bản, nếu phạm dâm, rơi vào địa ngục. Có các địa ngục: thiết sàng, đồng trụ, do dâm nghiệp mà chịu khổ. Nam nữ phạm dâm, sau chết rơi vào địa ngục, chịu lửa thiêu, kim châm, v.v.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật kể các ví dụ: Như chim uyên ương do dâm mà sinh, nhưng dâm chỉ là vọng, không thật. Chúng sinh phải đoạn dâm, giữ thân khẩu ý thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi Ích Trì Chú&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì chú này, như mang áo giáp kim cang, ma không thể hại. Tăng trí huệ, tiêu nghiệp chướng, cứu khổ địa ngục, chứng bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan và đại chúng nghe xong, vui mừng đảnh lễ, phát nguyện trì tụng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="3161443" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/d3194bd6-86bb-4e66-9682-ac34cabd8b9c/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">dc949d81-8bf0-44a9-a558-c47a0e7cc3ae</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/d3194bd6-86bb-4e66-9682-ac34cabd8b9c</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:42:48 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/7a65315b-9788-438a-9264-15969a9c7ca2_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>197</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 6</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 6</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 6</p><p>Ngũ Ấm Ma</p><p>Phật dạy A Nan về 50 loại ấm ma, tức các cảnh giới ma quỷ khởi lên khi tu thiền định, do phá ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Đây là các vọng tưởng, ma chướng từ nội tâm hoặc ngoại ma, cần nhận biết để hàng phục, tránh lạc vào tà đạo.</p><p><br></p><p>Sắc Ấm Ma (10 loại): Khi phá sắc ấm, hành giả thấy thân mình như lưu ly, trong suốt, hoặc thấy thập phương biến thành lưu ly, thấy các cảnh giới lạ lùng như thấy Phật, thấy chúng sinh nội tạng, hoặc tự cho mình đã chứng thánh, nhưng thật là ma chướng. Nếu chấp vào, sẽ rơi vào tà kiến, như cho rằng không nhân quả, hoặc mê tín dị đoan.</p><p>Thọ Ấm Ma (10 loại): Phá thọ ấm, hành giả cảm thọ các trạng thái an lạc, bi ai, hoặc thấy thân mình bay bổng, thấy thập phương chúng sinh đồng loại, hoặc tự cho mình có thần thông, nhưng là ma nhập, dẫn đến tham dục, sân hận, kiêu mạn.</p><p>Tưởng Ấm Ma (10 loại): Phá tưởng ấm, hành giả tưởng tượng các cảnh giới như thấy thập phương biến đổi, thấy Phật thuyết pháp, hoặc tự cho mình ngộ đạo, nhưng là vọng tưởng, dẫn đến cuồng si, tà thuyết.</p><p>Hành Ấm Ma (10 loại): Phá hành ấm, hành giả thấy dòng chảy nghiệp báo, thấy quá khứ vị lai, hoặc tự cho mình là Phật, nhưng là ma biến hiện, dẫn đến phá giới, hại người.</p><p>Thức Ấm Ma (10 loại): Phá thức ấm, hành giả vào cảnh giới không không, vô biên, hoặc tự cho mình chứng niết bàn, nhưng là ma tinh nhập, dẫn đến đoạn diệt kiến, phủ nhận nhân quả.</p><p><br></p><p>Phật dạy: &#34;Các ma này đều từ tâm sinh, nếu nhận biết là vọng, không chấp trước, thì tự tiêu diệt. Tu hành phải giữ giới luật nghiêm mật, tâm ngay thẳng, mới tránh ma chướng.&#34;</p><p>Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối</p><p>Phật dạy bốn lời răn dạy thanh tịnh:</p><p><br></p><p>Đoạn dâm: Không dâm dục, thân khẩu ý thanh tịnh.</p><p>Đoạn vọng: Không nói dối, giữ chân thật.</p><p>Đoạn sát: Không sát sinh, từ bi với chúng sinh.</p><p>Đoạn đạo: Không trộm cắp, bố thí.</p><p><br></p><p>Đây là nền tảng để phá ma, chứng đạo.</p><p>Công Đức Trì Kinh</p><p>Đọc tụng kinh này, được chư Phật hộ niệm, ma quỷ không dám hại, tăng trí huệ, chứng bồ đề.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 6&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngũ Ấm Ma&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy A Nan về 50 loại ấm ma, tức các cảnh giới ma quỷ khởi lên khi tu thiền định, do phá ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Đây là các vọng tưởng, ma chướng từ nội tâm hoặc ngoại ma, cần nhận biết để hàng phục, tránh lạc vào tà đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc Ấm Ma (10 loại): Khi phá sắc ấm, hành giả thấy thân mình như lưu ly, trong suốt, hoặc thấy thập phương biến thành lưu ly, thấy các cảnh giới lạ lùng như thấy Phật, thấy chúng sinh nội tạng, hoặc tự cho mình đã chứng thánh, nhưng thật là ma chướng. Nếu chấp vào, sẽ rơi vào tà kiến, như cho rằng không nhân quả, hoặc mê tín dị đoan.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ Ấm Ma (10 loại): Phá thọ ấm, hành giả cảm thọ các trạng thái an lạc, bi ai, hoặc thấy thân mình bay bổng, thấy thập phương chúng sinh đồng loại, hoặc tự cho mình có thần thông, nhưng là ma nhập, dẫn đến tham dục, sân hận, kiêu mạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tưởng Ấm Ma (10 loại): Phá tưởng ấm, hành giả tưởng tượng các cảnh giới như thấy thập phương biến đổi, thấy Phật thuyết pháp, hoặc tự cho mình ngộ đạo, nhưng là vọng tưởng, dẫn đến cuồng si, tà thuyết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành Ấm Ma (10 loại): Phá hành ấm, hành giả thấy dòng chảy nghiệp báo, thấy quá khứ vị lai, hoặc tự cho mình là Phật, nhưng là ma biến hiện, dẫn đến phá giới, hại người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thức Ấm Ma (10 loại): Phá thức ấm, hành giả vào cảnh giới không không, vô biên, hoặc tự cho mình chứng niết bàn, nhưng là ma tinh nhập, dẫn đến đoạn diệt kiến, phủ nhận nhân quả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: &amp;#34;Các ma này đều từ tâm sinh, nếu nhận biết là vọng, không chấp trước, thì tự tiêu diệt. Tu hành phải giữ giới luật nghiêm mật, tâm ngay thẳng, mới tránh ma chướng.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy bốn lời răn dạy thanh tịnh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn dâm: Không dâm dục, thân khẩu ý thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn vọng: Không nói dối, giữ chân thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn sát: Không sát sinh, từ bi với chúng sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn đạo: Không trộm cắp, bố thí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây là nền tảng để phá ma, chứng đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công Đức Trì Kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng kinh này, được chư Phật hộ niệm, ma quỷ không dám hại, tăng trí huệ, chứng bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="3176071" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/2946fe9a-b279-4158-99cc-2b80340901a1/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">8c1a9207-d21b-4fbc-b8bd-9e2cba700daa</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/2946fe9a-b279-4158-99cc-2b80340901a1</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:40:40 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/4778ef30-15e9-4cd3-baf8-2f29f527d3cc_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>198</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 5</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 5</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 5</p><p>Mở Sáu Nút</p><p>A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, tuy Như Lai đã dạy về hai nghĩa quyết định. Nay xem trong thế gian những người muốn cởi nút, nếu không biết đầu nút ở đâu, thì con tin chắc là những người ấy không cởi được.</p><p>Bạch Thế Tôn, con và hàng Thanh Văn hữu học trong hội chúng này cũng như vậy. Từ vô thủy đến nay, chúng con cùng sanh cùng diệt với các thứ vô minh, tuy được căn lành nghe được Phật pháp như vậy. Tuy được gọi là hàng xuất gia, nhưng như người bị sốt rét cách nhật.</p><p>Xin nguyện Đức đại từ thương xót kẻ chìm đắm. Nay ngay nơi thân tâm, xin chỉ cho chúng con thế nào là nút buộc, do đâu mà mở ra. Cũng khiến cho chúng sinh khổ não trong đời vị lai thoát khỏi luân hồi, không rơi vào ba cõi.</p><p>Nói lời ấy rồi, A Nan và đại chúng gieo năm vóc sát đất, khóc lóc thành khẩn, ngưỡng trông được nghe lời khai thị vô thượng của Như Lai.</p><p>Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn thương xót A Nan và hàng hữu học trong chúng hội, lại cũng vì chúng sinh trong đời vị lai, tạo cái nhân xuất thế để làm đạo nhãn cho đời sau.</p><p>Đức Phật dùng tay sáng ngời vàng rực như diêm phù đàn xoa đảnh đầu A Nan. Liền khi ấy, các cõi Phật trong 10 phương thế giới đều rung động. Các Đức Như Lai nhiều như số vi trần trong các cõi nước đều có hào quang báu từ đảnh đầu phóng ra.</p><p>Hào quang ấy đồng thời từ các cõi nước kia, đến rừng Kỳ Đà, rót xuống đảnh Đức Như Lai, Tất cả đại chúng ở đây đều được điều chưa từng có.</p><p>Bấy giờ A Nan và đại chúng đều nghe các Đức Như Lai trong 10 phương nhiều như vi trần đồng thanh bảo A Nan rằng.</p><p>Hay thay, A Nan! Ông muốn biết câu sinh vô minh là đầu mối khiến ông phải luân hồi sinh tử, thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải là cái gì khác.</p><p>Ông cũng muốn biết Vô thượng bồ đề khiến ông mau được giải thoát an lạc vắng lặng diệu thường, đó cũng chính là sáu căn của ông, chẳng phải gì khác.</p><p>A Nan tuy nghe được pháp âm như vậy, nhưng tâm chưa rõ. Cúi đầu bạch Phật: “Tại sao chính sáu căn khiến cho con phải chịu luân hồi sinh tử, và cũng chính sáu căn khiến cho con được an lạc diệu thường chứ không là cái gì khác?”</p><p>Đức Phật bảo A Nan: “Căn và trần đồng một gốc, trói và mở chẳng phải là hai. Bản tánh của thức là hư vọng, như hoa đốm giữa hư không.”</p><p>A Nan, nhân nơi trần mà phát ra cái biết (của căn), nhân cái căn mà có tướng (của trần). Tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tánh, như bó lau gác vào nhau.</p><p>Vậy nay chính ông ngay nơi tri kiến, lập nên tướng tri kiến, đó tức là cội gốc vô minh. Chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì đó là vô lậu chân tịnh niết bàn. Làm sao trong ấy còn có vật gì khác? Bây giờ Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này, nên nói kệ rằng:</p><p>Trên phương diện chân tánh, các pháp hữu vi là không.</p><p>Vì duyên sanh, nên chúng như huyễn.</p><p>Vì các pháp là vô vi, nên chẳng sinh chẳng diệt.</p><p>Chúng chẳng có thực, như hoa đốm giữa hư không.</p><p>Nói vọng để hiển bày cái chơn.</p><p>Vọng chơn đều là vọng.</p><p>(Chân lý) Vốn chẳng phải chơn lẫn chẳng phải phi chơn.</p><p>Làm sao có năng kiến, sở kiến?</p><p>(Thức) ở giữa (căn và trần), không có thật tánh.</p><p>Thế nên chúng giống như bó lau gác vào nhau.</p><p>Buộc và mở cùng một sở nhân.</p><p>Thánh và phàm chẳng phải hai đường.</p><p>Ông hãy xem tánh chất giữa các cọng lau giao nhau,</p><p>Đó chẳng phải là không và có.</p><p>Mê mờ nghĩa ấy, tức vô minh.</p><p>Hiểu ra nghĩa đó, tức là giải thoát.</p><p>Mở nút phải theo thứ lớp.</p><p>Khi sáu nút đã được mở, thì một cũng không còn.</p><p>Nơi các căn, hãy chọn tánh viên thông.</p><p>Được vào dòng, tức thành chánh giác.</p><p>Thức A-đà-na rất vi tế.</p><p>Tập khí chảy như dòng nước xiết.</p><p>Tự tâm chấp lấy tự tâm.</p><p>Vốn không phải huyễn, lại thành pháp huyễn.</p><p>Chẳng thủ trước, thì chẳng có gì là phi huyễn.</p><p>Phi huyễn còn chẳng sinh,</p><p>Pháp huyễn làm sao lập?</p><p>Đó gọi là Diệu Liên Hoa</p><p>Kim Cang Vương Bảo Giác</p><p>Như huyễn tam-ma-đề,</p><p>Đạn chỉ siêu vô học.</p><p>Pháp A-tỳ-đạt-ma nầy,</p><p>Chính là con đường duy nhất dẫn đến niết-bàn,</p><p>Mà các Đức Thế Tôn (Bạc-già-phạm) trong mười phương đồng tu tập.</p><p>Sáu Nút</p><p>A Nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật: “Con nay nghe Phật mở lòng vô giá đại bi dạy cho chúng con những lời pháp chân thật, thanh tịnh diệu thường. Nhưng tâm chúng con còn chưa được rõ mở từng nút theo thứ lớp, chưa rõ mở sáu nút thì một cũng không còn. Xin Đức Phật lại mở lòng từ bi, thương xót hội chúng này và những chúng sinh trong đời sau, mà ban bố cho pháp âm, để rửa sạch những cấu nhiễm sâu dày của chúng con.”</p><p>Liền khi ấy từ toà sư tử, Như Lai chỉnh y niết-bàn tăng, vén y tăng-già-lê, vịn vào bàn thất bảo, tay cầm lên chiếc khăn hoa kiếp-ba-la do chư thiên dâng cúng.</p><p>Đức Phật ở trước đại chúng, (từ chiếc khăn) cột thành một nút, đưa cho A Nan xem và Phật hỏi rằng: “Đây là cái gì?”</p><p>A Nan và đại chúng đồng bạch Phật rằng: “Đó gọi là nút thắt.”</p><p>Đức Phật cột nút khác và hỏi A Nan, “Đây là cái gì?”</p><p>A Nan và đại chúng lại đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”</p><p>Đức Phật tuần tự cột từng nút như vậy trên chiếc khăn hoa, tổng cộng thành sáu nút. Mỗi khi cột xong một nút, đều đưa lên hỏi A Nan rằng Đây là cái gì?”</p><p>A Nan và đại chúng cũng tuần tự đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”</p><p>Đức Phật bảo A Nan: “Khi Như Lai mới cột khăn lại thì ông gọi là nút, cái khăn hoa nầy, trước đây chỉ một cái, tại sao lần thứ hai, thứ ba, ông vẫn gọi là nút.”</p><p>A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, chiếc khăn hoa thêu quý báu nầy vốn chỉ một thể, song theo ý con, khi Như Lai cột một lần thì gọi là một nút, nếu cột 100 lần, thì thành 100 nút. Huống chi khăn nầy chỉ có sáu nút, không đến bảy, cũng không dừng ở năm. Sao Như Lai chỉ gọi cái đầu tiên là nút, mà cái thứ hai thứ ba thì không gọi là nút?”</p><p>Đức Phật bảo A Nan, “Cái khăn hoa báu nầy, ông biết nó vốn chỉ là một, khi Như Lai thắt sáu lần thì ông gọi là sáu nút. Ông quán sát kỹ, thấy thể của khăn nầy là đồng, do vì các nút mà thành ra khác.”</p><p>Ý ông nghĩ sao? Khi mới cột nút lần đầu thì gọi là nút thứ nhất, như thế cho đến nút thứ sáu. Nay Như Lai muốn gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất có được không?</p><p>A Nan: Bạch Thế Tôn. Không. Nếu còn sáu nút, thì cái gọi là thứ sáu, rốt cuộc chẳng phải là cái thứ nhất. Dù con có biện bạch hết đời, làm sao có thể lộn lạo tên gọi của sáu nút kia được?</p><p>Đức Phật dạy: “Đúng vậy, sáu nút không đồng nhau, Xét về căn gốc, vẫn do một cái khăn mà ra. Nhưng làm cho nó đảo lộn thứ tự thì rốt ráo không thể được.”</p><p>Sáu căn của ông cũng giống như vậy. Trong thể tánh tuyệt đối giống nhau, lại sinh ra cái tuyệt đối khác nhau.</p><p>Đức Phật bảo A Nan: ‘Ông chắc không muốn có sáu nút nầy, mà chỉ muốn thành một thể, việc ấy phải làm sao?’</p><p>A Nan thưa rằng: ‘Nếu còn những nút đó, thì thị phi sẽ nổi dậy, trong đó sẽ tự cho rằng nút nầy chẳng phải là nút kia, nút kia chẳng phải là nút nầy. Nhưng nay Như Lai giải trừ tất cả. Các nút đã không sinh ra thì không có bỉ thử. Đã không có một thì sáu làm sao thành? ’</p><p>Đức Phật bảo: ‘Nghĩa mở được sáu, một không còn cũng như vậy.’</p><p>Do từ vô thuỷ, tâm ông điên loạn. Tri kiến vọng phát mãi mãi không dừng, làm cho tri kiến sinh mệt nhọc. Như khi con mắt mỏi mệt thì thấy như có hoa đốm không có nguyên nhân gì, hỗn loạn khởi lên trong thể tánh sáng suốt rỗng lặng.</p><p>Tất cả các tướng trong thế gian, núi sông đất liền, sinh tử niết bàn, đều là tướng hoa đốm điên đảo, do bệnh mê lầm mà phát ra.</p><p>A Nan thưa: “Bệnh mê lầm nầy cũng giống như các nút thắt, làm sao để giải trừ?”</p><p>Đức Phật dùng tay cầm cái khăn có nút, kéo mối bên trái, hỏi A Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”</p><p>A Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”</p><p>Đức Phật dùng tay kéo riêng mối bên phải, rồi hỏi A Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”</p><p>A Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”</p><p>Đức Phật bảo A Nan: “Nay Như Lai dùng tay kéo mối bên phải rồi bên trái, rốt cuộc vẫn không cởi được. Vậy ông dùng phương tiện nào mà mở ra được?</p><p>A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài phải cởi từ chính giữa, các nút sẽ được mở ra.”</p><p>Đức Phật bảo A Nan: “Đúng vậy, đúng vậy. Nếu ông muốn mở nút, ông phải mở từ chính giữa.”</p><p>A Nan, Như Lai nói Phật pháp do nhân duyên sinh, chẳng phải là căn cứ vào những tướng hoà hiệp thô trọng của thế gian. Như Lai nhận ra các tướng thế gian và xuất thế gian, biết rõ bản nhân của chúng do nhân duyên gì mà phát sinh ra.</p><p>Như thế cho đến một giọt mưa ngoài hằng sa thế giới, (Như Lai) cũng đều biết số mục. Cũng như nay trước mắt ông, các thứ cây tùng thẳng, cây gai cong, chim hộc trắng, chim quạ đen, (Như Lai) đều biết nguyên do.</p><p>Vậy nên A Nan, tùy tâm ông lựa chọn trong sáu căn, nếu trừ được nút thắt trong căn ấy rồi, thì trần tướng tự diệt. Các vọng đã tiêu, đó chẳng phải chân thì là gì? A Nan, nay Như Lai hỏi ông: “Cái khăn hoa nầy hiện có sáu nút, nếu đồng thời cởi ra, thì có thể cùng lúc trừ hết được chăng?”</p><p>A Nan: “Bạch Thế Tôn. Không. Những nút nầy khi cột lại, vốn có thứ tự. Nay cũng phải theo thứ lớp mà mở. Sáu nút tuy đồng một thể, nhưng cột lại không đồng thời, thì khi mở nút, làm sao cùng một lúc mà mở hết được?”</p><p>Đức Phật dạy rằng, “Việc giải trừ các nút nơi sáu căn cũng như vậy. Khi các căn bắt đầu được mở, trước hết sẽ được nhân không. Đến khi tánh không viên mãn sáng suốt, thì thắng nghĩa sinh. Khi thắng nghĩa sinh rồi, thì các căn đều được giải thoát. Các căn đều được giải thoát rồi, thì thắng nghĩa cũng không còn. Thoát khỏi các trần, không còn đối đãi, thì gọi là bồ đề niết bàn.”</p><p>A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, tâm được khai ngộ, đồng tán thán là việc chưa từng có.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 5&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mở Sáu Nút&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan bạch Phật rằng: Bạch Thế Tôn, tuy Như Lai đã dạy về hai nghĩa quyết định. Nay xem trong thế gian những người muốn cởi nút, nếu không biết đầu nút ở đâu, thì con tin chắc là những người ấy không cởi được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn, con và hàng Thanh Văn hữu học trong hội chúng này cũng như vậy. Từ vô thủy đến nay, chúng con cùng sanh cùng diệt với các thứ vô minh, tuy được căn lành nghe được Phật pháp như vậy. Tuy được gọi là hàng xuất gia, nhưng như người bị sốt rét cách nhật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin nguyện Đức đại từ thương xót kẻ chìm đắm. Nay ngay nơi thân tâm, xin chỉ cho chúng con thế nào là nút buộc, do đâu mà mở ra. Cũng khiến cho chúng sinh khổ não trong đời vị lai thoát khỏi luân hồi, không rơi vào ba cõi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói lời ấy rồi, A Nan và đại chúng gieo năm vóc sát đất, khóc lóc thành khẩn, ngưỡng trông được nghe lời khai thị vô thượng của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn thương xót A Nan và hàng hữu học trong chúng hội, lại cũng vì chúng sinh trong đời vị lai, tạo cái nhân xuất thế để làm đạo nhãn cho đời sau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật dùng tay sáng ngời vàng rực như diêm phù đàn xoa đảnh đầu A Nan. Liền khi ấy, các cõi Phật trong 10 phương thế giới đều rung động. Các Đức Như Lai nhiều như số vi trần trong các cõi nước đều có hào quang báu từ đảnh đầu phóng ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hào quang ấy đồng thời từ các cõi nước kia, đến rừng Kỳ Đà, rót xuống đảnh Đức Như Lai, Tất cả đại chúng ở đây đều được điều chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ A Nan và đại chúng đều nghe các Đức Như Lai trong 10 phương nhiều như vi trần đồng thanh bảo A Nan rằng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thay, A Nan! Ông muốn biết câu sinh vô minh là đầu mối khiến ông phải luân hồi sinh tử, thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải là cái gì khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông cũng muốn biết Vô thượng bồ đề khiến ông mau được giải thoát an lạc vắng lặng diệu thường, đó cũng chính là sáu căn của ông, chẳng phải gì khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan tuy nghe được pháp âm như vậy, nhưng tâm chưa rõ. Cúi đầu bạch Phật: “Tại sao chính sáu căn khiến cho con phải chịu luân hồi sinh tử, và cũng chính sáu căn khiến cho con được an lạc diệu thường chứ không là cái gì khác?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo A Nan: “Căn và trần đồng một gốc, trói và mở chẳng phải là hai. Bản tánh của thức là hư vọng, như hoa đốm giữa hư không.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, nhân nơi trần mà phát ra cái biết (của căn), nhân cái căn mà có tướng (của trần). Tướng (phần sở kiến) và kiến (phần năng kiến) đều không có tự tánh, như bó lau gác vào nhau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy nay chính ông ngay nơi tri kiến, lập nên tướng tri kiến, đó tức là cội gốc vô minh. Chính nơi tri kiến, không có tướng tri kiến, thì đó là vô lậu chân tịnh niết bàn. Làm sao trong ấy còn có vật gì khác? Bây giờ Đức Thế Tôn muốn lập lại nghĩa này, nên nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trên phương diện chân tánh, các pháp hữu vi là không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì duyên sanh, nên chúng như huyễn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì các pháp là vô vi, nên chẳng sinh chẳng diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng chẳng có thực, như hoa đốm giữa hư không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói vọng để hiển bày cái chơn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vọng chơn đều là vọng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;(Chân lý) Vốn chẳng phải chơn lẫn chẳng phải phi chơn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm sao có năng kiến, sở kiến?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;(Thức) ở giữa (căn và trần), không có thật tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nên chúng giống như bó lau gác vào nhau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Buộc và mở cùng một sở nhân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh và phàm chẳng phải hai đường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông hãy xem tánh chất giữa các cọng lau giao nhau,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó chẳng phải là không và có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mê mờ nghĩa ấy, tức vô minh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiểu ra nghĩa đó, tức là giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mở nút phải theo thứ lớp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi sáu nút đã được mở, thì một cũng không còn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nơi các căn, hãy chọn tánh viên thông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được vào dòng, tức thành chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thức A-đà-na rất vi tế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tập khí chảy như dòng nước xiết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự tâm chấp lấy tự tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vốn không phải huyễn, lại thành pháp huyễn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng thủ trước, thì chẳng có gì là phi huyễn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phi huyễn còn chẳng sinh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp huyễn làm sao lập?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó gọi là Diệu Liên Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kim Cang Vương Bảo Giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như huyễn tam-ma-đề,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạn chỉ siêu vô học.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp A-tỳ-đạt-ma nầy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chính là con đường duy nhất dẫn đến niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà các Đức Thế Tôn (Bạc-già-phạm) trong mười phương đồng tu tập.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáu Nút&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan chắp tay đảnh lễ bạch Phật: “Con nay nghe Phật mở lòng vô giá đại bi dạy cho chúng con những lời pháp chân thật, thanh tịnh diệu thường. Nhưng tâm chúng con còn chưa được rõ mở từng nút theo thứ lớp, chưa rõ mở sáu nút thì một cũng không còn. Xin Đức Phật lại mở lòng từ bi, thương xót hội chúng này và những chúng sinh trong đời sau, mà ban bố cho pháp âm, để rửa sạch những cấu nhiễm sâu dày của chúng con.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền khi ấy từ toà sư tử, Như Lai chỉnh y niết-bàn tăng, vén y tăng-già-lê, vịn vào bàn thất bảo, tay cầm lên chiếc khăn hoa kiếp-ba-la do chư thiên dâng cúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật ở trước đại chúng, (từ chiếc khăn) cột thành một nút, đưa cho A Nan xem và Phật hỏi rằng: “Đây là cái gì?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan và đại chúng đồng bạch Phật rằng: “Đó gọi là nút thắt.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật cột nút khác và hỏi A Nan, “Đây là cái gì?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan và đại chúng lại đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật tuần tự cột từng nút như vậy trên chiếc khăn hoa, tổng cộng thành sáu nút. Mỗi khi cột xong một nút, đều đưa lên hỏi A Nan rằng Đây là cái gì?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan và đại chúng cũng tuần tự đồng bạch Phật rằng, “Đó gọi là nút thắt.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo A Nan: “Khi Như Lai mới cột khăn lại thì ông gọi là nút, cái khăn hoa nầy, trước đây chỉ một cái, tại sao lần thứ hai, thứ ba, ông vẫn gọi là nút.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, chiếc khăn hoa thêu quý báu nầy vốn chỉ một thể, song theo ý con, khi Như Lai cột một lần thì gọi là một nút, nếu cột 100 lần, thì thành 100 nút. Huống chi khăn nầy chỉ có sáu nút, không đến bảy, cũng không dừng ở năm. Sao Như Lai chỉ gọi cái đầu tiên là nút, mà cái thứ hai thứ ba thì không gọi là nút?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo A Nan, “Cái khăn hoa báu nầy, ông biết nó vốn chỉ là một, khi Như Lai thắt sáu lần thì ông gọi là sáu nút. Ông quán sát kỹ, thấy thể của khăn nầy là đồng, do vì các nút mà thành ra khác.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý ông nghĩ sao? Khi mới cột nút lần đầu thì gọi là nút thứ nhất, như thế cho đến nút thứ sáu. Nay Như Lai muốn gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất có được không?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan: Bạch Thế Tôn. Không. Nếu còn sáu nút, thì cái gọi là thứ sáu, rốt cuộc chẳng phải là cái thứ nhất. Dù con có biện bạch hết đời, làm sao có thể lộn lạo tên gọi của sáu nút kia được?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật dạy: “Đúng vậy, sáu nút không đồng nhau, Xét về căn gốc, vẫn do một cái khăn mà ra. Nhưng làm cho nó đảo lộn thứ tự thì rốt ráo không thể được.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáu căn của ông cũng giống như vậy. Trong thể tánh tuyệt đối giống nhau, lại sinh ra cái tuyệt đối khác nhau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo A Nan: ‘Ông chắc không muốn có sáu nút nầy, mà chỉ muốn thành một thể, việc ấy phải làm sao?’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan thưa rằng: ‘Nếu còn những nút đó, thì thị phi sẽ nổi dậy, trong đó sẽ tự cho rằng nút nầy chẳng phải là nút kia, nút kia chẳng phải là nút nầy. Nhưng nay Như Lai giải trừ tất cả. Các nút đã không sinh ra thì không có bỉ thử. Đã không có một thì sáu làm sao thành? ’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo: ‘Nghĩa mở được sáu, một không còn cũng như vậy.’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do từ vô thuỷ, tâm ông điên loạn. Tri kiến vọng phát mãi mãi không dừng, làm cho tri kiến sinh mệt nhọc. Như khi con mắt mỏi mệt thì thấy như có hoa đốm không có nguyên nhân gì, hỗn loạn khởi lên trong thể tánh sáng suốt rỗng lặng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả các tướng trong thế gian, núi sông đất liền, sinh tử niết bàn, đều là tướng hoa đốm điên đảo, do bệnh mê lầm mà phát ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan thưa: “Bệnh mê lầm nầy cũng giống như các nút thắt, làm sao để giải trừ?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật dùng tay cầm cái khăn có nút, kéo mối bên trái, hỏi A Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật dùng tay kéo riêng mối bên phải, rồi hỏi A Nan rằng, “Thế này có cởi được không?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan đáp: “Bạch Thế Tôn. Không.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo A Nan: “Nay Như Lai dùng tay kéo mối bên phải rồi bên trái, rốt cuộc vẫn không cởi được. Vậy ông dùng phương tiện nào mà mở ra được?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài phải cởi từ chính giữa, các nút sẽ được mở ra.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo A Nan: “Đúng vậy, đúng vậy. Nếu ông muốn mở nút, ông phải mở từ chính giữa.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, Như Lai nói Phật pháp do nhân duyên sinh, chẳng phải là căn cứ vào những tướng hoà hiệp thô trọng của thế gian. Như Lai nhận ra các tướng thế gian và xuất thế gian, biết rõ bản nhân của chúng do nhân duyên gì mà phát sinh ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như thế cho đến một giọt mưa ngoài hằng sa thế giới, (Như Lai) cũng đều biết số mục. Cũng như nay trước mắt ông, các thứ cây tùng thẳng, cây gai cong, chim hộc trắng, chim quạ đen, (Như Lai) đều biết nguyên do.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy nên A Nan, tùy tâm ông lựa chọn trong sáu căn, nếu trừ được nút thắt trong căn ấy rồi, thì trần tướng tự diệt. Các vọng đã tiêu, đó chẳng phải chân thì là gì? A Nan, nay Như Lai hỏi ông: “Cái khăn hoa nầy hiện có sáu nút, nếu đồng thời cởi ra, thì có thể cùng lúc trừ hết được chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan: “Bạch Thế Tôn. Không. Những nút nầy khi cột lại, vốn có thứ tự. Nay cũng phải theo thứ lớp mà mở. Sáu nút tuy đồng một thể, nhưng cột lại không đồng thời, thì khi mở nút, làm sao cùng một lúc mà mở hết được?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật dạy rằng, “Việc giải trừ các nút nơi sáu căn cũng như vậy. Khi các căn bắt đầu được mở, trước hết sẽ được nhân không. Đến khi tánh không viên mãn sáng suốt, thì thắng nghĩa sinh. Khi thắng nghĩa sinh rồi, thì các căn đều được giải thoát. Các căn đều được giải thoát rồi, thì thắng nghĩa cũng không còn. Thoát khỏi các trần, không còn đối đãi, thì gọi là bồ đề niết bàn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, tâm được khai ngộ, đồng tán thán là việc chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="11902223" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/dac05ff7-2f4a-40d1-9bec-9490efb924e1/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d6d4c851-a473-47e0-b5d4-da641c0d49a3</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/dac05ff7-2f4a-40d1-9bec-9490efb924e1</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:33:59 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/7c3cce74-d0f1-4125-b09d-2d29287f2cb9_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>743</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 4</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 4</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 4</p><p>Hai Mươi Lăm Vị Thánh Trình Bày Viên Thông</p><p>Khi ấy, A Nan và đại chúng, nhờ Phật dạy bảo, thân tâm an định, được vô sở đắc. Như người khách xa nhà, nhớ đường về, việc đi đã xong, không còn lạc lối. Cả đại chúng trong pháp hội, biết từ vô thủy, tự thành luân hồi, tâm sinh diệt, chưa từng ngộ chân tâm thường trụ. Nay được chân tâm, như người bệnh khỏi, vui mừng khôn xiết.</p><p>A Nan bạch Phật: &#34;Bạch Thế Tôn, nay con đã ngộ, sáu căn đều có thể cởi nút. Nhưng trong sáu căn, con chưa biết chọn căn nào để tu viên thông. Cúi xin Phật từ bi, chỉ dạy cho con và đại chúng, căn nào dễ vào, căn nào khó, để chúng con chọn lựa.&#34;</p><p>Phật bảo A Nan: &#34;Ông và đại chúng, nay đã ngộ sáu căn hư vọng, nay ta hỏi ông và 25 vị Thánh ở đây, ai đã chứng viên thông, trình bày phương pháp tu, để làm gương cho chúng sinh hậu thế.&#34;</p><p>Lúc ấy, 25 vị Thánh: các Bồ Tát và A La Hán, lần lượt đứng dậy, trình bày căn viên thông của mình.</p><p><br></p><p>Quan Thế Âm Bồ Tát: &#34;Con nhập lưu vong, phản văn văn tự tính, đắc tam ma đề, chứng bồ đề. Nhĩ căn viên thông hơn hết.&#34;</p><p>Đại Thế Chí Bồ Tát: &#34;Con quán sát thập phương, duy nhất niệm Phật, niệm lực nhiếp thủ, nhập tam ma địa.&#34;</p><p>Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: &#34;Con quán chiếu ngũ ấm giai không, chứng vô học quả.&#34;</p><p>Di Lặc Bồ Tát: &#34;Con tu kim cang vương tam muội, hàng phục ma oán.&#34;</p><p>Hư Không Tạng Bồ Tát: &#34;Con tu như huyễn tam ma đề, hóa hiện tự tại.&#34;</p><p>Dược Vương Bồ Tát: &#34;Con tu dược sư như lai bản nguyện, cứu khổ chúng sinh.&#34;</p><p>Dược Thượng Bồ Tát: &#34;Con đồng Dược Vương, tu hành bố thí.&#34;</p><p>Bạt Đà Bà La Bồ Tát: &#34;Con tu quán thủy đại, chứng vô sinh nhẫn.&#34;</p><p>Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử: &#34;Con tu hỏa đại, diệt trừ phiền não.&#34;</p><p>Hư Không Quang Bồ Tát: &#34;Con tu phong đại, động tịnh bất nhị.&#34;</p><p>Tu Di Đăng Vương Bồ Tát: &#34;Con tu địa đại, kiên cố bất động.&#34;</p><p>Nguyệt Quang Bồ Tát: &#34;Con tu thủy kính, chiếu soi thập phương.&#34;</p><p>Bảo Ấn Thủ Bồ Tát: &#34;Con tu hỏa quang tam muội.&#34;</p><p>Tỳ Sa Môn Thiên Vương: &#34;Con hộ trì quốc độ, hàng phục ác quỷ.&#34;</p><p>Na La Diên Thiên: &#34;Con tu lực lượng, hộ pháp bất thoái.&#34;</p><p>Điện Quang Thiên: &#34;Con tu lôi âm, chấn nhiếp ma quân.&#34;</p><p>Ô Sô Sa Ma Vương: &#34;Con tu từ bi, độ thoát chúng sinh.&#34;</p><p>Ma Hê Thủ La Thiên: &#34;Con tu trí huệ, chiếu phá vô minh.&#34;</p><p>Ưu Ba Ly: &#34;Con tu giới luật, thanh tịnh thân tâm.&#34;</p><p>Xá Lợi Phất: &#34;Con quán thân bất tịnh, chứng vô sinh pháp nhẫn.&#34;</p><p>Mục Kiền Liên: &#34;Con tu thần thông, du hành thập phương.&#34;</p><p>Phú Lâu Na: &#34;Con tu biện tài, thuyết pháp vô ngại.&#34;</p><p>Tu Bồ Đề: &#34;Con quán không tính, chứng vô vi quả.&#34;</p><p>Ưu Ba Ni Sa Đà: &#34;Con tu khổ hạnh, chứng A La Hán.&#34;</p><p>A Nan: &#34;Con đa văn đệ nhất, nhưng nay chọn nhĩ căn, phản văn tự tính, như Quan Âm.&#34;</p><p><br></p><p>Phật khen Quan Thế Âm Bồ Tát: &#34;Nhĩ căn viên thông, thích hợp chúng sinh cõi Ta Bà, dễ tu dễ chứng.&#34;</p><p>Phật dạy A Nan tu theo nhĩ căn, phản văn văn tự tính, nhập lưu vong, vong sở, sở tức, không sinh diệt.</p><p>Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm</p><p>Phật phóng quang, tuyên thần chú Thủ Lăng Nghiêm, bảo A Nan trì tụng để hộ trì, phá ma chướng.</p><p>Chú: Nam mô tát đát tha, tô già đa da, a la ha đế, tam miệu tam bồ đà da... (toàn văn chú dài, tụng để hộ thân).</p><p>Công Đức Trì Chú</p><p>Trì chú này, tiêu nghiệp chướng, tăng phước huệ, hộ mạng, trừ tai ương, chứng bồ đề.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 4&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai Mươi Lăm Vị Thánh Trình Bày Viên Thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy, A Nan và đại chúng, nhờ Phật dạy bảo, thân tâm an định, được vô sở đắc. Như người khách xa nhà, nhớ đường về, việc đi đã xong, không còn lạc lối. Cả đại chúng trong pháp hội, biết từ vô thủy, tự thành luân hồi, tâm sinh diệt, chưa từng ngộ chân tâm thường trụ. Nay được chân tâm, như người bệnh khỏi, vui mừng khôn xiết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan bạch Phật: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, nay con đã ngộ, sáu căn đều có thể cởi nút. Nhưng trong sáu căn, con chưa biết chọn căn nào để tu viên thông. Cúi xin Phật từ bi, chỉ dạy cho con và đại chúng, căn nào dễ vào, căn nào khó, để chúng con chọn lựa.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo A Nan: &amp;#34;Ông và đại chúng, nay đã ngộ sáu căn hư vọng, nay ta hỏi ông và 25 vị Thánh ở đây, ai đã chứng viên thông, trình bày phương pháp tu, để làm gương cho chúng sinh hậu thế.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy, 25 vị Thánh: các Bồ Tát và A La Hán, lần lượt đứng dậy, trình bày căn viên thông của mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quan Thế Âm Bồ Tát: &amp;#34;Con nhập lưu vong, phản văn văn tự tính, đắc tam ma đề, chứng bồ đề. Nhĩ căn viên thông hơn hết.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại Thế Chí Bồ Tát: &amp;#34;Con quán sát thập phương, duy nhất niệm Phật, niệm lực nhiếp thủ, nhập tam ma địa.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: &amp;#34;Con quán chiếu ngũ ấm giai không, chứng vô học quả.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc Bồ Tát: &amp;#34;Con tu kim cang vương tam muội, hàng phục ma oán.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hư Không Tạng Bồ Tát: &amp;#34;Con tu như huyễn tam ma đề, hóa hiện tự tại.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương Bồ Tát: &amp;#34;Con tu dược sư như lai bản nguyện, cứu khổ chúng sinh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Thượng Bồ Tát: &amp;#34;Con đồng Dược Vương, tu hành bố thí.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạt Đà Bà La Bồ Tát: &amp;#34;Con tu quán thủy đại, chứng vô sinh nhẫn.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử: &amp;#34;Con tu hỏa đại, diệt trừ phiền não.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hư Không Quang Bồ Tát: &amp;#34;Con tu phong đại, động tịnh bất nhị.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu Di Đăng Vương Bồ Tát: &amp;#34;Con tu địa đại, kiên cố bất động.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguyệt Quang Bồ Tát: &amp;#34;Con tu thủy kính, chiếu soi thập phương.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo Ấn Thủ Bồ Tát: &amp;#34;Con tu hỏa quang tam muội.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ Sa Môn Thiên Vương: &amp;#34;Con hộ trì quốc độ, hàng phục ác quỷ.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Na La Diên Thiên: &amp;#34;Con tu lực lượng, hộ pháp bất thoái.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Điện Quang Thiên: &amp;#34;Con tu lôi âm, chấn nhiếp ma quân.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ô Sô Sa Ma Vương: &amp;#34;Con tu từ bi, độ thoát chúng sinh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma Hê Thủ La Thiên: &amp;#34;Con tu trí huệ, chiếu phá vô minh.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ưu Ba Ly: &amp;#34;Con tu giới luật, thanh tịnh thân tâm.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất: &amp;#34;Con quán thân bất tịnh, chứng vô sinh pháp nhẫn.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mục Kiền Liên: &amp;#34;Con tu thần thông, du hành thập phương.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na: &amp;#34;Con tu biện tài, thuyết pháp vô ngại.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu Bồ Đề: &amp;#34;Con quán không tính, chứng vô vi quả.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ưu Ba Ni Sa Đà: &amp;#34;Con tu khổ hạnh, chứng A La Hán.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan: &amp;#34;Con đa văn đệ nhất, nhưng nay chọn nhĩ căn, phản văn tự tính, như Quan Âm.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật khen Quan Thế Âm Bồ Tát: &amp;#34;Nhĩ căn viên thông, thích hợp chúng sinh cõi Ta Bà, dễ tu dễ chứng.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy A Nan tu theo nhĩ căn, phản văn văn tự tính, nhập lưu vong, vong sở, sở tức, không sinh diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật phóng quang, tuyên thần chú Thủ Lăng Nghiêm, bảo A Nan trì tụng để hộ trì, phá ma chướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chú: Nam mô tát đát tha, tô già đa da, a la ha đế, tam miệu tam bồ đà da... (toàn văn chú dài, tụng để hộ thân).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công Đức Trì Chú&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì chú này, tiêu nghiệp chướng, tăng phước huệ, hộ mạng, trừ tai ương, chứng bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="4701622" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/82e99228-8327-4c9b-8349-b1d35dacd3cc/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">5d8c6545-2d9e-464f-b498-79de6896c32f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/82e99228-8327-4c9b-8349-b1d35dacd3cc</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:20:01 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>293</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 3</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 3</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 3</p><p>Lục Nhập</p><p><br></p><p>Nhãn Nhập</p><p><br></p><p>Lại nữa, A-Nan, tại sao lục nhập vốn là tánh chân như nhiệm mầu từ Như Lai tạng ?</p><p>A-Nan! Như mắt kia nhìn chăm chú lâu khiến cho mỏi mệt. Con mắt và tướng mỏi mệt đều là bồ-đề. Tướng nhìn sững quá lâu hoá ra mỏi mệt nhân nơi sáng tối, phát ra cái thấy từ trong hai thứ vọng trần kia, thu nạp trần cảnh, gọi là tánh thấy. Tánh thấy nầy rời hai trần cảnh sáng tối kia, hoàn toàn không có tự thể.</p><p>Như vậy, A-Nan! phải biết cái thấy đó, chẳng phải do sáng hay tối mà có, chẳng phải từ mắt mà ra, chẳng phải do hư không phát sinh.</p><p>Sao vậy? Nếu tánh thấy từ sáng đến, thì cái tối phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái tối nữa. Nếu tánh thấy từ tối mà đến, thì cái sáng phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái sáng nữa.</p><p>Nếu cái thấy từ mắt sinh ra, ắt hẳn không có sáng và tối. Thế nên cái thấy vốn không có tự tánh.</p><p>Nếu cái thấy từ hư không mà ra thì khi nhìn, trước tiên sẽ thấy trần cảnh, khi xoay trở về lại, phải thấy được con mắt. Còn như nếu tự hư không thấy được thì có quan hệ gì đến nhãn nhập của ông?</p><p>Thế nên phải biết, nhãn nhập là hư vọng. Vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p><br></p><p>Nhĩ Nhập</p><p><br></p><p>A-Nan, thí như có người lấy hai ngón tay bít chặt hai lỗ tai, do lỗ tai mỏi mệt nên nghe trong đầu phát ra âm thanh. Cả lỗ tai và cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề, do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.</p><p>Nhân nơi động tỉnh, phát ra cái nghe từ trong hai thứ vọng trần, thu nạp trần tướng nầy, gọi là tánh nghe. Tánh nghe nầy rời hai trần tướng động tĩnh kia hoàn toàn không có thật thể.</p><p>Như vậy, A-Nan! phải biết cái nghe đó, chẳng phải do động hay tĩnh mà có, chẳng phải từ lỗ tai mà ra, chẳng phải do hư không phát sinh.</p><p>Sao vậy? Nếu tánh nghe từ tĩnh mà đến thì cái động phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái động nữa. Nếu tánh nghe từ động mà đến, thì cái tĩnh phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn biết được cái tĩnh nữa.</p><p>Nếu từ tai sinh ra, ắt hẳn không có động và tĩnh. Thế nên tánh nghe vốn không có tự tánh.</p><p>Nếu từ hư không mà ra, đã có tánh nghe, tức không phải là hư không nữa; còn nếu hư không tự nghe được, thì quan hệ gì đến nhĩ nhập (nhĩ căn) của ông.</p><p>Thế nên phải biết nhĩ nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p><br></p><p>Tị Nhập</p><p><br></p><p>A-Nan, ví như có người bít chặt hai lỗ mũi, bít lâu thành ra mỏi mệt. Trong lỗ mũi nghe có cảm giác lạnh, do cảm giác như vậy mà phân biệt được là thông, là ngăn bít, là rỗng, là đặc; cho đến các mùi hương thơm khí thối, cả cái ngửi cùng tướng mỏi mệt đều là thể tánh bồ-đề, do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.</p><p>Nhân nơi hai thứ vọng trần thông và bít, phát ra cái ngửi ở trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là tánh ngửi. Tánh ngửi đó rời hai thứ vọng trần thông và bít kia, hoàn toàn không có tự thể.</p><p>Như vậy, A-Nan! phải biết cái ngửi đó, chẳng phải từ thông hay bít mà có, chẳng phải do lỗ mũi mà ra, chẳng phải từ hư không phát sinh.</p><p>Sao vậy? Nếu (tánh ngửi) từ cái thông mà đến, thì khi bít, (tánh ngửi) đã tự biến mất rồi, làm sao còn biết được bít. Nếu nhân nơi bít mà có (tánh ngửi), thì khi thông sẽ không còn tánh ngửi. Làm sao biết được các mùi thơm thối?</p><p>Nếu (tánh ngửi) từ lỗ mũi sinh ra, hẳn không còn có cái thông cái bít. Nên tánh ngửi như vậy vốn không có tự tánh.</p><p>Nếu (tánh ngửi) do hư không mà ra, thì cái ngửi đó phải xoay trở lại ngửi được lỗ mũi của ông. Lại nếu như hư không tự ngửi được, thì có dính dáng gì đến chỗ thu nạp (tị nhập) của ông?</p><p>Thế nên phải biết tị nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p><br></p><p>Thiệt Nhập</p><p><br></p><p>A-Nan, ví như có người dùng lưỡi liếm mép, liếm mãi sinh ra mỏi mệt. Nếu người đó có bệnh thì thấy có vị đắng, nếu người không bệnh thì thấy có chút vị ngọt. Do những cảm giác ngọt, đắng mà hiện bày tánh nếm, còn khi không động (không liếm mép) thì thường thấy tánh nhạt. Cả tánh nếm và cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.</p><p>Nhân hai thứ vọng trần nhạt và ngọt đắng, phát ra cái biết bên trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là tánh biết nếm. Tính biết nếm ấy rời hai thứ vọng trần ngọt đắng và nhạt kia, rốt ráo không có tự thể.</p><p>Thật vậy, A-Nan, ông nên biết rằng cái biết đắng, biết nhạt như vậy, không phải từ vị ngọt, vị đắng mà đến; không phải do tánh nhạt mà có; chẳng phải từ lưỡi sinh ra, cũng không phải từ hư không phát sinh.</p><p>Sao vậy? Nếu (tánh nếm) từ các vị ngọt đắng mà đến, thì khi nhạt, cái biết nếm đã biến mất rồi, làm sao biết được nhạt? Nếu từ cái nhạt mà ra thì khi ngọt, cái nếm đã biến mất rồi, làm sao biết được hai vị ngọt và đắng?</p><p>Nếu (tánh biết nếm) do lưỡi sinh ra, hẳn không có những vị ngọt đắng và nhạt, thì cái tánh biết nếm ấy vốn không có tự-tính.</p><p>Nếu (tánh biết nếm) do hư không mà ra, thì hư không tự nếm, chứ không phải lưỡi biết nếm. Lại nữa nếu hư không tự biết, thì có quan hệ gì đến chỗ thu nạp (thiệt nhập) của ông?</p><p>Vậy nên biết rằng thiệt nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p><br></p><p>Thân Nhập</p><p><br></p><p>A-Nan, ví như có người dùng bàn tay lạnh chạm bàn tay nóng. Nếu bên tay lạnh thấy lạnh nhiều hơn, thì bên tay nóng sẽ lạnh theo; nếu bên nóng thấy nóng hơn, thì tay bên lạnh cũng thành ra nóng.</p><p>Như vậy, do cảm xúc nhận biết khi hợp lại này mà rõ được sự nhận biết lúc rời ra. Nếu cái thế chênh lệch hình thành giữa nóng và lạnh, thì do đó mà phát ra tướng mỏi mệt và có cảm xúc. Cả tánh biết xúc cảm cùng cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.</p><p>Nhân nơi hai vọng trần ly và hợp, phát ra cái hay biết ở bên trong, thu nạp các trần tượng nầy, gọi là tánh biết cảm xúc. Tính biết cảm xúc nầy, rời hai vọng trần ly và hợp, trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể.</p><p>Như vậy, A-Nan, ông nên biết cái cảm xúc đó không phải từ cái ly, cái hợp mà đến; không phải từ cái trái, cái thuận mà có; không phải do nơi thân (căn) mà ra, cũng không phải do hư không mà phát sinh.</p><p>Sao vậy? Nếu từ cái hợp mà đến thì khi xa lìa, cái biết đã mất rồi, làm sao biết được sự xa lìa? Với hai tướng trái và thuận kia cũng giống như vậy.</p><p>Nếu (tánh biết cảm xúc) từ thân thể mà ra, hẳn không có bốn tướng ly hợp trái thuận, thì tánh biết cảm xúc nơi thân của ông vốn không có tự tánh.</p><p>Nếu (tánh biết cảm xúc) từ hư không mà ra, thì hư không tự biết, quan hệ gì đến chỗ thu nạp (thân nhập) của ông?</p><p>Vậy nên biết rằng thân nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p><br></p><p>Ý Nhập</p><p><br></p><p>A-Nan, ví như có người mệt nhọc thì ngủ, ngủ rất sâu rồi thức dậy, nhìn trần cảnh để nhớ lại (những gì đã hiện ra trong giấc ngủ), những gì không nhớ được thì gọi là quên. Các thứ sinh trụ dị diệt điên đảo đó, quen thói thu nạp vào bên trong mà không lẫn lộn nhau. Đó gọi là ý căn. Cả ý căn cùng cái mỏi mệt đều là thể tánh bồ-đề do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.</p><p>Nhân nơi hai thứ vọng trần sinh và diệt, nhóm cái biết bên trong. Thu nạp pháp trần bên trong, dòng thấy nghe đi ngược vào trong. Dòng nầy đi vào nơi không cùng tận, gọi là cái ý hay biết.</p><p>Cái ý hay biết nầy rời hai trần thức và ngủ, sinh và diệt kia thì rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A-Nan nên biết cái ý căn hay biết như thế, không phải từ nơi thức, nơi ngủ mà đến; không phải do nơi sinh, nơi diệt mà có; không phải từ nơi ý căn mà ra, cũng không phải từ nơi hư không mà phát sinh.</p><p>Vì cớ sao? Nếu (cái ý căn hay biết) từ nơi thức mà đến, thì khi ngủ đã theo cái thức mà diệt rồi, còn lấy cái gì làm cái ngủ? Nếu chắc lúc sinh mới có, thì khi diệt, đã hoá như không có rồi, thì lấy cái gì mà biết là diệt? Nếu do cái diệt mà có, thì khi sinh sẽ không có cái diệt, lấy cái gì mà biết là sinh?</p><p>Nếu do ý căn mà ra, thì hai tướng thức ngủ thay đổi lẫn nhau nơi thân thể, nếu rời hai tướng ấy ra, thì cái ý hay biết ấy cũng đồng như hoa đốm giữa hư không, rốt ráo không có tự tánh. Nếu (cái ý hay biết) do hư không mà sinh thì tự hư không ấy biết, có quan hệ gì đến chỗ thu nạp (ý nhập) của ông?</p><p>Do vậy nên biết, ý nhập là hư vọng, vốn không phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Thập Nhị Xứ</p><p>Cái Thấy &amp; Sắc Trần</p><p>Lại nữa, A-Nan, vì sao bản tánh của 12 xứ vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng?</p><p>A-Nan, ông hãy xem rừng cây Kỳ-đà và các suối hồ nầy.</p><p>Ý ông nghĩ sao. Có phải những sắc trần nầy sinh ra cái thấy, hay cái thấy sinh ra sắc tướng?</p><p>A-Nan, nếu cái thấy sinh ra sắc tướng, thì khi thấy hư không chẳng có sắc tướng, lẽ ra tánh thấy sinh ra sắc tướng đã tiêu mất rồi. Đã tiêu mất thì hiển bày rõ hết thảy đều không. Sắc tướng đã không, thì lấy gì rõ bày tướng không? Đối với hư không cũng lại như vậy.</p><p>Lại nữa nếu sắc trần sinh ra cái thấy, khi thấy hư không chẳng có sắc tướng, thì cái thấy liền bị tiêu mất. Tiêu rồi thì tất cả đều không, còn ai để rõ được không và sắc tướng?</p><p>Do vậy nên biết rằng cái thấy cùng sắc không đều chẳng có nơi chốn. Tức là sắc trần cùng với cái thấy, hai xứ đó đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Cái Nghe và Thanh Trần</p><p>A-Nan, ông hãy nghe trong vườn Kỳ-đà nầy, khi bữa ăn được bày dọn xong thì đánh trống, đại chúng sẽ nhóm lại khi nghe tiếng chuông. Tiếng chuông trống trước sau theo nhau.</p><p>Ý ông nghĩ sao? Như thế là âm thanh đến bên cái nghe, hay cái nghe đến chỗ âm thanh?</p><p>A-Nan, nếu âm thanh đến bên cái nghe, thì như khi tôi đến nhà ông Tỳ Xá La để khất thực, ông Tỳ Xá La đã đi vắng, thì âm thanh đến rồi, khi tôi khất thực nơi khác, thì con ông là âm thanh kia đã ra khỏi, không còn đến nữa.</p><p>Tiếng trống kia cũng vậy, khi đánh trống thì nghe tiếng, khi trống ngừng thì tiếng đã đi, không còn nghe nữa.</p><p>Nếu cái nghe đến chỗ âm thanh, thì như khi tôi đi đến thành Thất La Phiệt, thì trong vườn Kỳ-đà nầy không có cái nghe.</p><p>Như vậy, tiếng và cái nghe, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Cái Ngửi và Hương Trần</p><p>A-Nan, ông ngửi mùi chiên đàn trong lò nầy. Lượng chiên đàn nầy đốt lên, nếu trong thành Thất La Phiệt nầy, giả sử có người ngửi được thì số người trong thành, đều bị khói chiên đàn làm cho say mèm. Ý ông nghĩ sao? Mùi hương ấy do gỗ chiên đàn sinh ra, hay do cái ngửi sinh ra, hay do hư không sinh ra?</p><p>A-Nan, nếu mùi hương do gỗ chiên đàn sinh ra, thì mùi hương ấy do gỗ chiên đàn đốt lên, khói bốc lên hư không, cái ngửi chưa闻到 thì mùi hương đã từ gỗ chiên đàn ra, thì lẽ ra gỗ chiên đàn đã cháy hết rồi.</p><p>Nếu do cái ngửi sinh ra, thì mùi hương do cái ngửi sinh ra, thì cái ngửi lẽ ra phải có mùi hương, mà cái ngửi nếu có mùi hương thì không phải là cái ngửi nữa.</p><p>Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có mùi hương, thì hư không lẽ ra phải có mùi hương vĩnh viễn, thì cần gì đốt chiên đàn.</p><p>Do vậy nên biết mùi hương và cái ngửi, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Cái Nếm và Vị Trần</p><p>A-Nan, ông thường mỗi buổi sáng, cầm bát đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, nếu khất được cơm canh, vị chua ngọt đắng cay, ý ông nghĩ sao? Cái vị ấy do thức ăn sinh ra, hay do lưỡi sinh ra, hay do hư không sinh ra?</p><p>A-Nan, nếu do thức ăn sinh ra, thì thức ăn đã có vị, thì khi ăn, lưỡi còn biết vị gì?</p><p>Nếu do lưỡi sinh ra, thì lưỡi lẽ ra phải có vị, nhưng lưỡi không có vị, thì khi ăn, làm sao biết vị?</p><p>Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có vị, thì hư không lẽ ra phải có vị vĩnh viễn, thì cần gì thức ăn.</p><p>Do vậy nên biết vị và cái nếm, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Cái Xúc và Xúc Trần</p><p>A-Nan, ông thường mỗi buổi sáng, xoa đầu, ý ông nghĩ sao? Cái biết xúc ấy do tay sinh ra, hay do đầu sinh ra, hay do hư không sinh ra?</p><p>A-Nan, nếu do tay sinh ra, thì khi không xoa, cái biết xúc đã không, thì khi xoa, làm sao biết?</p><p>Nếu do đầu sinh ra, thì đầu lẽ ra phải có biết xúc, thì cần gì tay xoa.</p><p>Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có biết xúc, thì hư không lẽ ra phải biết xúc vĩnh viễn, thì cần gì xoa đầu.</p><p>Do vậy nên biết cái xúc và cái biết xúc, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Cái Biết và Pháp Trần</p><p>A-Nan, ông thường nghe tôi nói pháp, ý ông nghĩ sao? Cái biết ấy do pháp sinh ra, hay do ý sinh ra, hay do hư không sinh ra?</p><p>A-Nan, nếu do pháp sinh ra, thì pháp đã có biết, thì khi không nghe, cái biết đã không, thì khi nghe, làm sao biết?</p><p>Nếu do ý sinh ra, thì ý lẽ ra phải có biết, thì cần gì pháp.</p><p>Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có biết, thì hư không lẽ ra phải có biết vĩnh viễn, thì cần gì ý.</p><p>Do vậy nên biết cái biết và pháp, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Thập Bát Giới</p><p>Lại nữa, A-Nan, tại sao 18 giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tàng?</p><p>A-Nan, như ông đã biết, mắt và sắc trần làm duyên sinh ra nhãn thức.</p><p>Cái thức ấy do mắt sinh ra, lấy mắt làm giới; hay do sắc sinh ra, lấy sắc làm giới; hay do hư không sinh ra, lấy hư không làm giới?</p><p>A-Nan, nếu do mắt sinh ra, thì trong hư không không có sáng tối, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?</p><p>Nếu do sắc sinh ra, thì trong hư không không có sáng tối, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?</p><p>Nếu do hư không sinh ra, thì hư không không có mắt và sắc, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?</p><p>Do vậy nên biết nhãn thức giới là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>A-Nan, như ông đã biết, tai và âm thanh làm duyên sinh ra nhĩ thức.</p><p>Cái thức ấy do tai sinh ra, lấy tai làm giới; hay do âm thanh sinh ra, lấy âm thanh làm giới; hay do hư không sinh ra, lấy hư không làm giới?</p><p>A-Nan, nếu do tai sinh ra, thì trong hư không không có động tĩnh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?</p><p>Nếu do âm thanh sinh ra, thì trong hư không không có động tĩnh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?</p><p>Nếu do hư không sinh ra, thì hư không không có tai và âm thanh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?</p><p>Do vậy nên biết nhĩ thức giới là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Các giới khác cũng tương tự, đều là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.</p><p>Giải Sáu Nút</p><p>Phật lấy khăn lụa, buộc thành sáu nút, hỏi A-Nan: Sáu nút này là một hay sáu?</p><p>A-Nan thưa: Một khăn, sáu nút.</p><p>Phật dạy: Sáu nút này nếu cởi một nút thứ sáu, thì nút thứ nhất có cởi không?</p><p>A-Nan thưa: Không.</p><p>Phật dạy: Sáu căn cũng vậy, nếu cởi một căn, thì các căn khác tự cởi.</p><p>A-Nan thưa: Làm sao cởi?</p><p>Phật dạy: Ông chọn một căn viên thông, cởi từ gốc, thì các nút tự cởi.</p><p>A-Nan và đại chúng được ngộ, lễ Phật.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 3&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lục Nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhãn Nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, A-Nan, tại sao lục nhập vốn là tánh chân như nhiệm mầu từ Như Lai tạng ?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan! Như mắt kia nhìn chăm chú lâu khiến cho mỏi mệt. Con mắt và tướng mỏi mệt đều là bồ-đề. Tướng nhìn sững quá lâu hoá ra mỏi mệt nhân nơi sáng tối, phát ra cái thấy từ trong hai thứ vọng trần kia, thu nạp trần cảnh, gọi là tánh thấy. Tánh thấy nầy rời hai trần cảnh sáng tối kia, hoàn toàn không có tự thể.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy, A-Nan! phải biết cái thấy đó, chẳng phải do sáng hay tối mà có, chẳng phải từ mắt mà ra, chẳng phải do hư không phát sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao vậy? Nếu tánh thấy từ sáng đến, thì cái tối phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái tối nữa. Nếu tánh thấy từ tối mà đến, thì cái sáng phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái sáng nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cái thấy từ mắt sinh ra, ắt hẳn không có sáng và tối. Thế nên cái thấy vốn không có tự tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cái thấy từ hư không mà ra thì khi nhìn, trước tiên sẽ thấy trần cảnh, khi xoay trở về lại, phải thấy được con mắt. Còn như nếu tự hư không thấy được thì có quan hệ gì đến nhãn nhập của ông?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nên phải biết, nhãn nhập là hư vọng. Vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhĩ Nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, thí như có người lấy hai ngón tay bít chặt hai lỗ tai, do lỗ tai mỏi mệt nên nghe trong đầu phát ra âm thanh. Cả lỗ tai và cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề, do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân nơi động tỉnh, phát ra cái nghe từ trong hai thứ vọng trần, thu nạp trần tướng nầy, gọi là tánh nghe. Tánh nghe nầy rời hai trần tướng động tĩnh kia hoàn toàn không có thật thể.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy, A-Nan! phải biết cái nghe đó, chẳng phải do động hay tĩnh mà có, chẳng phải từ lỗ tai mà ra, chẳng phải do hư không phát sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao vậy? Nếu tánh nghe từ tĩnh mà đến thì cái động phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn thấy được cái động nữa. Nếu tánh nghe từ động mà đến, thì cái tĩnh phải theo đó mà biến mất, lẽ ra không còn biết được cái tĩnh nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu từ tai sinh ra, ắt hẳn không có động và tĩnh. Thế nên tánh nghe vốn không có tự tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu từ hư không mà ra, đã có tánh nghe, tức không phải là hư không nữa; còn nếu hư không tự nghe được, thì quan hệ gì đến nhĩ nhập (nhĩ căn) của ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nên phải biết nhĩ nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tị Nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ví như có người bít chặt hai lỗ mũi, bít lâu thành ra mỏi mệt. Trong lỗ mũi nghe có cảm giác lạnh, do cảm giác như vậy mà phân biệt được là thông, là ngăn bít, là rỗng, là đặc; cho đến các mùi hương thơm khí thối, cả cái ngửi cùng tướng mỏi mệt đều là thể tánh bồ-đề, do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân nơi hai thứ vọng trần thông và bít, phát ra cái ngửi ở trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là tánh ngửi. Tánh ngửi đó rời hai thứ vọng trần thông và bít kia, hoàn toàn không có tự thể.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy, A-Nan! phải biết cái ngửi đó, chẳng phải từ thông hay bít mà có, chẳng phải do lỗ mũi mà ra, chẳng phải từ hư không phát sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao vậy? Nếu (tánh ngửi) từ cái thông mà đến, thì khi bít, (tánh ngửi) đã tự biến mất rồi, làm sao còn biết được bít. Nếu nhân nơi bít mà có (tánh ngửi), thì khi thông sẽ không còn tánh ngửi. Làm sao biết được các mùi thơm thối?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu (tánh ngửi) từ lỗ mũi sinh ra, hẳn không còn có cái thông cái bít. Nên tánh ngửi như vậy vốn không có tự tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu (tánh ngửi) do hư không mà ra, thì cái ngửi đó phải xoay trở lại ngửi được lỗ mũi của ông. Lại nếu như hư không tự ngửi được, thì có dính dáng gì đến chỗ thu nạp (tị nhập) của ông?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nên phải biết tị nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiệt Nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ví như có người dùng lưỡi liếm mép, liếm mãi sinh ra mỏi mệt. Nếu người đó có bệnh thì thấy có vị đắng, nếu người không bệnh thì thấy có chút vị ngọt. Do những cảm giác ngọt, đắng mà hiện bày tánh nếm, còn khi không động (không liếm mép) thì thường thấy tánh nhạt. Cả tánh nếm và cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân hai thứ vọng trần nhạt và ngọt đắng, phát ra cái biết bên trong, thu nạp các trần tượng đó, gọi là tánh biết nếm. Tính biết nếm ấy rời hai thứ vọng trần ngọt đắng và nhạt kia, rốt ráo không có tự thể.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thật vậy, A-Nan, ông nên biết rằng cái biết đắng, biết nhạt như vậy, không phải từ vị ngọt, vị đắng mà đến; không phải do tánh nhạt mà có; chẳng phải từ lưỡi sinh ra, cũng không phải từ hư không phát sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao vậy? Nếu (tánh nếm) từ các vị ngọt đắng mà đến, thì khi nhạt, cái biết nếm đã biến mất rồi, làm sao biết được nhạt? Nếu từ cái nhạt mà ra thì khi ngọt, cái nếm đã biến mất rồi, làm sao biết được hai vị ngọt và đắng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu (tánh biết nếm) do lưỡi sinh ra, hẳn không có những vị ngọt đắng và nhạt, thì cái tánh biết nếm ấy vốn không có tự-tính.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu (tánh biết nếm) do hư không mà ra, thì hư không tự nếm, chứ không phải lưỡi biết nếm. Lại nữa nếu hư không tự biết, thì có quan hệ gì đến chỗ thu nạp (thiệt nhập) của ông?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy nên biết rằng thiệt nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân Nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ví như có người dùng bàn tay lạnh chạm bàn tay nóng. Nếu bên tay lạnh thấy lạnh nhiều hơn, thì bên tay nóng sẽ lạnh theo; nếu bên nóng thấy nóng hơn, thì tay bên lạnh cũng thành ra nóng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy, do cảm xúc nhận biết khi hợp lại này mà rõ được sự nhận biết lúc rời ra. Nếu cái thế chênh lệch hình thành giữa nóng và lạnh, thì do đó mà phát ra tướng mỏi mệt và có cảm xúc. Cả tánh biết xúc cảm cùng cái mỏi mệt đều là tánh bồ-đề chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân nơi hai vọng trần ly và hợp, phát ra cái hay biết ở bên trong, thu nạp các trần tượng nầy, gọi là tánh biết cảm xúc. Tính biết cảm xúc nầy, rời hai vọng trần ly và hợp, trái và thuận kia, rốt ráo không có tự thể.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy, A-Nan, ông nên biết cái cảm xúc đó không phải từ cái ly, cái hợp mà đến; không phải từ cái trái, cái thuận mà có; không phải do nơi thân (căn) mà ra, cũng không phải do hư không mà phát sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao vậy? Nếu từ cái hợp mà đến thì khi xa lìa, cái biết đã mất rồi, làm sao biết được sự xa lìa? Với hai tướng trái và thuận kia cũng giống như vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu (tánh biết cảm xúc) từ thân thể mà ra, hẳn không có bốn tướng ly hợp trái thuận, thì tánh biết cảm xúc nơi thân của ông vốn không có tự tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu (tánh biết cảm xúc) từ hư không mà ra, thì hư không tự biết, quan hệ gì đến chỗ thu nạp (thân nhập) của ông?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy nên biết rằng thân nhập là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý Nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ví như có người mệt nhọc thì ngủ, ngủ rất sâu rồi thức dậy, nhìn trần cảnh để nhớ lại (những gì đã hiện ra trong giấc ngủ), những gì không nhớ được thì gọi là quên. Các thứ sinh trụ dị diệt điên đảo đó, quen thói thu nạp vào bên trong mà không lẫn lộn nhau. Đó gọi là ý căn. Cả ý căn cùng cái mỏi mệt đều là thể tánh bồ-đề do chăm chú mà phát ra tướng mỏi mệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân nơi hai thứ vọng trần sinh và diệt, nhóm cái biết bên trong. Thu nạp pháp trần bên trong, dòng thấy nghe đi ngược vào trong. Dòng nầy đi vào nơi không cùng tận, gọi là cái ý hay biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái ý hay biết nầy rời hai trần thức và ngủ, sinh và diệt kia thì rốt ráo không có tự thể. Thật vậy, A-Nan nên biết cái ý căn hay biết như thế, không phải từ nơi thức, nơi ngủ mà đến; không phải do nơi sinh, nơi diệt mà có; không phải từ nơi ý căn mà ra, cũng không phải từ nơi hư không mà phát sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cớ sao? Nếu (cái ý căn hay biết) từ nơi thức mà đến, thì khi ngủ đã theo cái thức mà diệt rồi, còn lấy cái gì làm cái ngủ? Nếu chắc lúc sinh mới có, thì khi diệt, đã hoá như không có rồi, thì lấy cái gì mà biết là diệt? Nếu do cái diệt mà có, thì khi sinh sẽ không có cái diệt, lấy cái gì mà biết là sinh?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do ý căn mà ra, thì hai tướng thức ngủ thay đổi lẫn nhau nơi thân thể, nếu rời hai tướng ấy ra, thì cái ý hay biết ấy cũng đồng như hoa đốm giữa hư không, rốt ráo không có tự tánh. Nếu (cái ý hay biết) do hư không mà sinh thì tự hư không ấy biết, có quan hệ gì đến chỗ thu nạp (ý nhập) của ông?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết, ý nhập là hư vọng, vốn không phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thập Nhị Xứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái Thấy &amp;amp; Sắc Trần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, A-Nan, vì sao bản tánh của 12 xứ vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tạng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ông hãy xem rừng cây Kỳ-đà và các suối hồ nầy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý ông nghĩ sao. Có phải những sắc trần nầy sinh ra cái thấy, hay cái thấy sinh ra sắc tướng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu cái thấy sinh ra sắc tướng, thì khi thấy hư không chẳng có sắc tướng, lẽ ra tánh thấy sinh ra sắc tướng đã tiêu mất rồi. Đã tiêu mất thì hiển bày rõ hết thảy đều không. Sắc tướng đã không, thì lấy gì rõ bày tướng không? Đối với hư không cũng lại như vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa nếu sắc trần sinh ra cái thấy, khi thấy hư không chẳng có sắc tướng, thì cái thấy liền bị tiêu mất. Tiêu rồi thì tất cả đều không, còn ai để rõ được không và sắc tướng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết rằng cái thấy cùng sắc không đều chẳng có nơi chốn. Tức là sắc trần cùng với cái thấy, hai xứ đó đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái Nghe và Thanh Trần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ông hãy nghe trong vườn Kỳ-đà nầy, khi bữa ăn được bày dọn xong thì đánh trống, đại chúng sẽ nhóm lại khi nghe tiếng chuông. Tiếng chuông trống trước sau theo nhau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý ông nghĩ sao? Như thế là âm thanh đến bên cái nghe, hay cái nghe đến chỗ âm thanh?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu âm thanh đến bên cái nghe, thì như khi tôi đến nhà ông Tỳ Xá La để khất thực, ông Tỳ Xá La đã đi vắng, thì âm thanh đến rồi, khi tôi khất thực nơi khác, thì con ông là âm thanh kia đã ra khỏi, không còn đến nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng trống kia cũng vậy, khi đánh trống thì nghe tiếng, khi trống ngừng thì tiếng đã đi, không còn nghe nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cái nghe đến chỗ âm thanh, thì như khi tôi đi đến thành Thất La Phiệt, thì trong vườn Kỳ-đà nầy không có cái nghe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy, tiếng và cái nghe, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái Ngửi và Hương Trần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ông ngửi mùi chiên đàn trong lò nầy. Lượng chiên đàn nầy đốt lên, nếu trong thành Thất La Phiệt nầy, giả sử có người ngửi được thì số người trong thành, đều bị khói chiên đàn làm cho say mèm. Ý ông nghĩ sao? Mùi hương ấy do gỗ chiên đàn sinh ra, hay do cái ngửi sinh ra, hay do hư không sinh ra?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu mùi hương do gỗ chiên đàn sinh ra, thì mùi hương ấy do gỗ chiên đàn đốt lên, khói bốc lên hư không, cái ngửi chưa闻到 thì mùi hương đã từ gỗ chiên đàn ra, thì lẽ ra gỗ chiên đàn đã cháy hết rồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do cái ngửi sinh ra, thì mùi hương do cái ngửi sinh ra, thì cái ngửi lẽ ra phải có mùi hương, mà cái ngửi nếu có mùi hương thì không phải là cái ngửi nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có mùi hương, thì hư không lẽ ra phải có mùi hương vĩnh viễn, thì cần gì đốt chiên đàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết mùi hương và cái ngửi, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái Nếm và Vị Trần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ông thường mỗi buổi sáng, cầm bát đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, nếu khất được cơm canh, vị chua ngọt đắng cay, ý ông nghĩ sao? Cái vị ấy do thức ăn sinh ra, hay do lưỡi sinh ra, hay do hư không sinh ra?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu do thức ăn sinh ra, thì thức ăn đã có vị, thì khi ăn, lưỡi còn biết vị gì?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do lưỡi sinh ra, thì lưỡi lẽ ra phải có vị, nhưng lưỡi không có vị, thì khi ăn, làm sao biết vị?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có vị, thì hư không lẽ ra phải có vị vĩnh viễn, thì cần gì thức ăn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết vị và cái nếm, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái Xúc và Xúc Trần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ông thường mỗi buổi sáng, xoa đầu, ý ông nghĩ sao? Cái biết xúc ấy do tay sinh ra, hay do đầu sinh ra, hay do hư không sinh ra?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu do tay sinh ra, thì khi không xoa, cái biết xúc đã không, thì khi xoa, làm sao biết?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do đầu sinh ra, thì đầu lẽ ra phải có biết xúc, thì cần gì tay xoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có biết xúc, thì hư không lẽ ra phải biết xúc vĩnh viễn, thì cần gì xoa đầu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết cái xúc và cái biết xúc, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái Biết và Pháp Trần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, ông thường nghe tôi nói pháp, ý ông nghĩ sao? Cái biết ấy do pháp sinh ra, hay do ý sinh ra, hay do hư không sinh ra?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu do pháp sinh ra, thì pháp đã có biết, thì khi không nghe, cái biết đã không, thì khi nghe, làm sao biết?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do ý sinh ra, thì ý lẽ ra phải có biết, thì cần gì pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do hư không sinh ra, thì hư không có biết, thì hư không lẽ ra phải có biết vĩnh viễn, thì cần gì ý.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết cái biết và pháp, hai xứ đều là hư vọng không thật, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thập Bát Giới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, A-Nan, tại sao 18 giới vốn là tánh chân như nhiệm mầu của Như Lai tàng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, như ông đã biết, mắt và sắc trần làm duyên sinh ra nhãn thức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái thức ấy do mắt sinh ra, lấy mắt làm giới; hay do sắc sinh ra, lấy sắc làm giới; hay do hư không sinh ra, lấy hư không làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu do mắt sinh ra, thì trong hư không không có sáng tối, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do sắc sinh ra, thì trong hư không không có sáng tối, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do hư không sinh ra, thì hư không không có mắt và sắc, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết nhãn thức giới là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, như ông đã biết, tai và âm thanh làm duyên sinh ra nhĩ thức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái thức ấy do tai sinh ra, lấy tai làm giới; hay do âm thanh sinh ra, lấy âm thanh làm giới; hay do hư không sinh ra, lấy hư không làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan, nếu do tai sinh ra, thì trong hư không không có động tĩnh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do âm thanh sinh ra, thì trong hư không không có động tĩnh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu do hư không sinh ra, thì hư không không có tai và âm thanh, thì cái thức đã không, thì lấy gì làm giới?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vậy nên biết nhĩ thức giới là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các giới khác cũng tương tự, đều là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải Sáu Nút&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật lấy khăn lụa, buộc thành sáu nút, hỏi A-Nan: Sáu nút này là một hay sáu?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan thưa: Một khăn, sáu nút.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: Sáu nút này nếu cởi một nút thứ sáu, thì nút thứ nhất có cởi không?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan thưa: Không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: Sáu căn cũng vậy, nếu cởi một căn, thì các căn khác tự cởi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan thưa: Làm sao cởi?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: Ông chọn một căn viên thông, cởi từ gốc, thì các nút tự cởi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A-Nan và đại chúng được ngộ, lễ Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="18121038" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3b1d77e1-b73f-4f0d-93ce-9fb5d0572647/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">9122ee93-2606-4a19-bafb-01dc2458b3bc</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3b1d77e1-b73f-4f0d-93ce-9fb5d0572647</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:18:44 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/bda4f0b0-ad45-48c1-aafc-e5cb8af1ac94_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>1132</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 2</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Quyển 2</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 2</p><p>Tánh Thấy Không Sinh Diệt</p><p>Khi ấy ông A Nan cùng cả đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái, nghĩ mình từ vô thủy đến nay, bỏ mất bản tâm, lầm nhận sự phân biệt bóng dáng tiền trần làm tâm, ngày nay được khai ngộ như em bé mất sữa, bỗng gặp mẹ hiền, chắp tay lễ Phật, xin Đức Như Lai, ở nơi thân tâm, chỉ ra chỗ chân chỗ vọng, chỗ hư chỗ thật, ở nơi hiện tiền phát minh ra hai tánh sinh diệt, và không sinh diệt.</p><p>Khi ấy vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật:</p><p><br></p><p>Trước tôi chưa được vâng nghe lời Phật dạy bảo, tôi thấy bọn Ca Chiên Diên, Tỳ La Chi Tử đều nói thân này chết rồi là mất hẳn và gọi đó là Niết bàn; nay tuy được gặp Phật nhưng tôi vẫn còn hồ nghi, xin Phật chỉ rõ thế nào chứng biết tánh không sinh diệt nơi tâm này. Hiện nay các hàng hữu lậu trong đại chúng cũng đều trông mong được nghe điều ấy.</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Đại vương, thân ông hiện đó, nay tôi hỏi ông: Cái nhục thân đó của ông có như kim cang thường còn, không hư hỏng hay lại cũng biến đổi và tan rã?</p><p>Bạch Thế Tôn, thân tôi hiện nay rốt cuộc về sau cũng thay đổi và tiêu diệt.</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Đại vương, ông chưa hề bị diệt, làm sao lại biết được là phải diệt?</p><p>Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường thay đổi của tôi đây, tuy chưa hề bị diệt; song tôi xét nó hiện nay niệm niệm dời đổi, mãi mãi không thôi như lửa thành tro, lần lần tiêu mất; vì tiêu mất, mãi mãi không dừng nên tôi biết chắc thân này rồi phải diệt mất.</p><p><br></p><p>Phật dạy:</p><p><br></p><p>Đúng thế, đại vương, tuổi tác của ông nay đã già yếu, vậy mặt mày của ông so với lúc còn bé thì như thế nào?</p><p>Bạch Thế Tôn, lúc tôi bé nhỏ, da thịt mướt mị, đến khi trưởng thành, huyết khí sung túc; nay thì tuổi già, ngày thêm suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần lẫn lộn, tóc bạc mặt nhăn, chừng sống không được bao lâu nữa, so sánh sao được với lúc đương còn trẻ mạnh!</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Đại vương, hình dung của ông, nào phải đương trẻ mà già liền đâu?</p><p><br></p><p>Vua bạch:</p><p><br></p><p>Thưa Thế Tôn, sự biến hóa thầm thầm dời đổi, tôi thật không hay; nắng mưa thấm thoát, lần đến thế nầy. Vì sao? Khi 20 tuổi, tuy gọi là trẻ, nhưng mặt mày của tôi đã già hơn khi 10 tuổi; khi 30 tuổi lại sút hơn lúc 20 tuổi và đến nay đã 60 lại thêm hai tuổi, trông lại lúc 50 tuổi, còn khỏe mạnh hơn nhiều.</p><p>Bạch Thế Tôn, tôi thấy thầm thầm dời đổi như thế; thân nầy đến nay tuy đã suy yếu, nhưng trong sự thay đổi, còn chia từng 10 năm. Nếu tôi suy xét chín chắn hơn nữa thì cái biến đổi ấy đâu phải từng một kỷ, thật là mỗi năm mỗi thay đổi; lại đâu mỗi năm mỗi thay đổi mà cũng là mỗi tháng mỗi biến hóa; lại không những mỗi tháng mỗi biến hóa mà còn mỗi ngày mỗi đổi thay; xét cho cùng, nghĩ cho kỹ, trong mỗi sát na, trong mỗi niệm, nó không thể đứng yên, vậy nên tôi biết thân tôi rốt cuộc phải biến đổi và tiêu diệt.</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Đại vương, ông thấy biến hóa dồi đổi không ngừng, ngộ biết là phải diệt; vậy trong lúc diệt đó, ông có biết trong thân có cái gì không diệt chăng?</p><p><br></p><p>Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật:</p><p><br></p><p>Thật tôi không biết.</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Nay tôi chỉ cho ông cái tánh không sinh diệt, đại vương, khi ông mấy tuổi, mới thấy nước sông Hằng.</p><p><br></p><p>Vua bạch:</p><p><br></p><p>Khi tôi ba tuổi, mẹ tôi dắt đi yết lễ thần Kỳ Bà Thiên thì đã đi qua sông ấy; lúc đó tôi liền biết là nước sông Hằng.</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Đại vương, như lời ông nói: Lúc 20 tuổi thì sút hơn lúc lên 10, cho đến nay đã 60 tuổi, từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ, dồi đổi mãi mãi; vậy khi ông 3 tuổi thấy nước sông ấy, rồi đến khi 13 tuổi thì nước ấy thế nào?</p><p><br></p><p>Vua bạch:</p><p><br></p><p>Tôi thấy nước ấy cũng giống khi 3 tuổi, như nhau không khác và đến nay tuổi đã 62, cũng vẫn không khác.</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Nay ông xét mình đầu bạc mặt nhăn, mặt ông chắc là nhăn hơn lúc trẻ; vậy cái thấy hiện nay của ông thấy sông Hằng so với cái thấy lúc nhỏ thấy sông Hằng, có già trẻ gì không?</p><p><br></p><p>Vua bạch:</p><p><br></p><p>Thưa Thế Tôn, không.</p><p><br></p><p>Phật bảo:</p><p><br></p><p>Đại vương, mặt ông tuy nhăn, nhưng cái thấy đó chưa hề bị nhăn; cái bị nhăn thì thay đổi, còn cái không bị nhăn thì không có thay đổi. Cái thay đổi thì phải diệt, còn cái không thay đổi kia, vốn không sinh diệt, làm sao trong ấy, lại nhận sống cái chết của ông, mà ông còn dẫn những thuyết của bọn Mạt Già Lê kia bảo rằng thân này chết rồi diệt hẳn.</p><p><br></p><p>Vua nghe lời Phật dạy như vậy, tin biết về sau bỏ thân nầy qua thân khác, cùng với đại chúng nhảy nhót vui mừng, được cái chưa từng có.</p><p>Tánh Thấy Không Bị Mất</p><p>Ông A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ Phật chấp tay, quỳ dài bạch Phật:</p><p><br></p><p>Thưa Thế Tôn, nếu cái thấy nghe đó thật không sinh diệt thì làm sao Đức Thế Tôn lại gọi bọn chúng tôi bỏ mất chân tánh, làm việc trái ngược? Xin Phật mở lòng từ bi, rửa sạch trần cấu cho chúng tôi.</p><p><br></p><p>Khi ấy Đức Như Lai rũ cánh tay kim sắc, ngón tay chỉ xuống, bảo ông A Nan rằng:</p><p><br></p><p>Ông nay thấy tay Mẫu đà la tôi là chính hay là ngược?</p><p><br></p><p>Ông A Nan bạch:</p><p><br></p><p>Chúng sinh thế gian cho đó là ngược, còn tôi thì không biết thế nào là chính, thế nào là ngược.</p><p><br></p><p>Phật bảo ông A Nan:</p><p><br></p><p>Nếu người thế gian cho đó là ngược, thì người thế gian gọi thế nào là chính?</p><p><br></p><p>Ông A Nan bạch Phật:</p><p><br></p><p>Đức Như Lai đưa cánh tay lên, tay Đâu la miên chỉ lên trên không thì gọi là chính.</p><p><br></p><p>Phật liền giơ cánh tay lên và bảo ông A Nan rằng:</p><p><br></p><p>Cái trái ngược như thế, chỉ là đầu đuôi thay đổi lẫn nhau; các người thế gian lắp đi lắp lại mà xem thấy. Nay lấy cái thân ông và Pháp thân thanh tịnh của chư Như Lai, so theo đó mà phát minh, thì thân của Như Lai gọi là chánh biến tri, thân của các ông gọi là tánh trái ngược; tùy ông xét kỹ nơi thân ông và thân Phật, cái gọi là trái ngược đó, do ở chỗ nào mà gọi là trái ngược?</p><p><br></p><p>Khi ấy ông A Nan cùng cả đại chúng chăm chăm ngó Phật, tròng con mắt không lay động, chẳng biết thân tâm chỗ nào trái ngược. Phật phát lòng từ bi, thương xót ông A Nan và đại chúng, phát tiếng hải triều, khắp bảo trong hội:</p><p><br></p><p>Các Thiện nam tử, tôi thường nói rằng: Sắc, tâm, các duyên và các tâm sở, các pháp sở duyên, đều duy tâm tánh biến hiện. Thân ông, tâm ông đều là những vật hiện ra trong tâm tánh. Làm sao các ông lại bỏ mất tâm tánh quý báu ấy, nhận cái mê trong ngộ. Mê muội thành có hư không, trong hư không mê muội ấy, kết cái mê muội thành ra có sắc; sắc xen với vọng tưởng; tưởng tướng làm thân, nhóm các duyên lay động bên trong, giong ruổi theo cảnh vật bên ngoài; rồi lấy cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm tâm tánh.</p><p>Một phen lầm cái tướng ấy làm tâm thì quyết định lầm cho rằng tâm ở trong sắc thân, mà không biết sắc thân, cho đến núi sông, hư không, đất liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm tánh; ví như bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một cái bọt nước; rồi cho nó là toàn hết cả nước, cùng tột các biển lớn.</p><p>Bọn ông tức là những người mê lầm nhiều lớp, như cánh tay tôi rũ xuống, không có sai khác. Như Lai gọi là đáng thương xót đó.</p><p><br></p><p>Ông A Nan vâng nghe lời Phật từ bi cứu độ dạy bảo, khóc lóc tréo tay mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Tuy tôi vâng nghe diệu âm của Phật như vậy, ngộ được chỗ thường trụ viên mãn sẵn có của tâm tánh, nhưng tôi ngộ được pháp âm của Phật vừa dạy là tôi hiện lấy tâm phan duyên mà thỏa mãn chỗ ước mong.</p><p>Tôi luống được tâm ấy, chưa dár nhận là tâm tánh bản lai; mong Phật thương xót, tuyên lời viên âm, nhổ gốc nghi ngờ của tôi, đem về đạo vô thượng.</p><p><br></p><p>Phật bảo ông A Nan:</p><p><br></p><p>Bọn ông còn lấy tâm phan duyên mà nghe pháp thì cái pháp nhận được đó cũng chỉ là sở duyên, chứ không phải nhận được pháp tánh. Ví như có người lấy ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác thì người kia lẽ ra phải nhân ngón tay mà thấy mặt trăng.</p><p>Nếu như người kia xem ngón tay và cho đó là mặt trăng thì người ấy chẳng những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất cả ngón tay chỉ nữa.</p><p>Vì sao? Vì nhận ngón tay chỉ làm mặt trăng vậy. Đâu những bỏ mất ngón tay lại cũng không phân biệt được sáng và tối.</p><p>Vì sao? Vì lấy ngón tay tối làm mặt trăng sáng thì không rõ biết được hai tánh sáng tối. Ông cũng như vậy. Nếu lấy cái phân biệt pháp âm tôi làm tâm của ông thì cái tâm ấy phải rời cái phân biệt tiếng nói, có tánh phân biệt.</p><p>Ví như người khách ngủ trọ quán trạm, ở tạm rồi đi, rốt cuộc ở mãi không được, còn người giữ trạm thì không đi đâu, gọi là chủ trạm. Tâm cũng như vậy, nếu thật tâm ông thì không đi đâu, làm sao rời cái tiếng, lại không có tánh phân biệt?</p><p>Nói như thế chẳng những đối với tâm phân biệt các tiếng; cái phân biệt hình dung của tôi, rời các sắc tướng, cũng không có tánh phân biệt; như vậy cho đến cái phân biệt đều không, không phải sắc, không phải không, mà bọn Câu Xá Ly lầm là minh đế, thì rời các Pháp trần, cũng không tánh phân biệt.</p><p>Như vậy tâm tánh của ông đều có chỗ trả về, lấy gì mà làm chủ?</p><p><br></p><p>Cái Không Thể Trả Về</p><p>Ông A Nan bạch:</p><p><br></p><p>Như tâm tánh của tôi đều có chỗ trả về, thì tâm tánh diệu minh bất diệt của Như Lai làm sao lại không có chỗ trả về?</p><p>Xin Phật thương xót chỉ bảo cho tôi điều ấy.</p><p><br></p><p>Phật bảo ông A Nan:</p><p><br></p><p>Hãy lấy cái tánh thấy của ông thấy tôi đây. Tánh thấy ấy tuy không phải là tâm tánh diệu minh, nhưng nó như mặt trăng thứ hai, chứ không phải bóng của mặt trăng.</p><p>Ông hãy nghe cho chín, nay tôi chỉ cho ông cái nghĩa không thể trả về.</p><p>A Nan, đại giảng đường nầy mở rộng phương Đông, khi mặt trời lên thì sáng, nửa đêm vắng trăng, mây mù mờ mịt thì lại tối tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông suốt; chỗ có tường nhà thì thấy ngăn bít; chỗ phân biệt được, thấy cảnh sở duyên; trong chỗ rỗng trống, toàn là hư không; cảnh tượng mù mịt khi bụi dấy lên; mưa tạnh trời quang thì lại thấy trong lặng.</p><p>A Nan, ông hãy xem các tướng biến hóa nầy, nay tôi đều trả về nơi xuất phát của nó.</p><p>Thế nào là nơi xuất phát? A Nan, các tướng biến hóa nầy, sáng trả về cho mặt trời. Vì sao? Vì nếu không có mặt trời thì không có sáng. Nguyên nhân cái sáng là do mặt trời, nên trả về cho mặt trời là đúng.</p><p>Tối trả về cho mây mù. Vì sao? Vì không mây mù thì không tối; nguyên nhân cái tối là do mây mù, nên trả về cho mây mù là đúng.</p><p>Thông suốt trả về cho cửa sổ. Vì sao? Vì không cửa thì không thông suốt; nguyên nhân cái thông suốt là do cửa, nên trả về cho cửa là đúng.</p><p>Ngăn bít trả về cho tường nhà. Vì sao? Vì không tường nhà thì không ngăn bít; nguyên nhân cái ngăn bít là do tường nhà, nên trả về cho tường nhà là đúng.</p><p>Cảnh sở duyên trả về cho phân biệt. Vì sao? Vì không phân biệt thì không cảnh sở duyên; nguyên nhân cái cảnh sở duyên là do phân biệt, nên trả về cho phân biệt là đúng.</p><p>Hư không trả về cho rỗng trống. Vì sao? Vì không rỗng trống thì không hư không; nguyên nhân cái hư không là do rỗng trống, nên trả về cho rỗng trống là đúng.</p><p>Mù mịt trả về cho bụi dấy. Vì sao? Vì không bụi dấy thì không mù mịt; nguyên nhân cái mù mịt là do bụi dấy, nên trả về cho bụi dấy là đúng.</p><p>Trong lặng trả về cho mưa tạnh trời quang. Vì sao? Vì không mưa tạnh thì không trong lặng; nguyên nhân cái trong lặng là do mưa tạnh, nên trả về cho mưa tạnh là đúng.</p><p>A Nan, các tướng như thế đều có chỗ trả về. Nay ông lại xem, cái thấy các tướng ấy là cái gì? Nó trả về cho ai?</p><p>A Nan, nếu trả về cho sáng thì khi tối đến sao không thấy tối? Nếu thấy tối thì không phải là cái thấy trả về cho sáng.</p><p>Nếu trả về cho tối thì khi sáng đến sao không thấy sáng? Nếu thấy sáng thì không phải là cái thấy trả về cho tối.</p><p>Nếu trả về cho thông suốt thì khi ngăn bít sao không thấy ngăn bít? Nếu thấy ngăn bít thì không phải là cái thấy trả về cho thông suốt.</p><p>Nếu trả về cho ngăn bít thì khi thông suốt sao không thấy thông suốt? Nếu thấy thông suốt thì không phải là cái thấy trả về cho ngăn bít.</p><p>Nếu trả về cho cảnh sở duyên thì khi rỗng trống sao không thấy rỗng trống? Nếu thấy rỗng trống thì không phải là cái thấy trả về cho cảnh sở duyên.</p><p>Nếu trả về cho rỗng trống thì khi cảnh sở duyên sao không thấy cảnh sở duyên? Nếu thấy cảnh sở duyên thì không phải là cái thấy trả về cho rỗng trống.</p><p>Nếu trả về cho mù mịt thì khi trong lặng sao không thấy trong lặng? Nếu thấy trong lặng thì không phải là cái thấy trả về cho mù mịt.</p><p>Nếu trả về cho trong lặng thì khi mù mịt sao không thấy mù mịt? Nếu thấy mù mịt thì không phải là cái thấy trả về cho trong lặng.</p><p>A Nan, cái thấy ấy vốn không có chỗ trả về. Nó không phải là cái thấy của ông, cũng không phải là cái thấy của tôi. Nó là chân tánh thấy, không sinh không diệt, không đến không đi, không phải sáng không phải tối, không phải thông suốt không phải ngăn bít, không phải cảnh sở duyên không phải rỗng trống, không phải mù mịt không phải trong lặng.</p><p>Nó là diệu minh chân tánh, vốn sẵn có, không thể trả về đâu cả.</p><p><br></p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 2&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tánh Thấy Không Sinh Diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy ông A Nan cùng cả đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái, nghĩ mình từ vô thủy đến nay, bỏ mất bản tâm, lầm nhận sự phân biệt bóng dáng tiền trần làm tâm, ngày nay được khai ngộ như em bé mất sữa, bỗng gặp mẹ hiền, chắp tay lễ Phật, xin Đức Như Lai, ở nơi thân tâm, chỉ ra chỗ chân chỗ vọng, chỗ hư chỗ thật, ở nơi hiện tiền phát minh ra hai tánh sinh diệt, và không sinh diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trước tôi chưa được vâng nghe lời Phật dạy bảo, tôi thấy bọn Ca Chiên Diên, Tỳ La Chi Tử đều nói thân này chết rồi là mất hẳn và gọi đó là Niết bàn; nay tuy được gặp Phật nhưng tôi vẫn còn hồ nghi, xin Phật chỉ rõ thế nào chứng biết tánh không sinh diệt nơi tâm này. Hiện nay các hàng hữu lậu trong đại chúng cũng đều trông mong được nghe điều ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương, thân ông hiện đó, nay tôi hỏi ông: Cái nhục thân đó của ông có như kim cang thường còn, không hư hỏng hay lại cũng biến đổi và tan rã?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn, thân tôi hiện nay rốt cuộc về sau cũng thay đổi và tiêu diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương, ông chưa hề bị diệt, làm sao lại biết được là phải diệt?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường thay đổi của tôi đây, tuy chưa hề bị diệt; song tôi xét nó hiện nay niệm niệm dời đổi, mãi mãi không thôi như lửa thành tro, lần lần tiêu mất; vì tiêu mất, mãi mãi không dừng nên tôi biết chắc thân này rồi phải diệt mất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đúng thế, đại vương, tuổi tác của ông nay đã già yếu, vậy mặt mày của ông so với lúc còn bé thì như thế nào?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn, lúc tôi bé nhỏ, da thịt mướt mị, đến khi trưởng thành, huyết khí sung túc; nay thì tuổi già, ngày thêm suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần lẫn lộn, tóc bạc mặt nhăn, chừng sống không được bao lâu nữa, so sánh sao được với lúc đương còn trẻ mạnh!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương, hình dung của ông, nào phải đương trẻ mà già liền đâu?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Thế Tôn, sự biến hóa thầm thầm dời đổi, tôi thật không hay; nắng mưa thấm thoát, lần đến thế nầy. Vì sao? Khi 20 tuổi, tuy gọi là trẻ, nhưng mặt mày của tôi đã già hơn khi 10 tuổi; khi 30 tuổi lại sút hơn lúc 20 tuổi và đến nay đã 60 lại thêm hai tuổi, trông lại lúc 50 tuổi, còn khỏe mạnh hơn nhiều.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn, tôi thấy thầm thầm dời đổi như thế; thân nầy đến nay tuy đã suy yếu, nhưng trong sự thay đổi, còn chia từng 10 năm. Nếu tôi suy xét chín chắn hơn nữa thì cái biến đổi ấy đâu phải từng một kỷ, thật là mỗi năm mỗi thay đổi; lại đâu mỗi năm mỗi thay đổi mà cũng là mỗi tháng mỗi biến hóa; lại không những mỗi tháng mỗi biến hóa mà còn mỗi ngày mỗi đổi thay; xét cho cùng, nghĩ cho kỹ, trong mỗi sát na, trong mỗi niệm, nó không thể đứng yên, vậy nên tôi biết thân tôi rốt cuộc phải biến đổi và tiêu diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương, ông thấy biến hóa dồi đổi không ngừng, ngộ biết là phải diệt; vậy trong lúc diệt đó, ông có biết trong thân có cái gì không diệt chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thật tôi không biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay tôi chỉ cho ông cái tánh không sinh diệt, đại vương, khi ông mấy tuổi, mới thấy nước sông Hằng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi tôi ba tuổi, mẹ tôi dắt đi yết lễ thần Kỳ Bà Thiên thì đã đi qua sông ấy; lúc đó tôi liền biết là nước sông Hằng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương, như lời ông nói: Lúc 20 tuổi thì sút hơn lúc lên 10, cho đến nay đã 60 tuổi, từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ, dồi đổi mãi mãi; vậy khi ông 3 tuổi thấy nước sông ấy, rồi đến khi 13 tuổi thì nước ấy thế nào?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi thấy nước ấy cũng giống khi 3 tuổi, như nhau không khác và đến nay tuổi đã 62, cũng vẫn không khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ông xét mình đầu bạc mặt nhăn, mặt ông chắc là nhăn hơn lúc trẻ; vậy cái thấy hiện nay của ông thấy sông Hằng so với cái thấy lúc nhỏ thấy sông Hằng, có già trẻ gì không?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Thế Tôn, không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương, mặt ông tuy nhăn, nhưng cái thấy đó chưa hề bị nhăn; cái bị nhăn thì thay đổi, còn cái không bị nhăn thì không có thay đổi. Cái thay đổi thì phải diệt, còn cái không thay đổi kia, vốn không sinh diệt, làm sao trong ấy, lại nhận sống cái chết của ông, mà ông còn dẫn những thuyết của bọn Mạt Già Lê kia bảo rằng thân này chết rồi diệt hẳn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua nghe lời Phật dạy như vậy, tin biết về sau bỏ thân nầy qua thân khác, cùng với đại chúng nhảy nhót vui mừng, được cái chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tánh Thấy Không Bị Mất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, lễ Phật chấp tay, quỳ dài bạch Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Thế Tôn, nếu cái thấy nghe đó thật không sinh diệt thì làm sao Đức Thế Tôn lại gọi bọn chúng tôi bỏ mất chân tánh, làm việc trái ngược? Xin Phật mở lòng từ bi, rửa sạch trần cấu cho chúng tôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Đức Như Lai rũ cánh tay kim sắc, ngón tay chỉ xuống, bảo ông A Nan rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nay thấy tay Mẫu đà la tôi là chính hay là ngược?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sinh thế gian cho đó là ngược, còn tôi thì không biết thế nào là chính, thế nào là ngược.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo ông A Nan:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người thế gian cho đó là ngược, thì người thế gian gọi thế nào là chính?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan bạch Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Như Lai đưa cánh tay lên, tay Đâu la miên chỉ lên trên không thì gọi là chính.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật liền giơ cánh tay lên và bảo ông A Nan rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái trái ngược như thế, chỉ là đầu đuôi thay đổi lẫn nhau; các người thế gian lắp đi lắp lại mà xem thấy. Nay lấy cái thân ông và Pháp thân thanh tịnh của chư Như Lai, so theo đó mà phát minh, thì thân của Như Lai gọi là chánh biến tri, thân của các ông gọi là tánh trái ngược; tùy ông xét kỹ nơi thân ông và thân Phật, cái gọi là trái ngược đó, do ở chỗ nào mà gọi là trái ngược?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy ông A Nan cùng cả đại chúng chăm chăm ngó Phật, tròng con mắt không lay động, chẳng biết thân tâm chỗ nào trái ngược. Phật phát lòng từ bi, thương xót ông A Nan và đại chúng, phát tiếng hải triều, khắp bảo trong hội:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Thiện nam tử, tôi thường nói rằng: Sắc, tâm, các duyên và các tâm sở, các pháp sở duyên, đều duy tâm tánh biến hiện. Thân ông, tâm ông đều là những vật hiện ra trong tâm tánh. Làm sao các ông lại bỏ mất tâm tánh quý báu ấy, nhận cái mê trong ngộ. Mê muội thành có hư không, trong hư không mê muội ấy, kết cái mê muội thành ra có sắc; sắc xen với vọng tưởng; tưởng tướng làm thân, nhóm các duyên lay động bên trong, giong ruổi theo cảnh vật bên ngoài; rồi lấy cái tướng mờ mịt lăng xăng đó làm tâm tánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một phen lầm cái tướng ấy làm tâm thì quyết định lầm cho rằng tâm ở trong sắc thân, mà không biết sắc thân, cho đến núi sông, hư không, đất liền bên ngoài đều là những vật hiện trong tâm tánh; ví như bỏ cả trăm nghìn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một cái bọt nước; rồi cho nó là toàn hết cả nước, cùng tột các biển lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bọn ông tức là những người mê lầm nhiều lớp, như cánh tay tôi rũ xuống, không có sai khác. Như Lai gọi là đáng thương xót đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan vâng nghe lời Phật từ bi cứu độ dạy bảo, khóc lóc tréo tay mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tuy tôi vâng nghe diệu âm của Phật như vậy, ngộ được chỗ thường trụ viên mãn sẵn có của tâm tánh, nhưng tôi ngộ được pháp âm của Phật vừa dạy là tôi hiện lấy tâm phan duyên mà thỏa mãn chỗ ước mong.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi luống được tâm ấy, chưa dár nhận là tâm tánh bản lai; mong Phật thương xót, tuyên lời viên âm, nhổ gốc nghi ngờ của tôi, đem về đạo vô thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo ông A Nan:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bọn ông còn lấy tâm phan duyên mà nghe pháp thì cái pháp nhận được đó cũng chỉ là sở duyên, chứ không phải nhận được pháp tánh. Ví như có người lấy ngón tay chỉ mặt trăng cho người khác thì người kia lẽ ra phải nhân ngón tay mà thấy mặt trăng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu như người kia xem ngón tay và cho đó là mặt trăng thì người ấy chẳng những bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất cả ngón tay chỉ nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì nhận ngón tay chỉ làm mặt trăng vậy. Đâu những bỏ mất ngón tay lại cũng không phân biệt được sáng và tối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì lấy ngón tay tối làm mặt trăng sáng thì không rõ biết được hai tánh sáng tối. Ông cũng như vậy. Nếu lấy cái phân biệt pháp âm tôi làm tâm của ông thì cái tâm ấy phải rời cái phân biệt tiếng nói, có tánh phân biệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như người khách ngủ trọ quán trạm, ở tạm rồi đi, rốt cuộc ở mãi không được, còn người giữ trạm thì không đi đâu, gọi là chủ trạm. Tâm cũng như vậy, nếu thật tâm ông thì không đi đâu, làm sao rời cái tiếng, lại không có tánh phân biệt?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói như thế chẳng những đối với tâm phân biệt các tiếng; cái phân biệt hình dung của tôi, rời các sắc tướng, cũng không có tánh phân biệt; như vậy cho đến cái phân biệt đều không, không phải sắc, không phải không, mà bọn Câu Xá Ly lầm là minh đế, thì rời các Pháp trần, cũng không tánh phân biệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy tâm tánh của ông đều có chỗ trả về, lấy gì mà làm chủ?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cái Không Thể Trả Về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan bạch:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như tâm tánh của tôi đều có chỗ trả về, thì tâm tánh diệu minh bất diệt của Như Lai làm sao lại không có chỗ trả về?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin Phật thương xót chỉ bảo cho tôi điều ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo ông A Nan:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy lấy cái tánh thấy của ông thấy tôi đây. Tánh thấy ấy tuy không phải là tâm tánh diệu minh, nhưng nó như mặt trăng thứ hai, chứ không phải bóng của mặt trăng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông hãy nghe cho chín, nay tôi chỉ cho ông cái nghĩa không thể trả về.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, đại giảng đường nầy mở rộng phương Đông, khi mặt trời lên thì sáng, nửa đêm vắng trăng, mây mù mờ mịt thì lại tối tăm; chỗ có các cửa thì thấy thông suốt; chỗ có tường nhà thì thấy ngăn bít; chỗ phân biệt được, thấy cảnh sở duyên; trong chỗ rỗng trống, toàn là hư không; cảnh tượng mù mịt khi bụi dấy lên; mưa tạnh trời quang thì lại thấy trong lặng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, ông hãy xem các tướng biến hóa nầy, nay tôi đều trả về nơi xuất phát của nó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là nơi xuất phát? A Nan, các tướng biến hóa nầy, sáng trả về cho mặt trời. Vì sao? Vì nếu không có mặt trời thì không có sáng. Nguyên nhân cái sáng là do mặt trời, nên trả về cho mặt trời là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tối trả về cho mây mù. Vì sao? Vì không mây mù thì không tối; nguyên nhân cái tối là do mây mù, nên trả về cho mây mù là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thông suốt trả về cho cửa sổ. Vì sao? Vì không cửa thì không thông suốt; nguyên nhân cái thông suốt là do cửa, nên trả về cho cửa là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngăn bít trả về cho tường nhà. Vì sao? Vì không tường nhà thì không ngăn bít; nguyên nhân cái ngăn bít là do tường nhà, nên trả về cho tường nhà là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cảnh sở duyên trả về cho phân biệt. Vì sao? Vì không phân biệt thì không cảnh sở duyên; nguyên nhân cái cảnh sở duyên là do phân biệt, nên trả về cho phân biệt là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hư không trả về cho rỗng trống. Vì sao? Vì không rỗng trống thì không hư không; nguyên nhân cái hư không là do rỗng trống, nên trả về cho rỗng trống là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mù mịt trả về cho bụi dấy. Vì sao? Vì không bụi dấy thì không mù mịt; nguyên nhân cái mù mịt là do bụi dấy, nên trả về cho bụi dấy là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong lặng trả về cho mưa tạnh trời quang. Vì sao? Vì không mưa tạnh thì không trong lặng; nguyên nhân cái trong lặng là do mưa tạnh, nên trả về cho mưa tạnh là đúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, các tướng như thế đều có chỗ trả về. Nay ông lại xem, cái thấy các tướng ấy là cái gì? Nó trả về cho ai?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, nếu trả về cho sáng thì khi tối đến sao không thấy tối? Nếu thấy tối thì không phải là cái thấy trả về cho sáng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trả về cho tối thì khi sáng đến sao không thấy sáng? Nếu thấy sáng thì không phải là cái thấy trả về cho tối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trả về cho thông suốt thì khi ngăn bít sao không thấy ngăn bít? Nếu thấy ngăn bít thì không phải là cái thấy trả về cho thông suốt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trả về cho ngăn bít thì khi thông suốt sao không thấy thông suốt? Nếu thấy thông suốt thì không phải là cái thấy trả về cho ngăn bít.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trả về cho cảnh sở duyên thì khi rỗng trống sao không thấy rỗng trống? Nếu thấy rỗng trống thì không phải là cái thấy trả về cho cảnh sở duyên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trả về cho rỗng trống thì khi cảnh sở duyên sao không thấy cảnh sở duyên? Nếu thấy cảnh sở duyên thì không phải là cái thấy trả về cho rỗng trống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trả về cho mù mịt thì khi trong lặng sao không thấy trong lặng? Nếu thấy trong lặng thì không phải là cái thấy trả về cho mù mịt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trả về cho trong lặng thì khi mù mịt sao không thấy mù mịt? Nếu thấy mù mịt thì không phải là cái thấy trả về cho trong lặng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, cái thấy ấy vốn không có chỗ trả về. Nó không phải là cái thấy của ông, cũng không phải là cái thấy của tôi. Nó là chân tánh thấy, không sinh không diệt, không đến không đi, không phải sáng không phải tối, không phải thông suốt không phải ngăn bít, không phải cảnh sở duyên không phải rỗng trống, không phải mù mịt không phải trong lặng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nó là diệu minh chân tánh, vốn sẵn có, không thể trả về đâu cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="14979239" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/6662d61f-c9c3-4408-b651-964f42d3d60c/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">7d986b9b-0dcf-46ad-a626-891880e39a7f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/6662d61f-c9c3-4408-b651-964f42d3d60c</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:17:51 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/9/47a9e11b-36fa-4618-9da0-95b9cbc4483f_kinh_l_ng_nghi_m.jpg"/>
                <itunes:duration>936</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Lăng Nghiêm_Phẩm 1</itunes:title>
                <title>Kinh Lăng Nghiêm_Phẩm 1</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.</p><p>Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 1</p><p>Đề Mục Kinh</p><p>Kinh Đại Phật Đỉnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm (Suramgama), gọi tắt là Kinh Thủ Lăng Nghiêm.</p><p>Sa môn tên là Bát Lạt Mật Đế, người Thiên Trúc dịch.</p><p>Sa môn tên là Di Già Thích Ca người Ô Tràng, dịch theo tiếng Trung Quốc.</p><p>Đệ tử thụ Bồ tát giới, tên là Phòng Dung, chức Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự, ghi chép lời dịch.</p><p>Phần Thứ Nhất – Phần Tựa</p><p>Chương I - Tựa Chung</p><p>Như vậy tôi được nghe trong một thời, Phật ở tịnh xá Kỳ Hoàn thành Thất La Phiệt, cùng với chúng đại tỷ khưu một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc vô lậu Đại A la hán. Các vị Phật tử trụ trì, khéo vượt trên chư hữu, ở các quốc độ đầy đủ uy nghi, theo Phật chuyển Pháp luân, có khả năng thật hiện lời di chúc nhiệm mầu của Phật, nghiêm giữ giới luật thanh tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện thân vô số, cứu vớt chúng sinh, tột đời vị lai, khỏi các trần lụy. Các vị tên là: Đại trí Xá Lợi Phất, Ma ha Mục Kiền Liên, Ma ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đà La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm thượng thủ.</p><p>Lại có vô số các vị Bích chi vô học và sơ tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo. Nhằm ngày các vị tỷ khưu mãn hạ tự tứ, các vị Bồ tát, từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật. Đức Như Lai giải pháp tọa, ngồi khoan thai, vì cả trong Hội tỏ bày nghĩa sâu. Chúng Hội thanh tịnh được pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hòa nhã như tiếng chim ca lăng tầng già, nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ tát đều đến đạo trường, có ngài Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ.</p><p>Chương II - Tựa Riêng</p><p>Duyên Khởi Của Kinh</p><p>Khi ấy vua Ba Tư Nặc, nhân ngày kỵ phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thụ trai nơi cung cấm; vua sắm đủ các món ăn quý báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ Tát. Trong thành lại có các trưởng giả cư sĩ đồng thời cùng trai tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến ngài Văn Thù chia lãnh các vị Bồ Tát và A la hán đi đến các nhà trai chủ.</p><p>Duy có ông A Nan trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng. Ông về một mình, không có Thượng tọa và A Xà Lê cùng đi và ngày ấy cũng không được ai cúng dường. Lúc bấy giờ ông cầm bình bát vào trong một thành trên đường đi, theo thứ lớp khất thực; tâm ông trước hết cầu được một người tối hậu đàn việt làm trai chủ, không kể sang hèn, phát tâm làm sao cho tất cả chúng sinh được viên thành vô lượng công đức. Ông A Nan đã biết đức Phật Thế Tôn quở ông Tu Bồ Đề và ông Đại Ca Diếp làm A la hán mà tâm không công bằng. Ông kính vâng lời dạy vô giá của Phật độ thoát mọi điều chê bai nghi hoặc. Ông đến bên thành, thong thả vào cửa, uy nghi nghiêm chỉnh, kính giữ phép hóa trai.</p><p>Trong khi khất thực, ông A Nan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, bị phép huyễn thuật. Nàng ấy dùng tà chú Tiên phạm thiên đạo Sa Tỳ Ca La bắt vào phòng riêng, dựa kề vuốt ve làm cho ông A Nan gần phá giới thể. Đức Như Lai biết ông A Nan mắc phải dâm thuật, nên dùng trai rồi, liền trở về tịnh xá. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật, mong nghe những pháp chủ yếu của đạo Phật.</p><p>Khi ấy trên đỉnh đức Thế Tôn, phóng hào quang bách bảo vô úy; trong hào quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, có hóa thân của Phật kết già ngồi trên, tuyên đọc thần chú, khiến ngài Văn Thù đem chú nầy đến giúp đỡ, tiêu diệt tà chú, đưa ông A Nan cùng nàng Ma Đăng Già đều về chỗ Phật ở. Ông A Nan thấy Phật, đỉnh lễ khóc lóc, giận mình từ vô thủy đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực, tha thiết xin Phật dạy cho những phép Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na, là những phương tiện tu hành đầu tiên để thành đạo Bồ Đề của thập phương Như Lai. Lúc ấy lại có hằng sa Bồ tát, Đại A la hán và Bích chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lĩnh thụ thánh chỉ của Phật.</p><p>Phần Thứ Hai - Phần Chính Tông</p><p>Chương I - Chỉ Ngay Chỗ Viên Ngộ</p><p>Mục I - Gạn Hỏi Cái Tâm</p><p>Đoạn I - Nêu Trước Nguyên Do Của Thường Trụ Và Lưu Chuyển</p><p>Phật bảo ông A Nan: &#34;Tôi với ông đồng phái, tình như anh em ruột; lúc ông mới phát tâm thì ở trong Phật pháp, thấy những tướng tốt gì mà bỏ được những ân ái sâu nặng thế gian?&#34; Ông A Nan bạch Phật: &#34;Tôi thấy 32 tướng của Như Lai tốt đẹp lạ thường, hình thể sáng suốt như ngọc lưu ly, thường tự suy nghĩ: Tướng ấy không thể do dục ái sinh ra, vì sao? Giống dâm dục nhơ nhớp, tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao sinh được thân vàng thắm chói trong sạch sáng suốt như vậy, nên tôi ước mong, cắt tóc theo Phật tu học&#34;.</p><p>Phật dạy: &#34;Hay thay, A Nan, các ông nên biết hết thảy chúng sinh từ vô thủy đến nay sống chết nối nhau, đều do không biết chân tâm thường trụ, tánh tịnh minh thể, dùng các vọng tưởng, vọng tưởng này không thật, nên có luân chuyển. Nay ông muốn cứu cánh nghiên cứu vô thượng bồ đề, phát minh chân tánh, nên dùng tâm ngay thẳng đáp lời tôi hỏi. Mười phương Như Lai, do tâm ngay thẳng mà thoát sinh tử, tâm ngôn đều thẳng, từ đầu đến cuối, ở giữa cũng không cong queo. Tôi hỏi ông, khi ông phát tâm, vì thấy 32 tướng sáng tốt của Như Lai, vậy ông lấy gì thấy và lấy gì thích?&#34; Ông A Nan thưa: &#34;Tôi dùng tâm và mắt, mắt thấy tướng tốt của Phật, tâm sinh mến thích, vì vậy phát tâm, nguyện ra khỏi sinh tử&#34;.</p><p>Phật dạy: &#34;Như lời ông nói, chỗ mến thích là do tâm và mắt. Nếu ông không biết tâm mắt ở đâu, thì không thể hàng phục trần lao. Như đánh giặc, vua sai binh trừ giặc, phải biết giặc ở đâu. Làm ông lưu chuyển lỗi tại tâm mắt. Tôi hỏi ông, tâm mắt hiện ở chỗ nào?&#34; Ông A Nan thưa: &#34;Tất cả mười loại chúng sinh trong thế gian, đều cho cái tâm hiểu biết ở trong thân. Tôi thấy con mắt sen xanh của Phật cũng ở trên mặt Phật. Nay tôi quan sát bốn đại thô phù là các căn của tôi, chỉ ở trước mặt, còn cái tâm hiểu biết quả ở trong thân&#34;.</p><p>Phật dạy: &#34;Ông nay ngồi trong giảng đường của tôi, thấy gì trước hết?&#34; Ông A Nan thưa: &#34;Tôi ở trong giảng đường nhiều tầng rộng lớn thanh tịnh này, trước hết thấy Như Lai, thứ đến thấy chúng, rồi nhìn ra ngoài thấy cây cối vườn rừng&#34;. Phật dạy: &#34;Ông nhìn ra vườn rừng, do đâu mà thấy?&#34; Ông A Nan thưa: &#34;Giảng đường này cửa sổ mở rộng, nên tôi ngồi trong này thấy thông ra ngoài&#34;. Phật bảo ông A Nan: &#34;Như lời ông nói, ngồi trong giảng đường cửa mở, thấy rừng suối ở ngoài, lẽ đâu người ấy không thấy Phật, mà thấy rừng suối?&#34; Ông A Nan thưa: &#34;Không thể không thấy Phật mà thấy rừng suối ở ngoài&#34;. Phật dạy: &#34;Đúng vậy&#34;.</p><p>Đoạn II - Chấp Tâm Ở Trong Thân</p><p>Phật bảo ông A Nan: &#34;Ông nay trong giảng đường, cửa sổ mở rộng, thấy rừng suối ở ngoài, lẽ đâu cái tâm hiểu biết của ông ở trong thân, mà không thấy mắt tai mũi lưỡi ở trong, lại thấy rừng suối ở ngoài. Nếu thấy trong thân, thì trước hết phải thấy ruột gan móng vuốt, tóc lông sinh trưởng, gân chuyển mạch rung. Lại sao không thấy? Nếu không thấy trong, sao thấy ngoài?&#34; Ông A Nan thưa: &#34;Thấy trong thân thì không phải ở trong thân&#34;. Phật dạy: &#34;Giả sử đèn ở ngoài phòng, sao có thể soi trong phòng? Nếu tâm ông hiểu biết ở trong thân, thì không thấy trong, giống đèn ở ngoài phòng, không soi được trong phòng. Lời này không lầm, sao trái với nghĩa Như Lai?&#34;.</p><p>Đoạn III - Chấp Tâm Ở Ngoài Thân</p><p>Ông A Nan bạch Phật: &#34;Bạch Thế Tôn, như Phật dạy, không thấy trong, nên không ở trong thân. Thân tâm biết nhau, không rời nhau, nên không ở ngoài thân. Nay con nghĩ tâm ở một chỗ nào đó giữa hai cái&#34;. Phật dạy: &#34;Ông nói tâm ở giữa, cái giữa ấy không được mơ hồ. Sao ông cho là giữa? Chỗ giữa ấy, ở trên thân, hay ở chỗ khác? Nếu ở trên thân, thì ở giữa bề mặt, tức là ngoài, không phải giữa. Nếu ở giữa trong thân, thì giống như ở trong. Nếu ở chỗ khác, thì có dấu biết, hay không dấu biết? Nếu không dấu biết, thì như không. Nếu có dấu biết, thì có phương hướng, như ở giữa thân. Ông tự xem, cái giữa ấy chỉ vào đâu?&#34; Ông A Nan thưa: &#34;Cái tâm suy lường này không ở trong ngoài và giữa, thật như Phật dạy, thân tâm biết nhau, không rời nhau, do ba chỗ quyết định, tâm ở trong thân&#34;.</p><p>Phật dạy: &#34;Cái tâm của ông nếu ở giữa thân và cánh tay, thì có tự tánh, khi ở trong thân thì thấy trong thân, khi gặp vật ngoài thì thấy ngoài thân. Ví như có người lấy chén lưu ly đậy hai con mắt, tuy có vật đậy, nhưng tánh con mắt không thương tổn, mắt liền thấy vật. Cái tâm ông nếu biết, gặp vật ngoài thì tâm có theo ra biết không? Nếu theo ra biết, thì thấy ruột gan trong thân, sao gọi là biết trong? Nếu không theo ra, thì không thấy vật ngoài. Sao ông nói tâm ở giữa thân biết nhau với thân? Lời này không đúng&#34;.</p><p>Đoạn IV - Chấp Tâm Ở Chỗ Sở Duyên</p><p>Ông A Nan bạch Phật: &#34;Bạch Thế Tôn, con nghe Phật nói với Văn Thù v.v., tâm không ở trong không ở ngoài. Con nghĩ nếu ở trong thì không thấy ngoài, nếu ở ngoài thì thân tâm không biết nhau. Nay thân tâm biết nhau, mà không thấy trong, tất tâm ở giữa&#34;. Phật dạy: &#34;Ông nói giữa, cái giữa ấy phải chỉ rõ. Nay cái giữa ấy ở chỗ nào? Ở trên đất, ở trên hư không, hay ở trên thân? Nếu ở trên thân, ở bề mặt thì không phải giữa, ở trong thì giống như ở trong. Nếu ở trên đất, thì có chỗ dính, chỗ không dính. Nếu không dính, thì như hư không, nếu dính thì như vật. Vật có dấu biết, hư không vô tri, sao thành giữa? Nếu ở trên hư không, thì trên dưới không giữa, khắp mười phương thì không giữa. Ông không biết, trong Như Lai tàng, tánh biết là chân không, tánh không là chân biết, thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp pháp giới, tùy chúng sinh tâm, ứng sở tri lượng. Một người ở giữa, thì giữa một người, mười phương hư không cũng vậy. Các giữa không có chỗ nhất định, thì biết giữa ở đâu? Không có chỗ nhất định, tức là hư vọng, không phải chân thật. Vậy tâm ông không ở giữa&#34;.</p><p>Đoạn V - Chấp Tâm Ở Chỗ Sở Duyên</p><p>Ông A Nan bạch Phật: &#34;Bạch Thế Tôn, con cùng các bạn đường, như Phú Lâu Na và Mục Kiền Liên, cho tâm ở chỗ phân biệt. Như con suy nghĩ, phân biệt, cái hay biết này vì có đối duyên, duyên sở thì ở chỗ duyên. Không phải trong ngoài giữa, không có chỗ nhất định&#34;. Phật dạy: &#34;Ông nói ở chỗ duyên, cái duyên ấy có di động hay không? Nếu di động, thì như ở giữa, nếu không di động, thì như ở một chỗ. Duyên sở không phải không chỗ, mà nói có chỗ. Duyên trên sở duyên, sở duyên phi sở, sở duyên phi duyên, hỗn loạn không chỗ. Vậy tâm ông không ở chỗ duyên&#34;.</p><p>Đoạn VI - Chấp Tâm Ở Phi Sở Hữu</p><p>Ông A Nan bạch Phật: &#34;Bạch Thế Tôn, xưa Phật dạy Văn Thù Sư Lợi v.v., cái thấy không thấy tối là thấy. Tâm không thấy trong là tâm. Con nghĩ cái thấy trước mắt là tâm&#34;. Phật duỗi tay vàng bóp đầu A Nan, bảo: &#34;A Nan, cái thấy trước mắt không phải tâm&#34;. A Nan thưa: &#34;Đó là tâm con&#34;. Phật quở: &#34;Không phải&#34;. A Nan đứng dậy bạch Phật: &#34;Nếu không phải tâm, thì là gì?&#34; Phật dạy: &#34;Đó là tiền trần hư vọng tướng, không phải tâm ông. Ông chạy trốn nó, nó theo ông. Nếu không phải tâm, thì sao gọi là tâm?&#34;.</p><p>Đoạn VII - Chấp Tâm Ở Sở Hữu</p><p>Ông A Nan thưa: &#34;Bạch Thế Tôn, con không phải Mục Kiền Liên v.v., họ ngộ được tâm viên minh thường trụ, con chưa ngộ, xin Phật thương xót chỉ dạy&#34;. Phật từ bi bảo A Nan và đại chúng: &#34;Các ông còn dùng攀緣 tâm nghe pháp, pháp cũng thành sở duyên, chưa được pháp tánh. Như người chỉ mặt nguyệt, chỉ là chỉ, nguyệt là nguyệt. Pháp tôi dạy các ông cũng vậy. Nếu cho cái thấy nghe suy lường là tâm, thì tâm ấy phải rời các trần sắc thanh hương vị xúc, riêng có toàn tánh. Như ông nay ngồi, rời cái thấy nghe, rời ly hợp, trần tướng, cái hay biết còn lại là tâm. Nếu rời trần tướng, không có phân biệt, thì tâm ấy đồng quy quy tinh. Sao có thể phân biệt pháp tôi? Như người lấy tay bóp hư không, chỉ uổng công, hư không sao bị thương? Phật nói chân tâm, ông cho không phải, như người chỉ vật, vật không phải chỉ. Ông lấy trần làm tâm, nên bị luân chuyển. Từ đầu đến nay, ông nhận giặc làm con, mất nguyên thường, nên bị luân chuyển&#34;.</p><p>A Nan thưa: &#34;Bạch Thế Tôn, nếu cái hay biết ấy là con, sao con không biết? Cái hay biết ấy không rời con, sao không phải chân tâm?&#34; Phật dạy: &#34;Tất cả chúng sinh từ vô thủy, các vọng tưởng tồn tại, chưa từng nhận bốn đại thường trụ, nhân đó sinh diệt. Ông nay chưa ngộ, cho sinh diệt là tâm. Nên biết chân tâm vô sở trụ, bất sinh bất diệt&#34;.</p><p>A Nan thưa: &#34;Bạch Thế Tôn, trước con chưa được Phật chỉ dạy, cho tâm như của Ca Lưu Đà Di, ở ngoài thân, nay được Phật khai thị, con dùng tâm nhận, miệng nói, mắt thấy, tay chỉ, đó là tâm con. Nếu không phải, thì là gì?&#34; Phật dạy: &#34;A Nan, đó không phải tâm ông&#34;. A Nan kêu to, bạch Phật: &#34;Bạch Thế Tôn, không phải tâm con, thì gọi là gì?&#34; Phật dạy: &#34;Đó là tiền trần hư vọng tướng, mê hoặc ông chân tánh. Do mê chân tánh, từ vô thủy đến nay, nhận giặc làm con, mất nguyên thường, nên bị luân chuyển&#34;.</p><p>Mục II - Chỉ Cột Nút Để Chỉ Đầu Nút</p><p>Phật bảo A Nan: &#34;Ông tuy nhớ rõ mười hai bộ kinh, nhưng đối với nghĩa liễu của Phật, chưa thông suốt. Nay tôi chỉ cho ông&#34;. Phật lấy khăn hoa buộc sáu nút, hỏi A Nan: &#34;Cái này là gì?&#34; A Nan thưa: &#34;Khăn hoa&#34;. Phật buộc sáu nút, hỏi: &#34;Cái nút thứ nhất gọi là gì?&#34; A Nan thưa: &#34;Nút&#34;. Phật buộc các nút khác, hỏi tương tự. Phật nói: &#34;Sao khăn một, nút sáu?&#34; A Nan thưa: &#34;Khăn bản một, nút do buộc mà có&#34;. Phật dạy: &#34;Sáu nút không phải một, một không phải sáu. Theo ý ông, sáu và một đồng thời, hay thứ lớp?&#34; A Nan thưa: &#34;Đồng thời&#34;. Phật dạy: &#34;Nếu đồng thời, thì khi buộc ba nút đầu, sao gọi nút thứ ba? Không lẽ nút thứ ba là nút thứ nhất?&#34; A Nan thưa: &#34;Khăn một, nút nhiều, nút thứ nhất không phải thứ hai, thứ sáu không phải thứ nhất&#34;. Phật dạy: &#34;Sáu nút tuy khác, nhưng khăn thể một, không thể lẫn lộn. Cái tâm ông cũng vậy, cứu cánh minh liễu, không thể lẫn lộn&#34;.</p><p>Mục III - Chỉ Cởi Nút Trước Sau</p><p>Phật dạy: &#34;Nếu ông không thích sáu nút, thích một khăn, thì cởi nút thứ sáu&#34;. A Nan thưa: &#34;Nếu cởi nút thứ sáu, thì các nút khác vẫn còn&#34;. Phật dạy: &#34;Sáu căn cũng vậy, đầu cởi thô trược, cuối cùng vi tế&#34;. Phật cầm khăn hỏi: &#34;Cởi nút, khăn có hủy không?&#34; A Nan thưa: &#34;Không&#34;. Phật cởi từng nút, hỏi: &#34;Sao không cởi nút thứ ba trước?&#34; A Nan thưa: &#34;Nút có thứ lớp&#34;. Phật dạy: &#34;Sáu căn cởi cũng vậy, đầu cởi thô, sau cởi tế, cứu cánh viên minh&#34;.</p><p>A Nan thưa: &#34;Nay con cởi nút, thấy không nút, là khăn bản. Sao Phật nói không phải khăn, không phải nút?&#34; Phật dạy: &#34;Ta đầu hỏi ông khăn một nút sáu, ông nói đúng. Nay xem kỹ, khăn do tơ, màu do nhuộm, nút do buộc. Ông còn chấp tướng, sao trách ta?&#34; A Nan thưa: &#34;Nếu không phải khăn nút, thì không có sáu một. Xin Phật cởi nút cho con&#34;. Phật cầm khăn kéo mạnh, hỏi: &#34;Sao?&#34; A Nan thưa: &#34;Không cởi&#34;. Phật dạy: &#34;Ta kéo mạnh không cởi, ông kéo một đầu, sao cởi?&#34; A Nan thưa: &#34;Phải cởi từ nút gần&#34;. Phật dạy: &#34;Đúng vậy, phải cởi từ nút gần, không thể cách nút mà cởi. Ta thường nói các căn bản chân tâm thanh tịnh. Ông phải phát minh sáu căn hư vọng, cởi nút từ gần, nút kia tự cởi, được samadhi, gọi là Bồ Đề Niết Bàn&#34;.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Đại Phật Đỉnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh) là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, dạy về chân tâm bản tánh vốn thanh tịnh sáng suốt, cách nhận biết và đoạn trừ vọng tưởng, hàng phục ma chướng, và phương pháp tu tập shamatha, samadhi, dhyana để chứng ngộ đạo Bồ Đề. Kinh nhấn mạnh rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng do vô minh mà luân hồi, và chỉ rõ con đường trực chỉ chân tâm để giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Thủ Lăng Nghiêm – Quyển 1&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đề Mục Kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Đại Phật Đỉnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm (Suramgama), gọi tắt là Kinh Thủ Lăng Nghiêm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sa môn tên là Bát Lạt Mật Đế, người Thiên Trúc dịch.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sa môn tên là Di Già Thích Ca người Ô Tràng, dịch theo tiếng Trung Quốc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đệ tử thụ Bồ tát giới, tên là Phòng Dung, chức Đồng trung thư môn hạ Bình chương sự, ghi chép lời dịch.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần Thứ Nhất – Phần Tựa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chương I - Tựa Chung&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy tôi được nghe trong một thời, Phật ở tịnh xá Kỳ Hoàn thành Thất La Phiệt, cùng với chúng đại tỷ khưu một nghìn hai trăm năm mươi vị, đều là bậc vô lậu Đại A la hán. Các vị Phật tử trụ trì, khéo vượt trên chư hữu, ở các quốc độ đầy đủ uy nghi, theo Phật chuyển Pháp luân, có khả năng thật hiện lời di chúc nhiệm mầu của Phật, nghiêm giữ giới luật thanh tịnh để làm khuôn phép cho ba cõi, hiện thân vô số, cứu vớt chúng sinh, tột đời vị lai, khỏi các trần lụy. Các vị tên là: Đại trí Xá Lợi Phất, Ma ha Mục Kiền Liên, Ma ha Câu Si La, Phú Lâu Na Di Đà La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Ba Ni Sa Đà làm thượng thủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có vô số các vị Bích chi vô học và sơ tâm đồng đến chỗ Phật giảng đạo. Nhằm ngày các vị tỷ khưu mãn hạ tự tứ, các vị Bồ tát, từ mười phương đến, xin Phật giải quyết nghi hoặc, kính vâng đức Từ Nghiêm, thỉnh cầu nghĩa thâm mật. Đức Như Lai giải pháp tọa, ngồi khoan thai, vì cả trong Hội tỏ bày nghĩa sâu. Chúng Hội thanh tịnh được pháp chưa từng có. Giọng nói của Phật hòa nhã như tiếng chim ca lăng tầng già, nghe khắp mười phương. Hằng sa Bồ tát đều đến đạo trường, có ngài Văn Thù Sư Lợi làm thượng thủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chương II - Tựa Riêng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Duyên Khởi Của Kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy vua Ba Tư Nặc, nhân ngày kỵ phụ vương, mở tiệc chay mời Phật thụ trai nơi cung cấm; vua sắm đủ các món ăn quý báu, rồi thân đến rước Phật và các vị Đại Bồ Tát. Trong thành lại có các trưởng giả cư sĩ đồng thời cùng trai tăng, chờ Phật đến chứng. Phật khiến ngài Văn Thù chia lãnh các vị Bồ Tát và A la hán đi đến các nhà trai chủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Duy có ông A Nan trước đã nhận lời mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự hàng tăng chúng. Ông về một mình, không có Thượng tọa và A Xà Lê cùng đi và ngày ấy cũng không được ai cúng dường. Lúc bấy giờ ông cầm bình bát vào trong một thành trên đường đi, theo thứ lớp khất thực; tâm ông trước hết cầu được một người tối hậu đàn việt làm trai chủ, không kể sang hèn, phát tâm làm sao cho tất cả chúng sinh được viên thành vô lượng công đức. Ông A Nan đã biết đức Phật Thế Tôn quở ông Tu Bồ Đề và ông Đại Ca Diếp làm A la hán mà tâm không công bằng. Ông kính vâng lời dạy vô giá của Phật độ thoát mọi điều chê bai nghi hoặc. Ông đến bên thành, thong thả vào cửa, uy nghi nghiêm chỉnh, kính giữ phép hóa trai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong khi khất thực, ông A Nan đi qua nhà người dâm nữ Ma Đăng Già, bị phép huyễn thuật. Nàng ấy dùng tà chú Tiên phạm thiên đạo Sa Tỳ Ca La bắt vào phòng riêng, dựa kề vuốt ve làm cho ông A Nan gần phá giới thể. Đức Như Lai biết ông A Nan mắc phải dâm thuật, nên dùng trai rồi, liền trở về tịnh xá. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ đều đi theo Phật, mong nghe những pháp chủ yếu của đạo Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy trên đỉnh đức Thế Tôn, phóng hào quang bách bảo vô úy; trong hào quang hiện ra tòa sen báu nghìn cánh, có hóa thân của Phật kết già ngồi trên, tuyên đọc thần chú, khiến ngài Văn Thù đem chú nầy đến giúp đỡ, tiêu diệt tà chú, đưa ông A Nan cùng nàng Ma Đăng Già đều về chỗ Phật ở. Ông A Nan thấy Phật, đỉnh lễ khóc lóc, giận mình từ vô thủy đến nay, một bề học rộng nhớ nhiều, chưa toàn đạo lực, tha thiết xin Phật dạy cho những phép Xa Ma Tha, Tam Ma, Thiền Na, là những phương tiện tu hành đầu tiên để thành đạo Bồ Đề của thập phương Như Lai. Lúc ấy lại có hằng sa Bồ tát, Đại A la hán và Bích chi Phật, từ mười phương đến, thảy đều mong nghe Phật dạy, lui về chỗ ngồi, yên lặng lĩnh thụ thánh chỉ của Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần Thứ Hai - Phần Chính Tông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chương I - Chỉ Ngay Chỗ Viên Ngộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mục I - Gạn Hỏi Cái Tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn I - Nêu Trước Nguyên Do Của Thường Trụ Và Lưu Chuyển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo ông A Nan: &amp;#34;Tôi với ông đồng phái, tình như anh em ruột; lúc ông mới phát tâm thì ở trong Phật pháp, thấy những tướng tốt gì mà bỏ được những ân ái sâu nặng thế gian?&amp;#34; Ông A Nan bạch Phật: &amp;#34;Tôi thấy 32 tướng của Như Lai tốt đẹp lạ thường, hình thể sáng suốt như ngọc lưu ly, thường tự suy nghĩ: Tướng ấy không thể do dục ái sinh ra, vì sao? Giống dâm dục nhơ nhớp, tanh hôi kết cấu, máu mủ xen lộn, làm sao sinh được thân vàng thắm chói trong sạch sáng suốt như vậy, nên tôi ước mong, cắt tóc theo Phật tu học&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: &amp;#34;Hay thay, A Nan, các ông nên biết hết thảy chúng sinh từ vô thủy đến nay sống chết nối nhau, đều do không biết chân tâm thường trụ, tánh tịnh minh thể, dùng các vọng tưởng, vọng tưởng này không thật, nên có luân chuyển. Nay ông muốn cứu cánh nghiên cứu vô thượng bồ đề, phát minh chân tánh, nên dùng tâm ngay thẳng đáp lời tôi hỏi. Mười phương Như Lai, do tâm ngay thẳng mà thoát sinh tử, tâm ngôn đều thẳng, từ đầu đến cuối, ở giữa cũng không cong queo. Tôi hỏi ông, khi ông phát tâm, vì thấy 32 tướng sáng tốt của Như Lai, vậy ông lấy gì thấy và lấy gì thích?&amp;#34; Ông A Nan thưa: &amp;#34;Tôi dùng tâm và mắt, mắt thấy tướng tốt của Phật, tâm sinh mến thích, vì vậy phát tâm, nguyện ra khỏi sinh tử&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: &amp;#34;Như lời ông nói, chỗ mến thích là do tâm và mắt. Nếu ông không biết tâm mắt ở đâu, thì không thể hàng phục trần lao. Như đánh giặc, vua sai binh trừ giặc, phải biết giặc ở đâu. Làm ông lưu chuyển lỗi tại tâm mắt. Tôi hỏi ông, tâm mắt hiện ở chỗ nào?&amp;#34; Ông A Nan thưa: &amp;#34;Tất cả mười loại chúng sinh trong thế gian, đều cho cái tâm hiểu biết ở trong thân. Tôi thấy con mắt sen xanh của Phật cũng ở trên mặt Phật. Nay tôi quan sát bốn đại thô phù là các căn của tôi, chỉ ở trước mặt, còn cái tâm hiểu biết quả ở trong thân&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: &amp;#34;Ông nay ngồi trong giảng đường của tôi, thấy gì trước hết?&amp;#34; Ông A Nan thưa: &amp;#34;Tôi ở trong giảng đường nhiều tầng rộng lớn thanh tịnh này, trước hết thấy Như Lai, thứ đến thấy chúng, rồi nhìn ra ngoài thấy cây cối vườn rừng&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Ông nhìn ra vườn rừng, do đâu mà thấy?&amp;#34; Ông A Nan thưa: &amp;#34;Giảng đường này cửa sổ mở rộng, nên tôi ngồi trong này thấy thông ra ngoài&amp;#34;. Phật bảo ông A Nan: &amp;#34;Như lời ông nói, ngồi trong giảng đường cửa mở, thấy rừng suối ở ngoài, lẽ đâu người ấy không thấy Phật, mà thấy rừng suối?&amp;#34; Ông A Nan thưa: &amp;#34;Không thể không thấy Phật mà thấy rừng suối ở ngoài&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Đúng vậy&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn II - Chấp Tâm Ở Trong Thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo ông A Nan: &amp;#34;Ông nay trong giảng đường, cửa sổ mở rộng, thấy rừng suối ở ngoài, lẽ đâu cái tâm hiểu biết của ông ở trong thân, mà không thấy mắt tai mũi lưỡi ở trong, lại thấy rừng suối ở ngoài. Nếu thấy trong thân, thì trước hết phải thấy ruột gan móng vuốt, tóc lông sinh trưởng, gân chuyển mạch rung. Lại sao không thấy? Nếu không thấy trong, sao thấy ngoài?&amp;#34; Ông A Nan thưa: &amp;#34;Thấy trong thân thì không phải ở trong thân&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Giả sử đèn ở ngoài phòng, sao có thể soi trong phòng? Nếu tâm ông hiểu biết ở trong thân, thì không thấy trong, giống đèn ở ngoài phòng, không soi được trong phòng. Lời này không lầm, sao trái với nghĩa Như Lai?&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn III - Chấp Tâm Ở Ngoài Thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan bạch Phật: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, như Phật dạy, không thấy trong, nên không ở trong thân. Thân tâm biết nhau, không rời nhau, nên không ở ngoài thân. Nay con nghĩ tâm ở một chỗ nào đó giữa hai cái&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Ông nói tâm ở giữa, cái giữa ấy không được mơ hồ. Sao ông cho là giữa? Chỗ giữa ấy, ở trên thân, hay ở chỗ khác? Nếu ở trên thân, thì ở giữa bề mặt, tức là ngoài, không phải giữa. Nếu ở giữa trong thân, thì giống như ở trong. Nếu ở chỗ khác, thì có dấu biết, hay không dấu biết? Nếu không dấu biết, thì như không. Nếu có dấu biết, thì có phương hướng, như ở giữa thân. Ông tự xem, cái giữa ấy chỉ vào đâu?&amp;#34; Ông A Nan thưa: &amp;#34;Cái tâm suy lường này không ở trong ngoài và giữa, thật như Phật dạy, thân tâm biết nhau, không rời nhau, do ba chỗ quyết định, tâm ở trong thân&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: &amp;#34;Cái tâm của ông nếu ở giữa thân và cánh tay, thì có tự tánh, khi ở trong thân thì thấy trong thân, khi gặp vật ngoài thì thấy ngoài thân. Ví như có người lấy chén lưu ly đậy hai con mắt, tuy có vật đậy, nhưng tánh con mắt không thương tổn, mắt liền thấy vật. Cái tâm ông nếu biết, gặp vật ngoài thì tâm có theo ra biết không? Nếu theo ra biết, thì thấy ruột gan trong thân, sao gọi là biết trong? Nếu không theo ra, thì không thấy vật ngoài. Sao ông nói tâm ở giữa thân biết nhau với thân? Lời này không đúng&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn IV - Chấp Tâm Ở Chỗ Sở Duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan bạch Phật: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, con nghe Phật nói với Văn Thù v.v., tâm không ở trong không ở ngoài. Con nghĩ nếu ở trong thì không thấy ngoài, nếu ở ngoài thì thân tâm không biết nhau. Nay thân tâm biết nhau, mà không thấy trong, tất tâm ở giữa&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Ông nói giữa, cái giữa ấy phải chỉ rõ. Nay cái giữa ấy ở chỗ nào? Ở trên đất, ở trên hư không, hay ở trên thân? Nếu ở trên thân, ở bề mặt thì không phải giữa, ở trong thì giống như ở trong. Nếu ở trên đất, thì có chỗ dính, chỗ không dính. Nếu không dính, thì như hư không, nếu dính thì như vật. Vật có dấu biết, hư không vô tri, sao thành giữa? Nếu ở trên hư không, thì trên dưới không giữa, khắp mười phương thì không giữa. Ông không biết, trong Như Lai tàng, tánh biết là chân không, tánh không là chân biết, thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp pháp giới, tùy chúng sinh tâm, ứng sở tri lượng. Một người ở giữa, thì giữa một người, mười phương hư không cũng vậy. Các giữa không có chỗ nhất định, thì biết giữa ở đâu? Không có chỗ nhất định, tức là hư vọng, không phải chân thật. Vậy tâm ông không ở giữa&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn V - Chấp Tâm Ở Chỗ Sở Duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan bạch Phật: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, con cùng các bạn đường, như Phú Lâu Na và Mục Kiền Liên, cho tâm ở chỗ phân biệt. Như con suy nghĩ, phân biệt, cái hay biết này vì có đối duyên, duyên sở thì ở chỗ duyên. Không phải trong ngoài giữa, không có chỗ nhất định&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Ông nói ở chỗ duyên, cái duyên ấy có di động hay không? Nếu di động, thì như ở giữa, nếu không di động, thì như ở một chỗ. Duyên sở không phải không chỗ, mà nói có chỗ. Duyên trên sở duyên, sở duyên phi sở, sở duyên phi duyên, hỗn loạn không chỗ. Vậy tâm ông không ở chỗ duyên&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn VI - Chấp Tâm Ở Phi Sở Hữu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan bạch Phật: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, xưa Phật dạy Văn Thù Sư Lợi v.v., cái thấy không thấy tối là thấy. Tâm không thấy trong là tâm. Con nghĩ cái thấy trước mắt là tâm&amp;#34;. Phật duỗi tay vàng bóp đầu A Nan, bảo: &amp;#34;A Nan, cái thấy trước mắt không phải tâm&amp;#34;. A Nan thưa: &amp;#34;Đó là tâm con&amp;#34;. Phật quở: &amp;#34;Không phải&amp;#34;. A Nan đứng dậy bạch Phật: &amp;#34;Nếu không phải tâm, thì là gì?&amp;#34; Phật dạy: &amp;#34;Đó là tiền trần hư vọng tướng, không phải tâm ông. Ông chạy trốn nó, nó theo ông. Nếu không phải tâm, thì sao gọi là tâm?&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn VII - Chấp Tâm Ở Sở Hữu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông A Nan thưa: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, con không phải Mục Kiền Liên v.v., họ ngộ được tâm viên minh thường trụ, con chưa ngộ, xin Phật thương xót chỉ dạy&amp;#34;. Phật từ bi bảo A Nan và đại chúng: &amp;#34;Các ông còn dùng攀緣 tâm nghe pháp, pháp cũng thành sở duyên, chưa được pháp tánh. Như người chỉ mặt nguyệt, chỉ là chỉ, nguyệt là nguyệt. Pháp tôi dạy các ông cũng vậy. Nếu cho cái thấy nghe suy lường là tâm, thì tâm ấy phải rời các trần sắc thanh hương vị xúc, riêng có toàn tánh. Như ông nay ngồi, rời cái thấy nghe, rời ly hợp, trần tướng, cái hay biết còn lại là tâm. Nếu rời trần tướng, không có phân biệt, thì tâm ấy đồng quy quy tinh. Sao có thể phân biệt pháp tôi? Như người lấy tay bóp hư không, chỉ uổng công, hư không sao bị thương? Phật nói chân tâm, ông cho không phải, như người chỉ vật, vật không phải chỉ. Ông lấy trần làm tâm, nên bị luân chuyển. Từ đầu đến nay, ông nhận giặc làm con, mất nguyên thường, nên bị luân chuyển&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan thưa: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, nếu cái hay biết ấy là con, sao con không biết? Cái hay biết ấy không rời con, sao không phải chân tâm?&amp;#34; Phật dạy: &amp;#34;Tất cả chúng sinh từ vô thủy, các vọng tưởng tồn tại, chưa từng nhận bốn đại thường trụ, nhân đó sinh diệt. Ông nay chưa ngộ, cho sinh diệt là tâm. Nên biết chân tâm vô sở trụ, bất sinh bất diệt&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan thưa: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, trước con chưa được Phật chỉ dạy, cho tâm như của Ca Lưu Đà Di, ở ngoài thân, nay được Phật khai thị, con dùng tâm nhận, miệng nói, mắt thấy, tay chỉ, đó là tâm con. Nếu không phải, thì là gì?&amp;#34; Phật dạy: &amp;#34;A Nan, đó không phải tâm ông&amp;#34;. A Nan kêu to, bạch Phật: &amp;#34;Bạch Thế Tôn, không phải tâm con, thì gọi là gì?&amp;#34; Phật dạy: &amp;#34;Đó là tiền trần hư vọng tướng, mê hoặc ông chân tánh. Do mê chân tánh, từ vô thủy đến nay, nhận giặc làm con, mất nguyên thường, nên bị luân chuyển&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mục II - Chỉ Cột Nút Để Chỉ Đầu Nút&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo A Nan: &amp;#34;Ông tuy nhớ rõ mười hai bộ kinh, nhưng đối với nghĩa liễu của Phật, chưa thông suốt. Nay tôi chỉ cho ông&amp;#34;. Phật lấy khăn hoa buộc sáu nút, hỏi A Nan: &amp;#34;Cái này là gì?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Khăn hoa&amp;#34;. Phật buộc sáu nút, hỏi: &amp;#34;Cái nút thứ nhất gọi là gì?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Nút&amp;#34;. Phật buộc các nút khác, hỏi tương tự. Phật nói: &amp;#34;Sao khăn một, nút sáu?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Khăn bản một, nút do buộc mà có&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Sáu nút không phải một, một không phải sáu. Theo ý ông, sáu và một đồng thời, hay thứ lớp?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Đồng thời&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Nếu đồng thời, thì khi buộc ba nút đầu, sao gọi nút thứ ba? Không lẽ nút thứ ba là nút thứ nhất?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Khăn một, nút nhiều, nút thứ nhất không phải thứ hai, thứ sáu không phải thứ nhất&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Sáu nút tuy khác, nhưng khăn thể một, không thể lẫn lộn. Cái tâm ông cũng vậy, cứu cánh minh liễu, không thể lẫn lộn&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mục III - Chỉ Cởi Nút Trước Sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dạy: &amp;#34;Nếu ông không thích sáu nút, thích một khăn, thì cởi nút thứ sáu&amp;#34;. A Nan thưa: &amp;#34;Nếu cởi nút thứ sáu, thì các nút khác vẫn còn&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Sáu căn cũng vậy, đầu cởi thô trược, cuối cùng vi tế&amp;#34;. Phật cầm khăn hỏi: &amp;#34;Cởi nút, khăn có hủy không?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Không&amp;#34;. Phật cởi từng nút, hỏi: &amp;#34;Sao không cởi nút thứ ba trước?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Nút có thứ lớp&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Sáu căn cởi cũng vậy, đầu cởi thô, sau cởi tế, cứu cánh viên minh&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan thưa: &amp;#34;Nay con cởi nút, thấy không nút, là khăn bản. Sao Phật nói không phải khăn, không phải nút?&amp;#34; Phật dạy: &amp;#34;Ta đầu hỏi ông khăn một nút sáu, ông nói đúng. Nay xem kỹ, khăn do tơ, màu do nhuộm, nút do buộc. Ông còn chấp tướng, sao trách ta?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Nếu không phải khăn nút, thì không có sáu một. Xin Phật cởi nút cho con&amp;#34;. Phật cầm khăn kéo mạnh, hỏi: &amp;#34;Sao?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Không cởi&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Ta kéo mạnh không cởi, ông kéo một đầu, sao cởi?&amp;#34; A Nan thưa: &amp;#34;Phải cởi từ nút gần&amp;#34;. Phật dạy: &amp;#34;Đúng vậy, phải cởi từ nút gần, không thể cách nút mà cởi. Ta thường nói các căn bản chân tâm thanh tịnh. Ông phải phát minh sáu căn hư vọng, cởi nút từ gần, nút kia tự cởi, được samadhi, gọi là Bồ Đề Niết Bàn&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Thủ Lăng Nghiêm mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề từ vô thủy, hàng phục ma chướng ngoại đạo, tăng trưởng trí huệ bồ đề, bảo hộ khỏi tai ương ác đạo, giúp chứng ngộ chân tâm bản tánh, thành tựu quả vị Phật, và mang lại an lạc viên mãn trong hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="17466932" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/84db3e14-6945-4d54-acac-d405932a45d0/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">38b5f6b3-86c6-4475-ba6e-98f6435d1dae</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/84db3e14-6945-4d54-acac-d405932a45d0</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 09:16:13 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>1091</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 13_Trì</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 13_Trì</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 13 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Trì)</p><p>Phẩm 13 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, còn gọi là Phẩm Trì hoặc Khuyến Trì, nhấn mạnh vào việc khuyến khích các vị Bồ tát, A-la-hán, Tỳ-kheo-ni và chúng sinh trì giữ, đọc tụng, truyền bá kinh này sau khi Phật diệt độ. Trong đời ác trược đầy chướng ngại, các vị đệ tử phát nguyện chịu đựng mọi khổ nạn, mắng chửi, để bảo vệ và hoằng dương Pháp Hoa, đồng thời được Phật thọ ký thành Phật trong tương lai. Phẩm này thể hiện sức mạnh của niềm tin và nhẫn nhục trong việc duy trì Chánh Pháp.</p><p>Toàn văn Phẩm 13: Trì</p><p>Lúc bấy giờ, Ngài Dược Vương Đại Bồ tát và Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ tát Ma ha tát cùng chung với quyến thuộc hai muôn vị Bồ tát đều ở trước Phật nói lời thệ rằng:</p><p>Cúi mong Đức Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng nói kinh điển này, đời ác sau, chúng sanh căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn tham lợi dưỡng cúng dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát, dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức nhẫn lớn đọc tụng kinh này, thọ trì giải nói biên chép, dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mạng.</p><p>Lúc đó, trong chúng có năm trăm vị A la hán đã được thọ ký đồng bạch Phật rằng:</p><p>Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này.</p><p>Lại có bậc học và Vô học tám nghìn người đã được thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng:</p><p>Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này.</p><p>Vì sao? Vì người trong nước Ta Bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, tà vạy tâm không chơn thật. Khi đó, dì của Phật là Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni cùng chung với bậc Hữu học và Vô học Tỳ kheo ni sáu nghìn người đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt chẳng tạm rời.</p><p>Bấy giờ, Thế Tôn bảo Kiều Đàm Di:</p><p>Cớ chi có sắc buồn mà nhìn Như Lai, tâm ngươi toan không cho rằng ta chẳng nói đến tên ngươi, để thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ư?</p><p>Kiều Đàm Di! Ta trước tổng nói tất cả Thanh văn đều đã được thọ ký, nay ngươi muốn biết thọ ký đó, đời tương lai sau ngươi sẽ ở trong Pháp hội của sáu muôn tám nghìn ức Đức Phật làm vị đại Pháp sư và sáu nghìn vị Hữu học, Vô học Tỳ kheo ni đều làm Pháp sư. Ngươi lần lần đủ đạo hạnh Bồ tát như thế sẽ được thành Phật hiệu là Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.</p><p>Kiều Đàm Di! Đức Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Phật đó và sáu nghìn Bồ Tát tuần tự thọ ký được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</p><p>Bấy giờ, mẹ của La Hầu La là bà Da Du Đà LA Tỳ kheo ni nghĩ rằng:</p><p>Thế Tôn ở nơi trong hội thọ ký riêng chẳng nói đến tên tôi.</p><p>Phật bảo bà Da Du Đà La:</p><p>Ngươi ở đời sau trong Pháp hội của trăm nghìn muôn ức Đức Phật, tu hạnh Bồ tát, làm vị đại Pháp sư, lần lần đầy đủ Phật đạo ở trong cõi Thiện Quốc sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Phật sống lâu vô lượng vô số kiếp.</p><p>Lúc đó bà Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni và bà Da Du Đà LA Tỳ kheo ni cùng cả quyến thuộc đều rất vui mừng được việc chưa từng có, liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:</p><p>Đấng Thế Tôn Đạo sư</p><p>Làm an ổn trời người</p><p>Chúng con nghe thọ ký</p><p>Lòng an vui đầy đủ.</p><p>Các vị Tỳ kheo ni nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng:</p><p>Chúng con cũng có thể ở cõi nước phương khác rộng tuyên nói kinh này.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhìn tám mươi muôn ức na do tha vị Đại Bồ tát, các vị Bồ tát đó đều là bậc Bất thối chuyển, Chuyển pháp luân bất thối được các pháp tổng trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật một lòng chấp tay mà nghĩ rằng:</p><p>Nếu Đức Thế Tôn dạy bảo chúng ta nói kinh này, thời chúng ta sẽ như là Phật dạy rộng tuyên nói pháp này.</p><p>Các vị đó lại nghĩ:</p><p>Nay Đức Phật yên lặng chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?</p><p>Lúc đó, các vị Bồ Tát kính thuận ý của Phật, và muốn tự thỏa mãn bổn nguyện, bèn ở trước Phật nói lớn tiếng mà phát lời thệ rằng:</p><p>Thế Tôn, sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sanh biên chép kinh này, thọ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa lý, nghĩ nhớ chơn chánh, đúng như pháp mà tu hành, như thế đều là sức oai thần của Phật.</p><p>Cúi mong Đức Thế Tôn ở phương khác xa giữ gìn cho.</p><p>Tức thời các vị Bồ tát đều đồng tiếng mà nói kệ rằng:</p><p>Cúi mong Phật chớ lo</p><p>Sau khi Phật diệt độ</p><p>Trong đời ác ghê sợ</p><p>Chúng con sẽ rộng nói.</p><p>Có những người vô trí</p><p>Lời ác mắng rủa thảy</p><p>Và dao gậy đánh đập</p><p>Chúng con đều phải nhẫn.</p><p>Tỳ kheo trong đời ác</p><p>Trí tà lòng dua vạy</p><p>Chưa được nói đã được</p><p>Lòng ngã mạn dẫy đầy,</p><p>Hoặc người mặc áo nạp</p><p>Lặng lẽ ở chỗ vắng</p><p>Tự nói tu chơn đạo</p><p>Khinh rẻ trong nhân gian</p><p>Vì ham ưa danh lợi</p><p>Nói pháp cho bạch y</p><p>Được người đời cung kính</p><p>Như lục thông La hán</p><p>Người đó ôm lòng ác</p><p>Thường nghĩ việc thế tục</p><p>Giả danh A luyện nhã</p><p>Ưa nói lỗi chúng con</p><p>Mà nói như thế này</p><p>Các bọn Tỳ kheo này</p><p>Vì lòng tham lợi dưỡng</p><p>Nói luận nghĩa ngoại đạo</p><p>Tự làm kinh điển đó</p><p>Dối lầm người trong đời</p><p>Vì muốn cầu danh tiếng</p><p>Mà giải nói kinh đó</p><p>Thường ở trong đại chúng</p><p>Vì muốn phá chúng con</p><p>Đến quốc vương, quan lớn</p><p>Bà la môn, cư sĩ</p><p>Và chúng Tỳ kheo khác</p><p>Chê bai nói xấu con</p><p>Đó là người tà kiến</p><p>Nói luận nghĩa ngoại đạo</p><p>Chúng con vì kính Phật</p><p>Đều nhẫn các ác đó</p><p>Bị người đó khinh rằng</p><p>Các ngươi đều là Phật</p><p>Lời khinh mạn dường ấy</p><p>Đều sẽ nhẫn thọ đó.</p><p>Trong đời ác kiếp trược</p><p>Nhiều các sự sợ sệt</p><p>Quỷ dữ nhập thân kia</p><p>Mắng rủa hủy nhục con</p><p>Chúng con kính tin Phật</p><p>Sẽ mặc giáp nhẫn nhục</p><p>Vì để nói kinh này</p><p>Nên nhẫn các việc khó,</p><p>Con chẳng mến thân mạng</p><p>Chỉ tiếc đạo vô thượng.</p><p>Chúng con ở đời sau</p><p>Hộ trì lời Phật dặn</p><p>Thế Tôn tự nên biết</p><p>Tỳ kheo đời ác trược</p><p>Chẳng biết Phật phương tiện</p><p>Tùy cơ nghi nói pháp</p><p>Chau mày nói lời ác</p><p>Luôn luôn bị xua đuổi</p><p>Xa rời nơi chùa tháp</p><p>Các điều ác như thế</p><p>Nhớ lời Phật dặn bảo</p><p>Đều sẽ nhẫn việc đó</p><p>Các thành ấp xóm làng</p><p>Kia có người cầu pháp</p><p>Con đều đến chỗ đó</p><p>Nói pháp của Phật dặn.</p><p>Con là sứ của Phật</p><p>Ở trong chúng không sợ</p><p>Con sẽ khéo nói pháp</p><p>Xin Phật an lòng ở</p><p>Con ở trước Thế Tôn</p><p>Mười phương Phật đến nhóm</p><p>Phát lời thệ như thế</p><p>Phật tự rõ lòng con.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 13 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Trì)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 13 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, còn gọi là Phẩm Trì hoặc Khuyến Trì, nhấn mạnh vào việc khuyến khích các vị Bồ tát, A-la-hán, Tỳ-kheo-ni và chúng sinh trì giữ, đọc tụng, truyền bá kinh này sau khi Phật diệt độ. Trong đời ác trược đầy chướng ngại, các vị đệ tử phát nguyện chịu đựng mọi khổ nạn, mắng chửi, để bảo vệ và hoằng dương Pháp Hoa, đồng thời được Phật thọ ký thành Phật trong tương lai. Phẩm này thể hiện sức mạnh của niềm tin và nhẫn nhục trong việc duy trì Chánh Pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 13: Trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Ngài Dược Vương Đại Bồ tát và Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ tát Ma ha tát cùng chung với quyến thuộc hai muôn vị Bồ tát đều ở trước Phật nói lời thệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong Đức Thế Tôn chớ lo, sau khi Phật diệt độ chúng con sẽ phụng trì đọc tụng nói kinh điển này, đời ác sau, chúng sanh căn lành càng ít, nhiều kẻ tăng thượng mạn tham lợi dưỡng cúng dường, thêm lớn căn chẳng lành, xa lìa đạo giải thoát, dầu khó có thể giáo hóa, chúng con sẽ khởi sức nhẫn lớn đọc tụng kinh này, thọ trì giải nói biên chép, dùng các món cúng dường cho đến chẳng tiếc thân mạng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, trong chúng có năm trăm vị A la hán đã được thọ ký đồng bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Chúng con cũng tự thệ nguyện ở nơi cõi khác rộng nói kinh này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có bậc học và Vô học tám nghìn người đã được thọ ký đồng từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay hướng về phía Phật nói lời thệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Chúng con cũng sẽ ở cõi khác rộng nói kinh này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì người trong nước Ta Bà nhiều điều tệ ác, ôm lòng tăng thượng mạn, công đức cạn mỏng, giận hờn, tà vạy tâm không chơn thật. Khi đó, dì của Phật là Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni cùng chung với bậc Hữu học và Vô học Tỳ kheo ni sáu nghìn người đồng từ chỗ ngồi đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật mắt chẳng tạm rời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Thế Tôn bảo Kiều Đàm Di:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cớ chi có sắc buồn mà nhìn Như Lai, tâm ngươi toan không cho rằng ta chẳng nói đến tên ngươi, để thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ư?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiều Đàm Di! Ta trước tổng nói tất cả Thanh văn đều đã được thọ ký, nay ngươi muốn biết thọ ký đó, đời tương lai sau ngươi sẽ ở trong Pháp hội của sáu muôn tám nghìn ức Đức Phật làm vị đại Pháp sư và sáu nghìn vị Hữu học, Vô học Tỳ kheo ni đều làm Pháp sư. Ngươi lần lần đủ đạo hạnh Bồ tát như thế sẽ được thành Phật hiệu là Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiều Đàm Di! Đức Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Phật đó và sáu nghìn Bồ Tát tuần tự thọ ký được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, mẹ của La Hầu La là bà Da Du Đà LA Tỳ kheo ni nghĩ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn ở nơi trong hội thọ ký riêng chẳng nói đến tên tôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo bà Da Du Đà La:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngươi ở đời sau trong Pháp hội của trăm nghìn muôn ức Đức Phật, tu hạnh Bồ tát, làm vị đại Pháp sư, lần lần đầy đủ Phật đạo ở trong cõi Thiện Quốc sẽ được thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Phật sống lâu vô lượng vô số kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó bà Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni và bà Da Du Đà LA Tỳ kheo ni cùng cả quyến thuộc đều rất vui mừng được việc chưa từng có, liền ở trước Phật mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đấng Thế Tôn Đạo sư&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm an ổn trời người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con nghe thọ ký&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng an vui đầy đủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Tỳ kheo ni nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con cũng có thể ở cõi nước phương khác rộng tuyên nói kinh này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn nhìn tám mươi muôn ức na do tha vị Đại Bồ tát, các vị Bồ tát đó đều là bậc Bất thối chuyển, Chuyển pháp luân bất thối được các pháp tổng trì, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật một lòng chấp tay mà nghĩ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu Đức Thế Tôn dạy bảo chúng ta nói kinh này, thời chúng ta sẽ như là Phật dạy rộng tuyên nói pháp này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị đó lại nghĩ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay Đức Phật yên lặng chẳng thấy dạy bảo, chúng ta phải làm thế nào?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, các vị Bồ Tát kính thuận ý của Phật, và muốn tự thỏa mãn bổn nguyện, bèn ở trước Phật nói lớn tiếng mà phát lời thệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn, sau khi Như Lai diệt độ, chúng con đi giáp vòng qua lại khắp mười phương thế giới hay khiến chúng sanh biên chép kinh này, thọ trì, đọc tụng, giải nói nghĩa lý, nghĩ nhớ chơn chánh, đúng như pháp mà tu hành, như thế đều là sức oai thần của Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong Đức Thế Tôn ở phương khác xa giữ gìn cho.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức thời các vị Bồ tát đều đồng tiếng mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong Phật chớ lo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời ác ghê sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con sẽ rộng nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có những người vô trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời ác mắng rủa thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và dao gậy đánh đập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con đều phải nhẫn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ kheo trong đời ác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí tà lòng dua vạy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa được nói đã được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng ngã mạn dẫy đầy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc người mặc áo nạp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lặng lẽ ở chỗ vắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự nói tu chơn đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khinh rẻ trong nhân gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì ham ưa danh lợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp cho bạch y&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được người đời cung kính&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như lục thông La hán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó ôm lòng ác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nghĩ việc thế tục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả danh A luyện nhã&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ưa nói lỗi chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nói như thế này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các bọn Tỳ kheo này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lòng tham lợi dưỡng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói luận nghĩa ngoại đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự làm kinh điển đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dối lầm người trong đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì muốn cầu danh tiếng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà giải nói kinh đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ở trong đại chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì muốn phá chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến quốc vương, quan lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bà la môn, cư sĩ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và chúng Tỳ kheo khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chê bai nói xấu con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là người tà kiến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói luận nghĩa ngoại đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con vì kính Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều nhẫn các ác đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị người đó khinh rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ngươi đều là Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời khinh mạn dường ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều sẽ nhẫn thọ đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời ác kiếp trược&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều các sự sợ sệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỷ dữ nhập thân kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mắng rủa hủy nhục con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con kính tin Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ mặc giáp nhẫn nhục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì để nói kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên nhẫn các việc khó,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con chẳng mến thân mạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ tiếc đạo vô thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con ở đời sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì lời Phật dặn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn tự nên biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ kheo đời ác trược&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng biết Phật phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy cơ nghi nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chau mày nói lời ác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Luôn luôn bị xua đuổi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa rời nơi chùa tháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các điều ác như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhớ lời Phật dặn bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều sẽ nhẫn việc đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thành ấp xóm làng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kia có người cầu pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con đều đến chỗ đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp của Phật dặn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con là sứ của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong chúng không sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con sẽ khéo nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin Phật an lòng ở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con ở trước Thế Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười phương Phật đến nhóm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phát lời thệ như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tự rõ lòng con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8423131" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/cff5a80c-0b40-4784-9668-dba0e0f545a6/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">9f05e22f-c1f0-4ea0-a8a3-ed3f70fa6028</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/cff5a80c-0b40-4784-9668-dba0e0f545a6</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 08:20:31 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/8/c1f5698d-2c28-4501-b52f-517a8799de50_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>526</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 13_ Dặn Dò Cứu Độ Nhân Thiên</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 13_ Dặn Dò Cứu Độ Nhân Thiên</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.</p><p>Phẩm Thứ Mười Ba: Dặn Dò Cứu Độ Nhân Thiên</p><p>Lúc đó đức Thế-Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát mà bảo rằng:</p><p>‘Ðịa-Tạng! Ðịa-Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn.</p><p>Dầu cho các Ðức Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của ông trăm nghìn muôn kiếp cũng chẳng hết đặng.</p><p>Này Ðịa-Tạng! Ðịa-Tạng! Ông nên nhớ hôm nay ta ở trong cung trời Ðao Lợi, nơi pháp hội lớn có trăm nghìn muôn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết tất cả các đức Phật, các vị Bồ Tát, các hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng đây, một lần nữa đem các hàng chúng sanh, những kẻ ở trong nhà lửa chưa ra khỏi ba cõi, mà giao phó cho ông.</p><p>Ông chớ để các chúng sanh đó phải bị đọa vào các ác đạo dầu là chừng một ngày, một đêm, huống chi lại để cho chúng nó phải bị đọa lạc vào địa ngục ngũ vô gián cùng địa ngục A Tỳ, mãi đến nghìn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi ư.</p><p>Này Ðịa-Tạng! Tâm tánh của chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề không định, phần đông đều quen theo thói ác, thoảng hoặc có người phát tâm lành, nhưng rồi không bao lâu liền thối thất, còn như duyên ác lại luôn luôn tăng trưởng.</p><p>Cũng vì lẽ đó, nên ta phải chia thân này ra trăm nghìn ức để hóa độ, thuận theo căn tánh của chúng nó hầu làm cho chúng nó được giải thoát.</p><p>Này Ðịa-Tạng! Hôm nay ta ân cần đem chúng Trời, Người giao phó cho ông.</p><p>Trong đời sau, như có hàng Trời, Người cùng thiện nam, thiện nữ nào trồng chút ít căn lành ở trong Phập-pháp, chừng bằng sợi lông, mảy trần, hột cát, giọt nước, thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, làm cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh vô thượng, chớ để họ thối thất.</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, hoặc có trời hay người nào phải theo nghiệp mà thọ báo bị đọa vào chốn ác đạo, đến khi bị đọa vào ác đạo vừa bước đến cửa địa ngục, những chúng sanh đó nếu có thể niệm đặng danh hiệu của đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kệ kinh điển đại thừa.</p><p>Ông nên dùng thần lực của ông tìm phương chước cứu vớt các chúng sanh đó, ông nên hiện thân ra trước kẻ đó, phá tan địa ngục làm cho họ được sanh lên cõi trời hưởng những sự vui vi diệu thù thắng’.</p><p>Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng:</p><p>Ðời nay đời sau chúng Thiên, Nhơn</p><p>Nay ta ân cần dặn bảo ông;</p><p>Dùng đại thần thông quyền độ họ,</p><p>Ðừng cho ác đạo đọa vào trong.</p><p>Bấy giờ Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát quỳ gối chắp tay bạch cùng Ðức Phật rằng:</p><p>‘Bạch đức Thế-Tôn! Cúi xin đức Thế-Tôn chớ lo.</p><p>Trong đời sau, nếu có người thiện nam cùng kẻ nữ nào, đối với trong Phật-pháp có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm nghìn phương tiện độ thoát người đó, làm cho mau đặng giải thoát trong đường sanh tử, huống nữa là nghe các việc lành rồi luôn luôn tu hành, tự nhiên ở nơi đạo vô thượng không bao giờ còn thối chuyển’.</p><p>Lúc Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch lời nói trên đó vừa xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng đức Phật rằng:</p><p>‘Bạch đức Thế-Tôn! Từ khi con đến cung trời Ðao Lợi này nghe đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát.</p><p>Trong đời sau, hoặc có người thiện nam cùng thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng Trời, Rồng v.v… nghe kinh điền này và nghe danh tự của Ðịa-Tạng Bồ Tát, cùng với chiêm lễ hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời những kẻ ấy được bao nhiêu điều phước lợi?</p><p>Cúi mong đức Thế-Tôn vì tất cả hàng chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà nói lược việc ấy cho’.</p><p>Ðức Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát: ‘Lóng nghe! lóng nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông mà nói rõ việc ấy cho.</p><p>Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát và nghe kinh này, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ thời kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi sau đây:</p><p>1.- Các hàng Trời, Rồng thường hộ niệm.</p><p>2.- Quả lành càng ngày càng thêm lớn.</p><p>3.- Chứa nhóm nhơn vô thượng của Thánh.</p><p>4.- Mãi không còn thối thất đạo Bồ Ðề.</p><p>5.- Ðồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ.</p><p>6.- Những bịnh tật không đến nơi thân.</p><p>7.- Khỏi những tai nạn về lửa và nước.</p><p>8.- Không có bị hại vì trộm cướp.</p><p>9.- Người khác thấy đến sanh lòng cung kính.</p><p>10.- Các hàng Quỉ Thần theo hộ trì.</p><p>11.- Ðời sau thân gái sẽ chuyển thành thân trai.</p><p>12.- Ðời sau sẽ làm con gái các hàng Vương Giả, Ðại Thần.</p><p>13.- Thân tướng xinh đẹp.</p><p>14.- Phần nhiều được sanh về cõi trời.</p><p>15.- Hoặc làm bực vua chúa.</p><p>16.- Có trí sáng biết rõ việc trong những đời trước.</p><p>17.- Có mong cầu chi cũng được toại ý.</p><p>18.- Quyến thuộc an vui.</p><p>19.- Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch.</p><p>20.- Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn.</p><p>21.- Ði đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại.</p><p>22.- Ðêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ.</p><p>23.- Những người thân tộc đã chết nếu có tội thời được khỏi khổ.</p><p>24.- Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cõi vui sướng.</p><p>25.- Các bực Thánh ngợi khen.</p><p>26.- Căn tánh lanh lợi thông minh.</p><p>27.- Giàu lòng từ mẫn.</p><p>28.- Rốt ráo thành Phật.</p><p>Lại vầy nữa, nầy Hư Không Tạng Bồ Tát! Như hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở hiện tại và vị lai nghe danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đảnh lễ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, hoặc nghe các sự về bổn nguyện tu hành của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát mà ngợi khen chiêm lễ, thời sẽ đặng bảy điều lợi ích:</p><p>1.- Mau chứng bực Thánh.</p><p>2.- Nghiệp ác tiêu diệt.</p><p>3.- Chư Phật đến ủng hộ.</p><p>4.- Không thối thất Bồ Ðề.</p><p>5.- Bổn lực được tăng trưởng.</p><p>6.- Việc đời trước đều rõ biết.</p><p>7.- Rốt ráo thành Phật’.</p><p>Bấy giờ, bất khả thuyết tất cả các Ðức Phật và đại Bồ Tát cùng tám bộ chúng Trời, Rồng … ở mười phương đến dự Pháp-hội đó, nghe đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngợi khen tuyên bày sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đều khen là việc chưa từng có.</p><p>Lúc đó trời Ðao Lợi rưới vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Ðịa-Tạng Bồ Tát xong rồi, tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ chắp tay mà lui ra.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Mười Ba: Dặn Dò Cứu Độ Nhân Thiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó đức Thế-Tôn giơ cánh tay sắc vàng xoa đảnh Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát mà bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Ðịa-Tạng! Ðịa-Tạng! Thần lực của ông không thể nghĩ bàn, đức từ bi của ông không thể nghĩ bàn, trí huệ của ông không thể nghĩ bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu cho các Ðức Phật ở mười phương khen ngợi tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của ông trăm nghìn muôn kiếp cũng chẳng hết đặng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ðịa-Tạng! Ðịa-Tạng! Ông nên nhớ hôm nay ta ở trong cung trời Ðao Lợi, nơi pháp hội lớn có trăm nghìn muôn ức bất khả thuyết, bất khả thuyết tất cả các đức Phật, các vị Bồ Tát, các hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng đây, một lần nữa đem các hàng chúng sanh, những kẻ ở trong nhà lửa chưa ra khỏi ba cõi, mà giao phó cho ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông chớ để các chúng sanh đó phải bị đọa vào các ác đạo dầu là chừng một ngày, một đêm, huống chi lại để cho chúng nó phải bị đọa lạc vào địa ngục ngũ vô gián cùng địa ngục A Tỳ, mãi đến nghìn muôn ức kiếp không lúc nào ra khỏi ư.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ðịa-Tạng! Tâm tánh của chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề không định, phần đông đều quen theo thói ác, thoảng hoặc có người phát tâm lành, nhưng rồi không bao lâu liền thối thất, còn như duyên ác lại luôn luôn tăng trưởng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng vì lẽ đó, nên ta phải chia thân này ra trăm nghìn ức để hóa độ, thuận theo căn tánh của chúng nó hầu làm cho chúng nó được giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ðịa-Tạng! Hôm nay ta ân cần đem chúng Trời, Người giao phó cho ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời sau, như có hàng Trời, Người cùng thiện nam, thiện nữ nào trồng chút ít căn lành ở trong Phập-pháp, chừng bằng sợi lông, mảy trần, hột cát, giọt nước, thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, làm cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh vô thượng, chớ để họ thối thất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, hoặc có trời hay người nào phải theo nghiệp mà thọ báo bị đọa vào chốn ác đạo, đến khi bị đọa vào ác đạo vừa bước đến cửa địa ngục, những chúng sanh đó nếu có thể niệm đặng danh hiệu của đức Phật, hay danh hiệu của một vị Bồ Tát, cùng một câu kệ kinh điển đại thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nên dùng thần lực của ông tìm phương chước cứu vớt các chúng sanh đó, ông nên hiện thân ra trước kẻ đó, phá tan địa ngục làm cho họ được sanh lên cõi trời hưởng những sự vui vi diệu thù thắng’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðời nay đời sau chúng Thiên, Nhơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta ân cần dặn bảo ông;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng đại thần thông quyền độ họ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðừng cho ác đạo đọa vào trong.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát quỳ gối chắp tay bạch cùng Ðức Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Bạch đức Thế-Tôn! Cúi xin đức Thế-Tôn chớ lo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời sau, nếu có người thiện nam cùng kẻ nữ nào, đối với trong Phật-pháp có một niệm cung kính, con cũng dùng trăm nghìn phương tiện độ thoát người đó, làm cho mau đặng giải thoát trong đường sanh tử, huống nữa là nghe các việc lành rồi luôn luôn tu hành, tự nhiên ở nơi đạo vô thượng không bao giờ còn thối chuyển’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch lời nói trên đó vừa xong, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên là Hư Không Tạng bạch cùng đức Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Bạch đức Thế-Tôn! Từ khi con đến cung trời Ðao Lợi này nghe đức Như Lai ngợi khen oai thần thế lực không thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời sau, hoặc có người thiện nam cùng thiện nữ nào, cho đến tất cả hàng Trời, Rồng v.v… nghe kinh điền này và nghe danh tự của Ðịa-Tạng Bồ Tát, cùng với chiêm lễ hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời những kẻ ấy được bao nhiêu điều phước lợi?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong đức Thế-Tôn vì tất cả hàng chúng sanh ở hiện tại và vị lai mà nói lược việc ấy cho’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Ngài Hư Không Tạng Bồ Tát: ‘Lóng nghe! lóng nghe cho kỹ! Ta sẽ vì ông mà nói rõ việc ấy cho.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời sau, người thiện nam cùng thiện nữ nào thấy hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát và nghe kinh này, cho đến đọc tụng, dùng hương hoa, đồ ăn món uống, y phục, vật báu mà bố thí cúng dường ngợi khen chiêm lễ thời kẻ ấy được hai mươi tám điều lợi sau đây:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1.- Các hàng Trời, Rồng thường hộ niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2.- Quả lành càng ngày càng thêm lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3.- Chứa nhóm nhơn vô thượng của Thánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4.- Mãi không còn thối thất đạo Bồ Ðề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;5.- Ðồ mặc món ăn dồi dào đầy đủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6.- Những bịnh tật không đến nơi thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7.- Khỏi những tai nạn về lửa và nước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;8.- Không có bị hại vì trộm cướp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;9.- Người khác thấy đến sanh lòng cung kính.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;10.- Các hàng Quỉ Thần theo hộ trì.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;11.- Ðời sau thân gái sẽ chuyển thành thân trai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;12.- Ðời sau sẽ làm con gái các hàng Vương Giả, Ðại Thần.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;13.- Thân tướng xinh đẹp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;14.- Phần nhiều được sanh về cõi trời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;15.- Hoặc làm bực vua chúa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;16.- Có trí sáng biết rõ việc trong những đời trước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;17.- Có mong cầu chi cũng được toại ý.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;18.- Quyến thuộc an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;19.- Các tai vạ bất ngờ đều dứt sạch.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;20.- Các nghiệp về ác đạo đều trừ hẳn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;21.- Ði đến đâu cũng đều không bị sự trở ngại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;22.- Ðêm nằm chiêm bao an ổn vui vẻ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;23.- Những người thân tộc đã chết nếu có tội thời được khỏi khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;24.- Nếu về đời trước có phước thời được thọ sanh về cõi vui sướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;25.- Các bực Thánh ngợi khen.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;26.- Căn tánh lanh lợi thông minh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;27.- Giàu lòng từ mẫn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;28.- Rốt ráo thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, nầy Hư Không Tạng Bồ Tát! Như hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở hiện tại và vị lai nghe danh hiệu của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đảnh lễ hình tượng của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, hoặc nghe các sự về bổn nguyện tu hành của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát mà ngợi khen chiêm lễ, thời sẽ đặng bảy điều lợi ích:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;1.- Mau chứng bực Thánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;2.- Nghiệp ác tiêu diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;3.- Chư Phật đến ủng hộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;4.- Không thối thất Bồ Ðề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;5.- Bổn lực được tăng trưởng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;6.- Việc đời trước đều rõ biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;7.- Rốt ráo thành Phật’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, bất khả thuyết tất cả các Ðức Phật và đại Bồ Tát cùng tám bộ chúng Trời, Rồng … ở mười phương đến dự Pháp-hội đó, nghe đức Thích Ca Mâu Ni Phật ngợi khen tuyên bày sức oai thần lớn chẳng thể nghĩ bàn của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đều khen là việc chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó trời Ðao Lợi rưới vô lượng hương hoa, thiên y, chuỗi ngọc để cúng dường đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Ðịa-Tạng Bồ Tát xong rồi, tất cả đại chúng trong pháp hội đều lại chiêm lễ chắp tay mà lui ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7943314" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/36de633c-4547-43d1-a490-0d7bd1b1c6a1/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">4af1a67f-0a53-47d7-bb5c-559e77e1422d</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/36de633c-4547-43d1-a490-0d7bd1b1c6a1</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 08:14:05 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/8/25512856-e771-4a47-9d95-63440eedcff8_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>496</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 12_Lợi Ích Thấy Nghe</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 12_Lợi Ích Thấy Nghe</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.</p><p>Phẩm Thứ Mười Hai: Lợi Ích Thấy Nghe</p><p>Lúc đó, từ trên đảnh môn Đức Thế Tôn phóng ra cả trăm ngàn vạn ức tướng tia sáng lớn.</p><p>Như là: Tia sáng tướng màu trắng, tia sáng tướng màu trắng lớn; tia sáng tướng tốt lành, tia sáng tướng tốt lành lớn; tia sáng tướng ngọc, tia sáng tướng ngọc lớn; tia sáng tướng màu tía, tia sáng tướng màu tía lớn; tia sáng tướng màu xanh, tia sáng tướng màu xanh lớn; tia sáng tướng màu xanh biếc, tia sáng tướng màu xanh biếc lớn; tia sáng tướng màu đỏ, tia sáng tướng màu đỏ lớn; tia sáng tướng màu lục, tia sáng tướng màu lục lớn; tia sáng tướng màu vàng y, tia sáng tướng màu vàng y lớn; tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn; tia sáng ngàn vòng tròn, tia sáng ngàn vòng tròn lớn; tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn; tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn; tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn; tia sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn; tia sáng mây biển, tia sáng mây biển lớn.</p><p>Từ trên đảnh môn phóng ra những tướng tia sáng như thế xong, lại nói ra tiếng vi diệu mà bảo đại chúng, Thiên Long Bát Bộ, nhân cùng phi nhân v.v... rằng: “Hãy lắng nghe hôm nay Ta, tại cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng về những sự lợi ích trong hàng trời, người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh, những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”</p><p>Nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây đầy đủ đức đại từ bi, thương xót chúng sanh mắc tội khổ. Bồ Tát ở trong ngàn vạn ức thế giới hóa hiện ra ngàn vạn ức thân, tất cả công đức cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn.</p><p>Con được nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng rằng dầu cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đều tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể nói hết được.</p><p>Vừa rồi lại được Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng muốn tuyên nói các sự lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng. Cúi mong Đức Thế Tôn, vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai, mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng, khiến cho Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ được phước.”</p><p>Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên với thế giới Ta Bà. Nếu hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc thần hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh tội khổ trong Lục Đạo nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, mến tưởng đến ông, khen ngợi ông, thì những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành thục liền được gặp Phật thọ ký cho.</p><p>Nay ông sẵn lòng đại từ bi, thương xót các chúng sanh cùng Thiên Long Bát Bộ, mà muốn nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng. Ông hãy lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ.”</p><p>Ngài Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng, bạch Đức Thế Tôn! Con xin ưa muốn nghe.”</p><p>Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, có vị thiên nhân nào phước trời thọ hưởng đã hết, có Ngũ Suy Tướng hiện ra, hoặc có vị phải đọa lạc nơi chốn ác đạo; các vị thiên nhân đó, hoặc nam hoặc nữ, đương lúc tướng suy hiện ra, mà hoặc thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, thì các vị thiên nhân đó được phước trời thêm lớn, hưởng nhiều sự vui sướng, vĩnh viễn không phải đọa lạc vào ba ác đạo nữa; huống chi là được thấy tượng, được nghe tên của Bồ Tát, rồi đem các thức hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, vật báu, chuỗi anh lạc... mà bố thí cúng dường, thì công đức phước lợi có được sẽ vô lượng vô biên.”</p><p>“Lại nữa, này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, nếu những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua lỗ tai, thì các chúng sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa.</p><p>Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v... của người sắp chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết, được mắt thấy tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v... vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ thêm lâu dài.</p><p>Còn nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào đường ác, song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.”</p><p>“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ nam người nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mẹ, cho đến chết mất anh em chị em, người đó khi khôn lớn thường nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng quyến thuộc, song không rõ họ lạc vào chốn nào, sanh về thế giới nào, hoặc sanh trong cõi trời nào.</p><p>Người đó như có thể đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, thậm chí nghe danh hiệu, một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, trong từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối thất tâm nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng, chiêm lễ, cúng dường; thì quyến thuộc của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác lẽ ra phải chịu đến nhiều số kiếp, nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và chiêm lễ của con cái, anh em chị em, nên liền được giải thoát, sanh trong cõi trời cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.</p><p>Còn như quyến thuộc của người đó có phước lực, đã được sanh vào cõi trời, cõi người và hưởng thọ sự vui thù thắng vi diệu rồi, thì sẽ nhờ công đức này mà nhân Thánh tăng trưởng, hưởng vô lượng sự vui.”</p><p>“Như người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày nhất tâm chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và niệm danh hiệu của Ngài đủ một vạn biến, thì sẽ được Bồ Tát hiện thân vô biên, mách bảo người đó cõi giới mà hàng quyến thuộc đã sanh về; hoặc trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, đích thân dắt người đó đến các thế giới để thấy hàng quyến thuộc của mình.</p><p>Nếu người đó lại có thể mỗi ngày đều niệm danh hiệu Bồ Tát một ngàn biến, luôn đến một ngàn ngày, thì người đó sẽ được Bồ Tát sai các quỷ thần và thổ địa sở tại hộ vệ trọn đời, hiện đời y phục thức ăn dư dật, không có các thứ bệnh khổ, cho đến các hoạnh sự còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân! Người đó rốt ráo sẽ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”</p><p>“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu Đạo Bồ Đề Vô Thượng, muốn ra khỏi Tam Giới; những người đó thấy hình tượng Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe danh hiệu, rồi chí tâm quy y, hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn thức uống để cúng dường chiêm lễ, thì điều nguyện cầu của các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh viễn không bị chướng ngại.”</p><p>“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc về hiện tại cùng vị lai, thì nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; thì các điều sở nguyện sở cầu như thế tất đều thành tựu cả.</p><p>Nếu lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”</p><p>“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại Thừa sanh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn muốn đọc, muốn tụng, dầu gặp được bậc minh sư dạy bảo cho thành thục, song đọc rồi lại quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không đọc tụng được; những kẻ thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc tụng.”</p><p>“Những hạng người này, khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát cùng thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem hết bổn tâm mà cung kính bày tỏ; rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dường Bồ Tát. Lại đem một chén nước trong đặt trước Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó chắp tay thỉnh để uống, mặt day về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh trọng. Uống nước xong, phải kiêng cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày. Những người thiện nam thiện nữ này, trong giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân vô biên đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đảnh cho. Những người này thức dậy liền được thông minh, các kinh điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!”</p><p>“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có những người nào ăn mặc không đủ, cầu gì cũng trái nguyện, hoặc nhiều bệnh tật, hoặc nhiều sự hung suy, nhà cửa không yên ổn, quyến thuộc bị phân tán, hoặc các hoạnh sự cứ xảy đến làm thiệt thân, khi ngủ thường mộng thấy điều kinh sợ; những người như thế, khi nghe danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, mà chí tâm cung kính niệm đủ một vạn biến, thì những sự không như ý sẽ tiêu sạch lần lần, liền được an vui, đồ ăn mặc dư dật, cho đến trong giấc mộng thảy đều an vui.”</p><p>“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc vì việc làm ăn sinh sống, hoặc vì việc công chuyện tư, hoặc vì sự sanh sự tử, hoặc vì việc khẩn cấp, mà phải vào rừng lên núi, qua sông vượt biển, cho đến gặp nước lớn hoặc đi ngang hiểm đạo; người đó trước tiên nên niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát một vạn biến, thì đi qua nơi nào cũng có các vị quỷ thần hộ vệ, đi đứng nằm ngồi mãi mãi được an lạc, cho đến dẫu gặp cọp, sói, sư tử... cùng tất cả mọi thứ độc hại đều không thể phạm đến người đó được.</p><p>Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: ‘Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát có nhơn duyên rất lớn với cõi Diêm Phù Ðề. Nếu nói về những sự mà các hàng chúng sanh thấy hình nghe tên của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát được lợi ích, thời dầu nói đến trong trăm nghìn kiếp cũng không biết được.</p><p>Này Quán Thế Âm Bồ Tát! Vì thế Ông nên dùng thần lực mà lưu truyền kinh này làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà đây mãi đến trăm nghìn kiếp được hưởng những sự an vui luôn’.</p><p>Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng:</p><p>– Ta xem Ðịa-Tạng sức oai thần</p><p>kiếp số Hằng-sa khó tỏ trần,</p><p>Thấy nghe một niệm chiêm ngưỡng lễ,</p><p>Trời, người lợi ích sự không ngằn,</p><p>– Hoặc Rồng hoặc Thần cùng nam – nữ</p><p>Báo tận sẽ sa vào đường dữ,</p><p>Chí tâm qui mạng Ðại Sĩ thân,</p><p>Tuổi thọ thêm nhiều trừ tội dữ.</p><p>Trẻ thơ chết mất mẹ cùng cha,</p><p>Huynh đệ chị em kẻ ruột rà,</p><p>Lớn khôn nghĩ đến đều không biết,</p><p>Nẻo dữ đường lành ở đâu là?</p><p>Hoặc vẽ, hoặc tô Ðại Sĩ hình</p><p>Cảm thương chiêm lễ biệt chẳng đành,</p><p>Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu.</p><p>Bồ-tát hiện thân đến bên mình:</p><p>Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nào,</p><p>Dầu sa ác thú cũng ra mau,</p><p>Nếu được không lui lòng kính ngưỡng,</p><p>Thánh ký, Bồ-tát vuốt đầu trao.</p><p>Bồ-đề vô thượng muốn tu hành,</p><p>Mong ra ba cõi khỏi tử sinh,</p><p>Người này đã phát lòng bi lớn</p><p>Trước nên chiêm lễ Ðại Sĩ hình.</p><p>Nghe tên quy y đấng trọn lành,</p><p>Cúng dường cung kính phát lòng thành,</p><p>Nghiệp chướng chẳng hề ngăn chướng đặng</p><p>Bao nhiêu mong ước sớm viên thành.</p><p>Có kẻ phát tâm tụng kinh sách</p><p>Muốn độ chúng sanh khỏi tai ách</p><p>Dầu lập nguyện lớn chẳng nghĩ bàn</p><p>Ðọc rồi quên rồi luôn sót mất.</p><p>Người này nghiệp chướng nó làm mê</p><p>Học đại thừa kinh khó mọi bề</p><p>Y phục, uống ăn, các ngọa cụ,</p><p>Cúng dường Ðịa-Tạng với hương hoa.</p><p>Dùng chén nước trong bày trước tượng,</p><p>Cách một ngày đêm bưng lấy uống,</p><p>Sanh lòng ân trọng cữ ngũ tân</p><p>Rượu thịt, tà dâm cùng dối luống.</p><p>Trong hăm mốt ngày chớ sát sanh,</p><p>Chuyên lòng tưởng niệm Thượng Nhơn danh,</p><p>Chiêm bao thấy rõ Tôn-dung hiện,</p><p>Thức rồi, liền đặng trí khôn lanh.</p><p>Ðại Thừa kinh giáo nghe qua tai,</p><p>Nghìn vạn đời sau nhớ chẳng sai,</p><p>Chính nhờ Ðại Sĩ oai thần lớn</p><p>Thầm giúp người kia có huệ tài.</p><p>Chúng sanh nghèo khổ lại ốm đau,</p><p>Cửa nhà họa hoạn, người lìa nhau</p><p>Ngủ mê mộng mị không an giấc,</p><p>Cầu muốn hỏng hư chẳng được nào!</p><p>Dốc lòng chiêm lễ Ðịa-Tạng Ngài,</p><p>Bao nhiêu việc ác thảy tiêu ngay</p><p>Nhẫn đến chiêm bao đều an cả,</p><p>Quỉ Thần phò hộ, của dư xài.</p><p>Muốn qua sông biển, đến núi rừng,</p><p>Cầm thú độc nguy, giặc đón đường,</p><p>Ác Thần, ác Quỉ, mưa gió dữ,</p><p>Nhiều nỗi gian nan khốn không lường,</p><p>Sắp sửa ra đi đối trước tượng</p><p>Cúng dường kính lễ cùng chiêm ngưỡng.</p><p>Núi rừng biển cả có vào trong</p><p>Ác tai tiêu sạch thường an sướng.</p><p>Quán Âm lóng nghe ta nói rõ</p><p>Ðịa-Tạng vô lượng oai thần đó,</p><p>Trăm nghìn muôn kiếp thuật chẳng rồi,</p><p>Rộng tuyên Ðại Sĩ đầy sức nọ!</p><p>Như người nghe đến Ðịa-Tạng danh,</p><p>Thấy hình chiêm lễ hết lòng thành,</p><p>Hương hoa, ăn uống, dưng y phục,</p><p>Trăm nghìn báo đẹp hưởng điều lành.</p><p>Nếu hay đem công hồi pháp giới,</p><p>Rốt ráo thành Phật, sanh tử khỏi,</p><p>Quán Âm nên biết gắng tuyên bày,</p><p>Truyền khắp Hằng-sa nhiều nước cõi!</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Mười Hai: Lợi Ích Thấy Nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, từ trên đảnh môn Đức Thế Tôn phóng ra cả trăm ngàn vạn ức tướng tia sáng lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như là: Tia sáng tướng màu trắng, tia sáng tướng màu trắng lớn; tia sáng tướng tốt lành, tia sáng tướng tốt lành lớn; tia sáng tướng ngọc, tia sáng tướng ngọc lớn; tia sáng tướng màu tía, tia sáng tướng màu tía lớn; tia sáng tướng màu xanh, tia sáng tướng màu xanh lớn; tia sáng tướng màu xanh biếc, tia sáng tướng màu xanh biếc lớn; tia sáng tướng màu đỏ, tia sáng tướng màu đỏ lớn; tia sáng tướng màu lục, tia sáng tướng màu lục lớn; tia sáng tướng màu vàng y, tia sáng tướng màu vàng y lớn; tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn; tia sáng ngàn vòng tròn, tia sáng ngàn vòng tròn lớn; tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn; tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn; tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn; tia sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn; tia sáng mây biển, tia sáng mây biển lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ trên đảnh môn phóng ra những tướng tia sáng như thế xong, lại nói ra tiếng vi diệu mà bảo đại chúng, Thiên Long Bát Bộ, nhân cùng phi nhân v.v... rằng: “Hãy lắng nghe hôm nay Ta, tại cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng về những sự lợi ích trong hàng trời, người, những sự không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh, những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây đầy đủ đức đại từ bi, thương xót chúng sanh mắc tội khổ. Bồ Tát ở trong ngàn vạn ức thế giới hóa hiện ra ngàn vạn ức thân, tất cả công đức cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con được nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng rằng dầu cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đều tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể nói hết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vừa rồi lại được Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng muốn tuyên nói các sự lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng. Cúi mong Đức Thế Tôn, vì tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai, mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng, khiến cho Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ được phước.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên với thế giới Ta Bà. Nếu hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc thần hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh tội khổ trong Lục Đạo nghe danh hiệu của ông, thấy hình tượng của ông, mến tưởng đến ông, khen ngợi ông, thì những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành thục liền được gặp Phật thọ ký cho.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ông sẵn lòng đại từ bi, thương xót các chúng sanh cùng Thiên Long Bát Bộ, mà muốn nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng. Ông hãy lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng, bạch Đức Thế Tôn! Con xin ưa muốn nghe.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, có vị thiên nhân nào phước trời thọ hưởng đã hết, có Ngũ Suy Tướng hiện ra, hoặc có vị phải đọa lạc nơi chốn ác đạo; các vị thiên nhân đó, hoặc nam hoặc nữ, đương lúc tướng suy hiện ra, mà hoặc thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, thì các vị thiên nhân đó được phước trời thêm lớn, hưởng nhiều sự vui sướng, vĩnh viễn không phải đọa lạc vào ba ác đạo nữa; huống chi là được thấy tượng, được nghe tên của Bồ Tát, rồi đem các thức hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, vật báu, chuỗi anh lạc... mà bố thí cúng dường, thì công đức phước lợi có được sẽ vô lượng vô biên.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lại nữa, này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, nếu những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua lỗ tai, thì các chúng sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v... của người sắp chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết, được mắt thấy tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v... vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ thêm lâu dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào đường ác, song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ nam người nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mẹ, cho đến chết mất anh em chị em, người đó khi khôn lớn thường nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng quyến thuộc, song không rõ họ lạc vào chốn nào, sanh về thế giới nào, hoặc sanh trong cõi trời nào.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó như có thể đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, thậm chí nghe danh hiệu, một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, trong từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối thất tâm nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng, chiêm lễ, cúng dường; thì quyến thuộc của người đó nếu do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác lẽ ra phải chịu đến nhiều số kiếp, nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và chiêm lễ của con cái, anh em chị em, nên liền được giải thoát, sanh trong cõi trời cõi người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn như quyến thuộc của người đó có phước lực, đã được sanh vào cõi trời, cõi người và hưởng thọ sự vui thù thắng vi diệu rồi, thì sẽ nhờ công đức này mà nhân Thánh tăng trưởng, hưởng vô lượng sự vui.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Như người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày nhất tâm chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và niệm danh hiệu của Ngài đủ một vạn biến, thì sẽ được Bồ Tát hiện thân vô biên, mách bảo người đó cõi giới mà hàng quyến thuộc đã sanh về; hoặc trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, đích thân dắt người đó đến các thế giới để thấy hàng quyến thuộc của mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người đó lại có thể mỗi ngày đều niệm danh hiệu Bồ Tát một ngàn biến, luôn đến một ngàn ngày, thì người đó sẽ được Bồ Tát sai các quỷ thần và thổ địa sở tại hộ vệ trọn đời, hiện đời y phục thức ăn dư dật, không có các thứ bệnh khổ, cho đến các hoạnh sự còn không hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân! Người đó rốt ráo sẽ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu Đạo Bồ Đề Vô Thượng, muốn ra khỏi Tam Giới; những người đó thấy hình tượng Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe danh hiệu, rồi chí tâm quy y, hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn thức uống để cúng dường chiêm lễ, thì điều nguyện cầu của các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh viễn không bị chướng ngại.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc về hiện tại cùng vị lai, thì nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi khen hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; thì các điều sở nguyện sở cầu như thế tất đều thành tựu cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại Thừa sanh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn muốn đọc, muốn tụng, dầu gặp được bậc minh sư dạy bảo cho thành thục, song đọc rồi lại quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không đọc tụng được; những kẻ thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch, cho nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc tụng.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Những hạng người này, khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát cùng thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem hết bổn tâm mà cung kính bày tỏ; rồi dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dường Bồ Tát. Lại đem một chén nước trong đặt trước Bồ Tát một ngày một đêm, sau đó chắp tay thỉnh để uống, mặt day về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh trọng. Uống nước xong, phải kiêng cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi mốt ngày. Những người thiện nam thiện nữ này, trong giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân vô biên đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đảnh cho. Những người này thức dậy liền được thông minh, các kinh điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có những người nào ăn mặc không đủ, cầu gì cũng trái nguyện, hoặc nhiều bệnh tật, hoặc nhiều sự hung suy, nhà cửa không yên ổn, quyến thuộc bị phân tán, hoặc các hoạnh sự cứ xảy đến làm thiệt thân, khi ngủ thường mộng thấy điều kinh sợ; những người như thế, khi nghe danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, mà chí tâm cung kính niệm đủ một vạn biến, thì những sự không như ý sẽ tiêu sạch lần lần, liền được an vui, đồ ăn mặc dư dật, cho đến trong giấc mộng thảy đều an vui.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Lại nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam thiện nữ nào, hoặc vì việc làm ăn sinh sống, hoặc vì việc công chuyện tư, hoặc vì sự sanh sự tử, hoặc vì việc khẩn cấp, mà phải vào rừng lên núi, qua sông vượt biển, cho đến gặp nước lớn hoặc đi ngang hiểm đạo; người đó trước tiên nên niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát một vạn biến, thì đi qua nơi nào cũng có các vị quỷ thần hộ vệ, đi đứng nằm ngồi mãi mãi được an lạc, cho đến dẫu gặp cọp, sói, sư tử... cùng tất cả mọi thứ độc hại đều không thể phạm đến người đó được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát: ‘Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát có nhơn duyên rất lớn với cõi Diêm Phù Ðề. Nếu nói về những sự mà các hàng chúng sanh thấy hình nghe tên của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát được lợi ích, thời dầu nói đến trong trăm nghìn kiếp cũng không biết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Quán Thế Âm Bồ Tát! Vì thế Ông nên dùng thần lực mà lưu truyền kinh này làm cho chúng sanh trong cõi Ta Bà đây mãi đến trăm nghìn kiếp được hưởng những sự an vui luôn’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Ta xem Ðịa-Tạng sức oai thần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;kiếp số Hằng-sa khó tỏ trần,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy nghe một niệm chiêm ngưỡng lễ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời, người lợi ích sự không ngằn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Hoặc Rồng hoặc Thần cùng nam – nữ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Báo tận sẽ sa vào đường dữ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí tâm qui mạng Ðại Sĩ thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tuổi thọ thêm nhiều trừ tội dữ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trẻ thơ chết mất mẹ cùng cha,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huynh đệ chị em kẻ ruột rà,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lớn khôn nghĩ đến đều không biết,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nẻo dữ đường lành ở đâu là?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc vẽ, hoặc tô Ðại Sĩ hình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cảm thương chiêm lễ biệt chẳng đành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hăm mốt ngày luôn niệm danh hiệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ-tát hiện thân đến bên mình:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ rành quyến thuộc ở nơi nào,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu sa ác thú cũng ra mau,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu được không lui lòng kính ngưỡng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh ký, Bồ-tát vuốt đầu trao.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ-đề vô thượng muốn tu hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mong ra ba cõi khỏi tử sinh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người này đã phát lòng bi lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trước nên chiêm lễ Ðại Sĩ hình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe tên quy y đấng trọn lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường cung kính phát lòng thành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghiệp chướng chẳng hề ngăn chướng đặng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bao nhiêu mong ước sớm viên thành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có kẻ phát tâm tụng kinh sách&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn độ chúng sanh khỏi tai ách&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu lập nguyện lớn chẳng nghĩ bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðọc rồi quên rồi luôn sót mất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người này nghiệp chướng nó làm mê&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Học đại thừa kinh khó mọi bề&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y phục, uống ăn, các ngọa cụ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường Ðịa-Tạng với hương hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng chén nước trong bày trước tượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cách một ngày đêm bưng lấy uống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh lòng ân trọng cữ ngũ tân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rượu thịt, tà dâm cùng dối luống.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong hăm mốt ngày chớ sát sanh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyên lòng tưởng niệm Thượng Nhơn danh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chiêm bao thấy rõ Tôn-dung hiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thức rồi, liền đặng trí khôn lanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðại Thừa kinh giáo nghe qua tai,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghìn vạn đời sau nhớ chẳng sai,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chính nhờ Ðại Sĩ oai thần lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thầm giúp người kia có huệ tài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh nghèo khổ lại ốm đau,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cửa nhà họa hoạn, người lìa nhau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngủ mê mộng mị không an giấc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu muốn hỏng hư chẳng được nào!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dốc lòng chiêm lễ Ðịa-Tạng Ngài,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bao nhiêu việc ác thảy tiêu ngay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn đến chiêm bao đều an cả,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỉ Thần phò hộ, của dư xài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn qua sông biển, đến núi rừng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầm thú độc nguy, giặc đón đường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ác Thần, ác Quỉ, mưa gió dữ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều nỗi gian nan khốn không lường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắp sửa ra đi đối trước tượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường kính lễ cùng chiêm ngưỡng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Núi rừng biển cả có vào trong&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ác tai tiêu sạch thường an sướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán Âm lóng nghe ta nói rõ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng vô lượng oai thần đó,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trăm nghìn muôn kiếp thuật chẳng rồi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng tuyên Ðại Sĩ đầy sức nọ!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người nghe đến Ðịa-Tạng danh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy hình chiêm lễ hết lòng thành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương hoa, ăn uống, dưng y phục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trăm nghìn báo đẹp hưởng điều lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu hay đem công hồi pháp giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rốt ráo thành Phật, sanh tử khỏi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán Âm nên biết gắng tuyên bày,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Truyền khắp Hằng-sa nhiều nước cõi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="15753717" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/87848f2d-9f87-4a0a-8978-f38a36521919/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">990872e2-2597-4736-bddd-a3ce22c85552</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/87848f2d-9f87-4a0a-8978-f38a36521919</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 08:12:03 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/8/104b67c5-2f8d-4b42-814e-2cae8412673a_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>984</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 11_Địa Thần Hộ Pháp</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 11_Địa Thần Hộ Pháp</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.</p><p>Phẩm Thứ Mười Một: Địa Thần Hộ Pháp</p><p>Lúc đó vị Kiên Lao Ðịa Thần bạch cùng Ðức Phật rằng: ‘Bạch đức Thế-Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng vị đại Bồ Tát, đều là những bực trí huệ thần thông lớn không thể nghĩ bàn độ khắp mọi loài chúng sanh.</p><p>Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây so với các vị Bồ Tát chỗ thệ nguyện rất là sâu rộng.</p><p>Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây có nhơn duyên lớn với chúng sanh trong Diêm Phù Ðề.</p><p>Như Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Ngài Quan Âm, Ngài Di Lặc cũng hóa hiện trăm nghìn thân hình để độ chúng sanh trong sáu đường, nhưng chỗ phát nguyện của các Ngài còn có lúc hoàn mãn.</p><p>Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong sáu đường trải đến kiếp số như số cát trong trăm nghìn ức sông Hằng.</p><p>Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau, nơi chỗ sạch sẽ ở phương nam trong cuộc đất của mình ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất.</p><p>Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích.</p><p>Những gì là mười điều?</p><p>Một là đất cát tốt mầu,</p><p>Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi,</p><p>Ba là người đã chết được sanh lên cõi trời,</p><p>Bốn là những người hiện còn hưởng sự lợi ích,</p><p>Năm là cầu chi cũng toại ý cả,</p><p>Sáu là không có tai họa về nước và lửa,</p><p>Bẩy là trừ sạch việc hư hao,</p><p>Tám là dứt hẳn ác mộng,</p><p>Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ,</p><p>Mười là thường gặp bực Thánh Nhơn.</p><p>Bạch đức Thế-Tôn! Chúng sanh trong đời sau cùng hiện tại nay, nếu ở nơi phần đất của mình cư trụ mà có thể làm ra sự cúng dường Ngài Ðịa-Tạng như thế, thời được sự lợi ích như vậy’.</p><p>Vị Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch với đức Phật rằng:</p><p>‘Bạch đức Thế-Tôn! Trong đời sau này, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong chỗ của mình cư trụ mà có kinh điển này cùng hình tượng của đức Ðịa-Tạng Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của Bồ Tát.</p><p>Thời con dùng thần lực của con thường hộ vệ người đó, cho đến tất cả sự tai họa như nước, lửa, trộm, cướp, nạn lớn, nạn nhỏ, v.v… thảy đều tiêu sạch’.</p><p>Ðức Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần rằng: ‘Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng.</p><p>Vì cớ sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù Ðề đều nhờ ông hộ trợ, cho đến cỏ cây, cát đá, lúa mè, tre lau, gạo thóc, của báu, tất cả những thứ từ đất mà có ra đều nhờ nơi sức thần của ông cả.</p><p>Nay ông lại tuyên bày những sự lợi ích của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời công đức và thần thông của ông lại càng thêm trăm nghìn lần trội hơn lúc thường.</p><p>Này Ðịa Thần! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Ðịa-Tạng Bồ Tát cùng đọc tụng kinh điển này, chỉ có thể tu hành theo một việc mà trong kinh ‘Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện’ đã dạy.</p><p>Thời ông nên dùng thần lực của ông mà ủng hộ người đó, chớ để tất cả sự tai hại cùng sự không vừa ý đến nghe nơi tai, huống nữa là để cho phải chịu.</p><p>Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, quyến thuộc của chư Thiên ủng hộ người đó.</p><p>Tại sao lại đặng các vị Hiền Thánh ủng hộ như thế?</p><p>Ðều do vì những người ấy chiêm lễ hình tượng của Ðịa-Tạng Bồ Tát và đọc tụng kinh ‘Bổn Nguyện’ này, tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ chứng đạo Niết Bàn an vui, vì thế nên đặng ủng hộ một cách lớn lao như thế’.</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Mười Một: Địa Thần Hộ Pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó vị Kiên Lao Ðịa Thần bạch cùng Ðức Phật rằng: ‘Bạch đức Thế-Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng vị đại Bồ Tát, đều là những bực trí huệ thần thông lớn không thể nghĩ bàn độ khắp mọi loài chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây so với các vị Bồ Tát chỗ thệ nguyện rất là sâu rộng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây có nhơn duyên lớn với chúng sanh trong Diêm Phù Ðề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Ngài Văn Thù, Ngài Phổ Hiền, Ngài Quan Âm, Ngài Di Lặc cũng hóa hiện trăm nghìn thân hình để độ chúng sanh trong sáu đường, nhưng chỗ phát nguyện của các Ngài còn có lúc hoàn mãn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả chúng sanh trong sáu đường trải đến kiếp số như số cát trong trăm nghìn ức sông Hằng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh ở hiện tại nay và về vị lai sau, nơi chỗ sạch sẽ ở phương nam trong cuộc đất của mình ở, dùng đất đá tre gỗ mà dựng cất cái khám cái thất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đó có thể họa vẽ, cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát, đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thời chỗ người đó ở được mười điều lợi ích.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những gì là mười điều?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một là đất cát tốt mầu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba là người đã chết được sanh lên cõi trời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn là những người hiện còn hưởng sự lợi ích,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm là cầu chi cũng toại ý cả,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáu là không có tai họa về nước và lửa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bẩy là trừ sạch việc hư hao,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tám là dứt hẳn ác mộng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chín là khi ra lúc vào có thần theo hộ vệ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười là thường gặp bực Thánh Nhơn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch đức Thế-Tôn! Chúng sanh trong đời sau cùng hiện tại nay, nếu ở nơi phần đất của mình cư trụ mà có thể làm ra sự cúng dường Ngài Ðịa-Tạng như thế, thời được sự lợi ích như vậy’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch với đức Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Bạch đức Thế-Tôn! Trong đời sau này, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong chỗ của mình cư trụ mà có kinh điển này cùng hình tượng của đức Ðịa-Tạng Bồ Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của Bồ Tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời con dùng thần lực của con thường hộ vệ người đó, cho đến tất cả sự tai họa như nước, lửa, trộm, cướp, nạn lớn, nạn nhỏ, v.v… thảy đều tiêu sạch’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần rằng: ‘Thần lực rộng lớn của ông, các thần khác ít ai bằng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cớ sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù Ðề đều nhờ ông hộ trợ, cho đến cỏ cây, cát đá, lúa mè, tre lau, gạo thóc, của báu, tất cả những thứ từ đất mà có ra đều nhờ nơi sức thần của ông cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ông lại tuyên bày những sự lợi ích của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời công đức và thần thông của ông lại càng thêm trăm nghìn lần trội hơn lúc thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ðịa Thần! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Ðịa-Tạng Bồ Tát cùng đọc tụng kinh điển này, chỉ có thể tu hành theo một việc mà trong kinh ‘Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện’ đã dạy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời ông nên dùng thần lực của ông mà ủng hộ người đó, chớ để tất cả sự tai hại cùng sự không vừa ý đến nghe nơi tai, huống nữa là để cho phải chịu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, cũng có hàng quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, quyến thuộc của chư Thiên ủng hộ người đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tại sao lại đặng các vị Hiền Thánh ủng hộ như thế?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðều do vì những người ấy chiêm lễ hình tượng của Ðịa-Tạng Bồ Tát và đọc tụng kinh ‘Bổn Nguyện’ này, tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ chứng đạo Niết Bàn an vui, vì thế nên đặng ủng hộ một cách lớn lao như thế’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="4642272" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/6ec619cd-2975-4e94-a4ba-a09d081dc57f/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">101af038-b28f-4e71-84fb-7bbfec5a1f64</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/6ec619cd-2975-4e94-a4ba-a09d081dc57f</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 08:06:31 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/8/0539e74f-0d51-4fa6-8e1a-dc319bbb0d02_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>290</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 10_So Sánh Nhân Duyên Công Đức Của Sự Bố Thí</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 10_So Sánh Nhân Duyên Công Đức Của Sự Bố Thí</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.</p><p><br></p><p>Phẩm Thứ Mười: So Sánh Nhân Duyên Công Đức Của Sự Bố Thí</p><p>Lúc đó Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát ma-ha-tát nương oai thần của đức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, quì gối chắp tay bạch cùng đức Phật rằng:</p><p>‘Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh trong nghiệp đạo so sánh về sự bố thí có nhẹ có nặng. Có người hưởng phước trong một đời, có người hưởng phước trong mười đời, hoặc đến hưởng phước lợi lớn trong trăm đời, nghìn đời.</p><p>Những sự ấy tại làm sao thế? Cúi xin đức Thế-Tôn dạy cho’.</p><p>Bấy giờ Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Nay ta ở trong toàn thể chúng hội nơi cung trời Ðao Lợi này giảng về sự so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở Diêm Phù Ðề. Ông phải lóng nghe, ta sẽ vì ông mà nói!’.</p><p>Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng Ðức Phật rằng: ‘Chính con nghi ngờ về việc ấy. Con xin ưa muốn nghe’.</p><p>Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có các vị Quốc Vương, hàng Tể Phụ quan chức lớn, hàng đại Trưởng Giả, hàng đại Sát Ðế Lợi, hàng đại Bà La Môn v.v…</p><p>Nếu gặp kẻ hết sức nghèo túng, nhẫn đến kẻ tật nguyền câm ngọng, kẻ điếc ngây mù quáng, gặp những hạng người thân thể không được vẹn toàn như thế.</p><p>Lúc các vị Quốc Vương đó v.v… muốn bố thí, nếu có thể đủ tâm từ bi lớn, lại có lòng vui vẻ tự hạ mình, tự tay mình đem của ra bố thí cho tất cả những kẻ đó, hoặc bảo người khác đem cho, lại dùng lời ôn hòa dịu dàng an ủi.</p><p>Các vị Quốc Vương, Ðại Thần đó v.v… đặng phước lợi bằng phước lợi công đức cúng dường cho một trăm hằng hà sa chư Phật vậy.</p><p>Tại làm sao? Chính bởi vị Quốc Vương đó v.v… phát tâm đại từ bi đối với kẻ rất mực nghèo cùng và với những người tàn tật kia, cho nên phước lành được hưởng quả báo như thế này, trong trăm nghìn đời thường được đầy đủ những đồ thất bảo, huống là những thứ để thọ dùng như y phục đồ uống ăn v.v….</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v… gặp chùa tháp thờ Phật, hoặc hình tượng Phật, cho đến hình tượng Bồ Tát, Thanh Văn hay Bích Chi Phật, đích thân tự sửa sang, cúng dường bố thí.</p><p>Vị Quốc Vương đó, sẽ đặng trong ba kiếp làm vị trời Ðế Thích hưởng sự vui sướng tốt lạ.</p><p>Nếu có thể đem phước lành bố thí đó mà hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, thời vị Quốc Vương đó, trong mười kiếp thường được làm vị trời Ðại Phạm Thiên Vương.</p><p>Lại thế này nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, nếu có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v… gặp chùa tháp của đức Phật thuở trước, hoặc là kinh điển hay hình tượng bị hư sụp rách rã, liền có thể phát tâm tu bổ lại.</p><p>Vị Quốc Vương đó, hoặc tự mình đích thân lo sửa sang, hoặc khuyến hóa người khác cho đến khuyến hóa trăm nghìn người khác cùng chung bố thí cúng dường để kết duyên lành.</p><p>Vị Quốc Vương đó, trong trăm nghìn đời thường làm Vua Chuyển Luân, còn những người khác chung cùng làm việc bố thí đó, trong trăm nghìn đời thường làm vua nước nhỏ.</p><p>Nếu lại ở trước chùa tháp có thể phát tâm đem công đức cúng dường bố thí đó mà hồi hướng về đạo vô thượng chánh giác, được như vậy thời vị Quốc Vương đó cho đến tất cả mọi người đều sẽ thành Phật cả, bởi quả báo ấy rộng lớn vô lượng vô biên.</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương hay hàng Bà La Môn, gặp những người già yếu tật bịnh và kẻ phụ nữ sanh đẻ, nếu trong khoảng chừng một niệm sanh lòng từ lớn đem thuốc men, cơm nước, giường chiếu bố thí, làm cho những kẻ ấy được an vui.</p><p>Phước đức đó rất không thể nghĩ bàn đến được, trong một trăm kiếp thường làm Vua Trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường làm Vua sáu từng trời cõi Dục, không bao giờ còn đọa vào ác đạo, cho đến trong trăm nghìn đời, lỗ tai không hề nghe đến tiếng khổ, rốt ráo sẽ thành Phật đạo.</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! trong đời sau như có vị Quốc Vương và Bà La Môn, có thể làm những việc bố thí như thế sẽ đặng vô lượng phước lành.</p><p>Nếu lại có thể đem phước đức đó hồi hướng đạo Bồ Ðề, thời không luận là nhiều hay ít, rốt ráo sẽ thành Phật cả, huống gì cả những quả trời Phạm Vương, trời Ðế Thích, Vua Chuyển Luân.</p><p>Nầy Ðịa-Tạng Bồ Tát, vì thế nên khuyến hóa tất cả chúng sanh đều phải học theo như thế.</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong Phật pháp mà gieo trồng chút ít cội phước lành chừng bằng cái lông, sợi tóc, hột cát, mảy bụi, phước lợi của những người đó sẽ hưởng thọ không thể ví dụ thế nào cho được.</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam cùng người thiện nữ nào gặp hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình tượng Vua Chuyển Luân mà bố thí cúng dường, thời đặng vô lượng phước lành, thường sanh ở cõi người, cõi trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu.</p><p>Như có thể đem công đức hồi hướng cho cả pháp giới chúng sanh thời phước lợi của người ấy không thể ví dụ thế nào cho được.</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp kinh điển đại thừa hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, người ấy được quả báo lớn vô lượng vô biên.</p><p>Nếu có thể đem phước đức hồi hướng cho khắp pháp giới cho chúng sanh thời phước lợi này không thể ví dụ thế nào cho được.</p><p>Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp và kinh điển đại thừa, nếu là kinh tháp mới thời bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy ngợi khen chắp tay cung kính.</p><p>Nếu gặp kinh tháp cũ, hoặc hư rách thời sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm làm, hoặc khuyến người khác cùng đồng phát tâm.</p><p>Những người đồng phát tâm đây, trong ba mươi đời thường làm vua các nước nhỏ. Còn vị đàn việt chánh đó thường làm Vua Chuyển Luân, lại dùng pháp lành mà giáo hóa vua các nước nhỏ.</p><p>Lại vầy nữa Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở nơi cội phước lành đã gieo trồng trong Phật pháp, hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang kinh điển, cho đến chừng bằng một sợi lông, một mảy bụi, một hột cát, một giọt nước.</p><p>Những sự lành như thế không luận nhiều ít, chỉ có thể đem hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh, thời công đức của người đó trong nghìn đời thường hưởng thọ sự vui thượng diệu.</p><p>Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc tự mình được lợi ích thôi, như thế thời sẽ hưởng quả vui trong ba đời, cứ làm một phần sự lành, thời được hưởng báo tốt một muôn lần trội hơn.</p><p>Này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Những nhân duyên công đức về sự bố thí như thế đó.</p><p><br></p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện là một bộ kinh Đại thừa quan trọng trong Phật giáo, nhấn mạnh bản nguyện từ bi vô lượng của Bồ Tát Địa Tạng, người phát nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong địa ngục và các ác đạo. Kinh dạy về nhân quả nghiệp báo, công đức bố thí, và con đường giải thoát qua lòng từ bi, giúp chúng sinh tránh ác đạo và hướng tới giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Mười: So Sánh Nhân Duyên Công Đức Của Sự Bố Thí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát ma-ha-tát nương oai thần của đức Phật, từ chỗ ngồi đứng dậy, quì gối chắp tay bạch cùng đức Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh trong nghiệp đạo so sánh về sự bố thí có nhẹ có nặng. Có người hưởng phước trong một đời, có người hưởng phước trong mười đời, hoặc đến hưởng phước lợi lớn trong trăm đời, nghìn đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những sự ấy tại làm sao thế? Cúi xin đức Thế-Tôn dạy cho’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Nay ta ở trong toàn thể chúng hội nơi cung trời Ðao Lợi này giảng về sự so sánh công đức khinh trọng của việc bố thí ở Diêm Phù Ðề. Ông phải lóng nghe, ta sẽ vì ông mà nói!’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng Ðức Phật rằng: ‘Chính con nghi ngờ về việc ấy. Con xin ưa muốn nghe’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có các vị Quốc Vương, hàng Tể Phụ quan chức lớn, hàng đại Trưởng Giả, hàng đại Sát Ðế Lợi, hàng đại Bà La Môn v.v…&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu gặp kẻ hết sức nghèo túng, nhẫn đến kẻ tật nguyền câm ngọng, kẻ điếc ngây mù quáng, gặp những hạng người thân thể không được vẹn toàn như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc các vị Quốc Vương đó v.v… muốn bố thí, nếu có thể đủ tâm từ bi lớn, lại có lòng vui vẻ tự hạ mình, tự tay mình đem của ra bố thí cho tất cả những kẻ đó, hoặc bảo người khác đem cho, lại dùng lời ôn hòa dịu dàng an ủi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Quốc Vương, Ðại Thần đó v.v… đặng phước lợi bằng phước lợi công đức cúng dường cho một trăm hằng hà sa chư Phật vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tại làm sao? Chính bởi vị Quốc Vương đó v.v… phát tâm đại từ bi đối với kẻ rất mực nghèo cùng và với những người tàn tật kia, cho nên phước lành được hưởng quả báo như thế này, trong trăm nghìn đời thường được đầy đủ những đồ thất bảo, huống là những thứ để thọ dùng như y phục đồ uống ăn v.v….&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v… gặp chùa tháp thờ Phật, hoặc hình tượng Phật, cho đến hình tượng Bồ Tát, Thanh Văn hay Bích Chi Phật, đích thân tự sửa sang, cúng dường bố thí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị Quốc Vương đó, sẽ đặng trong ba kiếp làm vị trời Ðế Thích hưởng sự vui sướng tốt lạ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có thể đem phước lành bố thí đó mà hồi hướng cho tất cả chúng sanh trong pháp giới, thời vị Quốc Vương đó, trong mười kiếp thường được làm vị trời Ðại Phạm Thiên Vương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thế này nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, nếu có vị Quốc Vương cho đến hàng Bà La Môn v.v… gặp chùa tháp của đức Phật thuở trước, hoặc là kinh điển hay hình tượng bị hư sụp rách rã, liền có thể phát tâm tu bổ lại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị Quốc Vương đó, hoặc tự mình đích thân lo sửa sang, hoặc khuyến hóa người khác cho đến khuyến hóa trăm nghìn người khác cùng chung bố thí cúng dường để kết duyên lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị Quốc Vương đó, trong trăm nghìn đời thường làm Vua Chuyển Luân, còn những người khác chung cùng làm việc bố thí đó, trong trăm nghìn đời thường làm vua nước nhỏ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại ở trước chùa tháp có thể phát tâm đem công đức cúng dường bố thí đó mà hồi hướng về đạo vô thượng chánh giác, được như vậy thời vị Quốc Vương đó cho đến tất cả mọi người đều sẽ thành Phật cả, bởi quả báo ấy rộng lớn vô lượng vô biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có vị Quốc Vương hay hàng Bà La Môn, gặp những người già yếu tật bịnh và kẻ phụ nữ sanh đẻ, nếu trong khoảng chừng một niệm sanh lòng từ lớn đem thuốc men, cơm nước, giường chiếu bố thí, làm cho những kẻ ấy được an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phước đức đó rất không thể nghĩ bàn đến được, trong một trăm kiếp thường làm Vua Trời Tịnh Cư, trong hai trăm kiếp thường làm Vua sáu từng trời cõi Dục, không bao giờ còn đọa vào ác đạo, cho đến trong trăm nghìn đời, lỗ tai không hề nghe đến tiếng khổ, rốt ráo sẽ thành Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! trong đời sau như có vị Quốc Vương và Bà La Môn, có thể làm những việc bố thí như thế sẽ đặng vô lượng phước lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại có thể đem phước đức đó hồi hướng đạo Bồ Ðề, thời không luận là nhiều hay ít, rốt ráo sẽ thành Phật cả, huống gì cả những quả trời Phạm Vương, trời Ðế Thích, Vua Chuyển Luân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nầy Ðịa-Tạng Bồ Tát, vì thế nên khuyến hóa tất cả chúng sanh đều phải học theo như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có thiện nam kẻ thiện nữ nào ở trong Phật pháp mà gieo trồng chút ít cội phước lành chừng bằng cái lông, sợi tóc, hột cát, mảy bụi, phước lợi của những người đó sẽ hưởng thọ không thể ví dụ thế nào cho được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam cùng người thiện nữ nào gặp hình tượng Phật, hình tượng Bồ Tát, hình tượng Bích Chi Phật, hình tượng Vua Chuyển Luân mà bố thí cúng dường, thời đặng vô lượng phước lành, thường sanh ở cõi người, cõi trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có thể đem công đức hồi hướng cho cả pháp giới chúng sanh thời phước lợi của người ấy không thể ví dụ thế nào cho được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp kinh điển đại thừa hoặc nghe thấy một bài kệ, một câu kinh, rồi phát tâm ân cần trân trọng cung kính ngợi khen, bố thí cúng dường, người ấy được quả báo lớn vô lượng vô biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có thể đem phước đức hồi hướng cho khắp pháp giới cho chúng sanh thời phước lợi này không thể ví dụ thế nào cho được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa, này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào gặp chùa tháp và kinh điển đại thừa, nếu là kinh tháp mới thời bố thí cúng dường, chiêm ngưỡng lễ lạy ngợi khen chắp tay cung kính.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu gặp kinh tháp cũ, hoặc hư rách thời sửa sang tu bổ, hoặc riêng mình phát tâm làm, hoặc khuyến người khác cùng đồng phát tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những người đồng phát tâm đây, trong ba mươi đời thường làm vua các nước nhỏ. Còn vị đàn việt chánh đó thường làm Vua Chuyển Luân, lại dùng pháp lành mà giáo hóa vua các nước nhỏ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vầy nữa Ðịa-Tạng Bồ Tát! Trong đời sau, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào ở nơi cội phước lành đã gieo trồng trong Phật pháp, hoặc là bố thí cúng dường, hoặc là tu bổ chùa tháp, hoặc sửa sang kinh điển, cho đến chừng bằng một sợi lông, một mảy bụi, một hột cát, một giọt nước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những sự lành như thế không luận nhiều ít, chỉ có thể đem hồi hướng cho khắp pháp giới chúng sanh, thời công đức của người đó trong nghìn đời thường hưởng thọ sự vui thượng diệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn như chỉ hồi hướng cho thân quyến trong nhà hoặc tự mình được lợi ích thôi, như thế thời sẽ hưởng quả vui trong ba đời, cứ làm một phần sự lành, thời được hưởng báo tốt một muôn lần trội hơn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Ðịa-Tạng Bồ Tát! Những nhân duyên công đức về sự bố thí như thế đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng mang lại lợi ích vô lượng, như tiêu trừ nghiệp chướng nặng nề, tăng trưởng phước lành, bảo hộ người sống khỏi tai ương, cứu độ vong linh khỏi ác đạo, giúp chúng sinh hướng tới giác ngộ và thành Phật, đồng thời mang lại sự an lạc trong hiện tại và vị lai.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7932865" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/b1c5f92c-0a9a-4486-a3d0-6484154d83a3/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">1ccb54bf-0b68-41f2-ab64-b8c9b87539d1</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/b1c5f92c-0a9a-4486-a3d0-6484154d83a3</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 08:05:02 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/7bcb3208-eae7-4a3d-9025-415e4c2b76a0_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>495</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 9_Xưng Danh Hiệu Chư Phật</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 9_Xưng Danh Hiệu Chư Phật</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 9 Kinh Địa Tạng (Phẩm Xưng Danh Hiệu Chư Phật)</p><p>Phẩm 9 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện liệt kê danh hiệu các Đức Phật trong quá khứ và lợi ích vô lượng của việc niệm danh hiệu các Ngài, giúp tiêu trừ tội nghiệp nặng nề, siêu việt sinh tử, tránh ác đạo, tích tụ công đức lớn, và đạt quả vị giác ngộ. Địa Tạng Bồ tát nhấn mạnh sức mạnh của lòng chí thành niệm Phật, khuyến khích chúng sinh phát tâm quy y, cúng dường để bản thân và tha nhân được an lạc, giải thoát khỏi khổ đau luân hồi trong đời ác trược.</p><p>Toàn văn Phẩm 9: Xưng Danh Hiệu Chư Phật</p><p>Phẩm Thứ Chín: Xưng Danh Hiệu Chư Phật</p><p>Lúc đó Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng Ðức Phật rằng: &#39;Bạch đức Thế-Tôn! Nay con vì chúng sanh trong đời sau mà phô bày sự lợi ích, làm cho trong vòng sanh tử đặng nhiều lợi ích lớn. Cúi xin Ðức Thế-Tôn cho phép con nói đó&#39;.</p><p>Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: &#39;Nay ông muốn khởi lòng từ bi cứu vớt tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường, mà diễn nói sự chẵng thể nghĩ bàn, bây giờ chính đã phải lúc, vậy ông nên nói ngay đi.</p><p>Giả sử ông có thể sớm làm xong nguyện đó, Ta dầu có vào Niết Bàn, cũng không còn phải lo ngại gì đến tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai nữa&#39;.</p><p>Ngài Ðịa-Tạng bạch cùng Ðức Phật rằng: &#39;Bạch đức Thế-Tôn! Vô lượng vô kiếp về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của Ðức Phật đây mà tạm lời sanh lòng cung kính, liền đặng siêu việt tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp, huống là vẽ đắp hình tượng cúng dường tán thán!</p><p>Người này được vô lượng vô biên phước lợi.</p><p>Lại hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Bửu Thắng Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của Ðức Phật đây, phát tâm quy y với Phật trong khoảng khảy móng tay, người này trọn hẳn không còn thối chuyển nơi đạo vô thượng chánh giác.</p><p>Lại về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào, nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây thoát qua lỗ tai, người này sẽ được một nghìn lần sanh lên sáu từng trời cõi dục, huống nữa là chí tâm xưng niệm!</p><p>Lại bất khả thuyết bất khả thuyết vô số kiếp về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, mà phát tâm quy y chừng trong một niệm, người này sẽ đặng gặp vô lượng các Ðức Phật xoa đảnh thọ ký cho.</p><p>Lại về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật đây, chí tâm chiêm ngưỡng lễ bái hoặc lại tán thán, người này nơi pháp hội của một nghìn Ðức Phật trong hiền kiếp làm vị đại Phạm Vương, đặng Phật thọ ký đạo vô thượng cho.</p><p>Lại về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, thời mãi không còn sa đọa vào chốn ác đạo, thường được sanh vào chốn trời người, hưởng lấy sự vui thù thắng vi diệu.</p><p>Lại vô lượng vô số hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Ða Bửu Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, liền khỏi đọa vào ác đạo, thường ở tại cung trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu.</p><p>Lại về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu Bửu Tướng Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, sanh lòng cung kính, không bao lâu người ấy sẽ đặng quả A La Hán.</p><p>Lại vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật trên đây, thời người ấy sẽ siêu thoát tội sanh tử trong một trăm đại kiếp.</p><p>Lại về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Ðại Thông Sơn Vương Như Lai.</p><p>Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, thời người này đặng gặp hằng hà chư Phật nói nhiều pháp mầu cho, đều đặng thành đạo Bồ Ðề.</p><p>Lại về thuở quá khứ, có đức Tịnh Nguyệt Phật, đức Sơn Vương Phật, đức Trí Thắng Phật, đức Tịnh Danh Vương Phật, đức Trí Thành Tựu Phật, đức Vô Thượng Phật, đức Diệu Thinh Phật, đức Mãn Nguyệt Phật, đức Nguyệt Diện Phật, có bất khả thuyết Ðức Phật Thế-Tôn như thế.</p><p>Tất cả chúng sanh trong thời hiện tại cùng thuở vị lai: hoặc là Trời, hoặc là người, hoặc người nam, hoặc người nữ chỉ niệm được danh hiệu của một Ðức Phật thôi, sẽ được vô lưông công đức, huống nữa là niệm được nhiều danh hiệu.</p><p>Những chúng sanh đó lúc sanh lúc tử đặng nhiều phước lợi, không còn phải đọa vào ác đạo nữa.</p><p>Như có người nào sắp mạng chung, hàng thân quyến trong nhà nhẫn đến một người vì người bịnh sắp chết đó mà niệm lớn tiếng danh hiệu của một Ðức Phật, thời người chết đó, trừ năm tội lớn vô gián, các nghiệp báo khác đều tiêu sạch cả.</p><p>Năm tội lớn vô gián kia dầu rất nặng nề đáng lẽ trải qua ức kiếp hẳn không ra khỏi đặng quả khổ, nhưng bởi lúc lâm chung, nhờ người khác vì đó mà xưng niệm danh hiệu của Phật cho nên những tội nặng đó cũng lần lần tiêu sạch.</p><p>Huống là chúng sanh tự mình xưng danh hiệu của chư Phật, người này đặng vô lượng phước lành, trừ diệt vô lượng khổ.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 9 Kinh Địa Tạng (Phẩm Xưng Danh Hiệu Chư Phật)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 9 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện liệt kê danh hiệu các Đức Phật trong quá khứ và lợi ích vô lượng của việc niệm danh hiệu các Ngài, giúp tiêu trừ tội nghiệp nặng nề, siêu việt sinh tử, tránh ác đạo, tích tụ công đức lớn, và đạt quả vị giác ngộ. Địa Tạng Bồ tát nhấn mạnh sức mạnh của lòng chí thành niệm Phật, khuyến khích chúng sinh phát tâm quy y, cúng dường để bản thân và tha nhân được an lạc, giải thoát khỏi khổ đau luân hồi trong đời ác trược.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 9: Xưng Danh Hiệu Chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Chín: Xưng Danh Hiệu Chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng Ðức Phật rằng: &amp;#39;Bạch đức Thế-Tôn! Nay con vì chúng sanh trong đời sau mà phô bày sự lợi ích, làm cho trong vòng sanh tử đặng nhiều lợi ích lớn. Cúi xin Ðức Thế-Tôn cho phép con nói đó&amp;#39;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: &amp;#39;Nay ông muốn khởi lòng từ bi cứu vớt tất cả chúng sanh mắc phải tội khổ trong sáu đường, mà diễn nói sự chẵng thể nghĩ bàn, bây giờ chính đã phải lúc, vậy ông nên nói ngay đi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả sử ông có thể sớm làm xong nguyện đó, Ta dầu có vào Niết Bàn, cũng không còn phải lo ngại gì đến tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai nữa&amp;#39;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng bạch cùng Ðức Phật rằng: &amp;#39;Bạch đức Thế-Tôn! Vô lượng vô kiếp về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe danh hiệu của Ðức Phật đây mà tạm lời sanh lòng cung kính, liền đặng siêu việt tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp, huống là vẽ đắp hình tượng cúng dường tán thán!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người này được vô lượng vô biên phước lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Bửu Thắng Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào được nghe danh hiệu của Ðức Phật đây, phát tâm quy y với Phật trong khoảng khảy móng tay, người này trọn hẳn không còn thối chuyển nơi đạo vô thượng chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào, nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây thoát qua lỗ tai, người này sẽ được một nghìn lần sanh lên sáu từng trời cõi dục, huống nữa là chí tâm xưng niệm!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại bất khả thuyết bất khả thuyết vô số kiếp về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, mà phát tâm quy y chừng trong một niệm, người này sẽ đặng gặp vô lượng các Ðức Phật xoa đảnh thọ ký cho.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của đức Phật đây, chí tâm chiêm ngưỡng lễ bái hoặc lại tán thán, người này nơi pháp hội của một nghìn Ðức Phật trong hiền kiếp làm vị đại Phạm Vương, đặng Phật thọ ký đạo vô thượng cho.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại về thuở quá khứ, có Ðức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, thời mãi không còn sa đọa vào chốn ác đạo, thường được sanh vào chốn trời người, hưởng lấy sự vui thù thắng vi diệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vô lượng vô số hằng hà sa kiếp về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Ða Bửu Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, liền khỏi đọa vào ác đạo, thường ở tại cung trời hưởng sự vui thù thắng vi diệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu Bửu Tướng Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, sanh lòng cung kính, không bao lâu người ấy sẽ đặng quả A La Hán.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật trên đây, thời người ấy sẽ siêu thoát tội sanh tử trong một trăm đại kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại về thuở quá khứ có Ðức Phật ra đời hiệu là Ðại Thông Sơn Vương Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật đây, thời người này đặng gặp hằng hà chư Phật nói nhiều pháp mầu cho, đều đặng thành đạo Bồ Ðề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại về thuở quá khứ, có đức Tịnh Nguyệt Phật, đức Sơn Vương Phật, đức Trí Thắng Phật, đức Tịnh Danh Vương Phật, đức Trí Thành Tựu Phật, đức Vô Thượng Phật, đức Diệu Thinh Phật, đức Mãn Nguyệt Phật, đức Nguyệt Diện Phật, có bất khả thuyết Ðức Phật Thế-Tôn như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả chúng sanh trong thời hiện tại cùng thuở vị lai: hoặc là Trời, hoặc là người, hoặc người nam, hoặc người nữ chỉ niệm được danh hiệu của một Ðức Phật thôi, sẽ được vô lưông công đức, huống nữa là niệm được nhiều danh hiệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những chúng sanh đó lúc sanh lúc tử đặng nhiều phước lợi, không còn phải đọa vào ác đạo nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như có người nào sắp mạng chung, hàng thân quyến trong nhà nhẫn đến một người vì người bịnh sắp chết đó mà niệm lớn tiếng danh hiệu của một Ðức Phật, thời người chết đó, trừ năm tội lớn vô gián, các nghiệp báo khác đều tiêu sạch cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm tội lớn vô gián kia dầu rất nặng nề đáng lẽ trải qua ức kiếp hẳn không ra khỏi đặng quả khổ, nhưng bởi lúc lâm chung, nhờ người khác vì đó mà xưng niệm danh hiệu của Phật cho nên những tội nặng đó cũng lần lần tiêu sạch.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống là chúng sanh tự mình xưng danh hiệu của chư Phật, người này đặng vô lượng phước lành, trừ diệt vô lượng khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6157374" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/6bfebb52-8313-493f-956e-ea807b360894/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">4df98392-1d8e-44cc-b502-e963d81a2724</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/6bfebb52-8313-493f-956e-ea807b360894</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:48:42 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/b0112f95-8563-4b2d-8040-092e0437e12d_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>384</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 8_Các Vua Diêm La Khen Ngợi</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 8_Các Vua Diêm La Khen Ngợi</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 8 Kinh Địa Tạng (Phẩm Các Vua Diêm La Khen Ngợi)</p><p>Phẩm 8 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả Vua Diêm La và các Quỷ Vương tụ họp tại cung trời Đao Lợi, khen ngợi oai đức và bổn nguyện cứu độ chúng sinh của Địa Tạng Bồ Tát. Họ hỏi Phật về lý do chúng sinh tái đọa ác đạo dù được độ thoát, Phật giải thích do nghiệp nặng và tánh tình cang cường. Phẩm nhấn mạnh việc tu thiện, kiêng ác khi sinh nở và lâm chung để tránh quả báo, cả người sống và vong linh đều được lợi ích, khuyến khích phát tâm từ bi, tu hành để giải thoát khỏi ác đạo trong đời ác trược.</p><p>Toàn văn Phẩm 8: Các Vua Diêm La Khen Ngợi</p><p>Phẩm Thứ Tám: Các Vua Diêm La Khen Ngợi</p><p><br></p><p>Diêm La Vương Cùng Quỉ Vương Vân Tập – Lúc đó trong dãy núi Thiết-Vi có vô lượng Quỉ-vương cùng với Vua Diêm La đồng lên cung trời Ðao Lợi đến chỗ của Ðức Phật.</p><p><br></p><p>Các vị Quỉ-vương đó tên là: Ác Ðộc Quỉ-vương, Ða Ác Quỉ-vương, Ðại Tránh Quỉ-vương, Bạch Hổ Quỉ-vương, Huyết Hổ Quỉ-vương, Xích Hổ Quỉ-vương, Tán Ương Quỉ-vương, Phi Thân Quỉ-vương, Ðiển Quang Quỉ-vương, Lang Nha Quỉ-vương, Ðạm Thú Quỉ-vương, Phụ Thạch Quỉ-vương, Chủ Hao Quỉ-vương, Chủ Họa Quỉ-vương, Chủ Phước Quỉ-vương, Chủ Thực Quỉ-vương, Chủ Tài Quỉ-vương, Chủ Súc Quỉ-vương, Chủ Cầm Quỉ-vương, Chủ Thú Quỉ-vương, Chủ Mị Quỉ-vương, Chủ Sản Quỉ-vương, Chủ Mạng Quỉ-vương, Chủ Tật Quỉ-vương, Chủ Hiểm Quỉ-vương, Tam Mục Quỉ-vương, Tứ Mục Quỉ-vương, Ngũ Mục Quỉ-vương, Kỳ Lợi Thất Vương, Ðại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Ðại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Ðại A Na Tra Vương.</p><p>Những vị Ðại Quỉ Vương như thế v.v.... mỗi vị cùng với trăm nghìn Tiểu Quỉ Vương, cả thảy ở trong cõi Diêm Phù Ðề, đều có trức trách, đều có phần chủ trị.</p><p>Các vị Quỉ Vương đó cùng với Vua Diêm La nương sức oai thần của Ðức Phật và oai lực của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đồng lên đến cung trời Ðao Lợi đứng qua một phía.</p><p><br></p><p>Vua Diêm La Bạch Phật – Bấy giờ Vua Diêm La quì gối chắp tay bạch cùng Ðức Phật rằng:</p><p><br></p><p>‘Bạch đức Thế-Tôn! Nay chúng con cùng các vị Quỉ Vương nương sức oai thần của Ðức Phật và oai lực của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát mới được lên đến đại hội nơi cung trời Ðao Lợi này, mà cũng là vì chúng con đặng phước lành vậy.</p><p>Nay chúng con có chút việc nghi ngờ, dám bạch hỏi đức Thế-Tôn, cúi xin đức Thế-Tôn từ bi vì chúng con mà chỉ dạy cho’.</p><p>Ðức Phật bảo Vua Diêm La rằng: ‘Cho phép ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà dạy rõ’.</p><p>Bấy giờ, Vua Diêm La chiêm ngưỡng đảnh lễ đức Thế-Tôn và ngó ngoái lại Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, rồi bạch cùng Ðức Phật rằng:</p><p>‘Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát ở trong sáu đường dùng trăm nghìn phương chước để cứu độ những chúng sanh mắc phải tội khổ, Ngài không từ mệt nhọc.</p><p>Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây có những sự thần thông không thể nghĩ bàn được như thế, nhưng sao hàng chúng sanh vừa đặng thoát khỏi tội báo, không bao lâu lại phải bị đọa vào ác đạo nữa?</p><p>Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đã có thần lực chẳng thể nghĩ bàn như thế, nhưng tại vì cớ sao hàng chúng sanh chẳng chịu nương về đường lành để được giải thoát mãi mãi? Cúi xin đức Thế-Tôn dạy rõ việc đó cho chúng con’.</p><p><br></p><p>Phật Giảng Sở Nhơn – Ðức Phật bảo Vua Diêm La rằng: ‘Chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề tánh tình cứng cỏi khó dạy khó sửa. Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát đây trong trăm nghìn kiếp đã từng cứu vớt những chúng sanh đó làm cho sớm được giải thoát’.</p><p><br></p><p>Những người bị tội báo cho đến bị đọa vào đường ác lớn, Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên, mà làm cho chúng sanh đó nhớ biết những công việc ở đời trước.</p><p>Tại vì chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề kết nghiệp dữ, phạm tội nặng, nên vừa ra khỏi ác đạo, rồi trở vào lại, làm nhọc cho Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát phả trải qua nhiều số kiếp lo lắng để cứu độ chúng nó.</p><p>Ví như có người quên mất nhà mình, đi lạc vào con đường hiểm, trong con đường hiểm đó có rất nhiều thứ Quỉ Dạ Xoa, cùng hùm sói, sư tử, rắn độc, bò cạp.</p><p>Người quên đường đó ở trong đường hiểm chừng giây lát nữa sẽ bị hại.</p><p>Có một vị tri thức hiểu nhiều Pháp thuật lạ, có thể trừ sự độc hại đó, cho đến có thể trừ quỉ Dạ Xoa, các loài rắn độc v.v.... chợt gặp người quên lạc đường kia đương muốn đi thẳng vào con đường hiểm nạn, bèn vội bảo rằng:</p><p>‘Ô hay! Này ông kia! Có duyên sự gì mà vào con đường hiểm nạn này? Ông có Pháp thuật lạ gì có thể ngăn trừ các sự độc hại chăng?’</p><p>Người lạc đường đó, bỗng nghe lời hỏi trên mới rõ là đường hiểm nạn, bèn liền lui trở lại muốn ra khỏi đường hiểm nạn đó.</p><p>Vị thiện tri thức ấy nắm tay dìu dắt, dẫn người lạc lối đó ra ngoài đường hiểm nạn, khỏi các sự độc hại đến nơi con đường tốt, làm cho được an ổn rồi bảo rằng:</p><p>‘Nầy người lạc đường! Từ nay về sau chớ có đi vào con đường hiểm nạn đó nữa, ai mà vào con đường hiểm đó, ắt khó ra khỏi đặng, lại còn phải bị tổn tánh mạng’.</p><p>‘Người lạc đường đó cũng sanh lòng cảm trọng. Lúc từ biệt nhau, vị tri thức lại dặn thêm:</p><p>‘Nếu ông có gặp kẻ quen người thân cùng những người đi đường hoặc trai gái, thời ông bảo cho họ biết con đường đó có rất nhiều sự độc hại, vào đó ắt phải tổn tánh mạng, chớ để cho những người ấy tự vào chỗ chết!’.</p><p>Vì thế nên Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đủ đức từ bi lớn, cứu vớt chúng sanh mắc tội khổ muốn cho chúng nó sanh lên cõi trời cõi người để hưởng lấy sự vui sướng tốt đẹp.</p><p>Những chúng sanh tội khổ đó rõ biết sự khốn khổ trong con đường ác nghiệp rồi, khi đã được ra khỏi, chẳng còn trở vào nữa.</p><p>Như người quên đường kia lạc vào đường hiểm, gặp vị tri thức dẫn dắt cho ra khỏi không bao giờ còn lạc vào nữa.</p><p>Gặp gỡ người khác lại bảo chớ vào đường ấy, tự nói rằng mình là quên đường nên đi lạc vào đó, nay đặng thoát khỏi rồi, trọn hẳn không còn trở vào đường đó nữa.</p><p>Nếu còn đi vào đường ấy nữa, thời là còn mê lầm không biết đó là con đường hiểm nạn mà mình đã từng sa lạc rồi, hoặc đến nỗi phải mất mạng.</p><p>Như chúng sanh bị đọa vào chốn ác đạo, Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát dùng sức phươg tiện cứu vớt cho được thoát khỏi, sanh vào cõi trời, rồi cũng vẫn trở vào ác đạo nữa.</p><p>Nếu chúng sanh đó kết nghiệp quá nặng, thời ở mãi chốn địa ngục không lúc nào được thoát khỏi.</p><p><br></p><p>Quỉ Vương Bày Thiện Nguyện – ‘Bạch đức Thế-Tôn! Chúng con là hàng Quỉ Vương số đông vô lượng, ở trong cõi Diêm Phù Ðề, hoặc có vị làm lợi ích cho người, hoặc có vị làm tổn hại cho người mỗi mỗi đều không đồng nhau.</p><p><br></p><p>Nhưng vì nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con đi qua thế giới ác nhiều lành ít.</p><p>Ði qua sân nhà người, hoặc thành ấp, xóm làng, trại vườn, buồng nhà, trong đó như có người trai kẻ gái nào tu được chút phước lành bằng mảy lông sợi tóc, cho đến treo một lá phan, một bảo cái, chút hương, chút hoa cúng dường tượng Phật cùng tượng Bồ tát, hoặc đọc tụng Tôn-kinh, đốt hương cúng dường một bài kệ một câu kinh v.v…</p><p>Hàng Quỉ Vương chúng con cung kính làm lễ người đó như kính lễ các Ðức Phật thuở quá khứ, đương hiện tại cùng lúc vị lai.</p><p>Chúng con truyền các hàng Tiểu Quỉ có oai lực lớn, và kẻ có phần chức trách về cuộc đất đai đó, đều phải hỗ trợ giữ gìn, còn chẳng cho việc dữ cùng sự tai nạn bất kỳ, bịnh tật hiểm nghèo thình lình, cho đến những việc không vừa ý đến gần chỗ của các nhà đó, huống là để vào cửa!’</p><p>Ðức Phật khen Quỉ Vương rằng: ‘Hay thay! Tốt thay! Các ông cùng với Vua Diêm La có thể ủng hộ kẻ thiện nam người thiện nữ như thế! Ta cũng truyền cho các vị trời Phạm Vương, Ðế Thích hộ vệ các ông’.</p><p><br></p><p>Chủ Mạng Trình Thưa – Khi Ðức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp hội có một vị Quỉ Vương tên là Chủ Mạng bạch cùng Ðức Phật rằng:</p><p><br></p><p>‘Bạch đức Thế-Tôn! Bổn nghiệp duyên của con là cai quản về tuổi thọ của người trong cõi Diêm Phù Ðề, khi sanh khi tử con đều coi biết đó, cứ theo nơi bổn nguyện của con thời có lợi ích rất lớn cho mọi người.</p><p>Nhưng tại vì chúng sanh không hiểu ý con nên đến đổi khi sanh khi tử đều không được an ổn. Tại làm sao thế?</p><p><br></p><p>Khi Sanh Nở Nên Làm Lành Kiêng Ác – Người trong cõi Diêm Phù Ðề lúc mới sanh, không luận là con trai hay con gái, khi sắp sanh ra chỉ nên làm việc phước lành thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thời Thổ Ðịa vui mừng không xiết, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều đặng nhiều sự an vui, hàng thân quyến cũng được phước lợi.</p><p><br></p><p>Hoặc khi đã hạ sanh rồi, nên cẩn thận chớ có giết hại sanh vật để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu ăn, cùng nhóm họp cả hàng quyến thuộc lại để uống rượu ăn thịt, ca xang đờn sáo, nếu làm những việc trên đó có thể làm cho người mẹ đứa con chẳng đặng an vui.</p><p>Vì sao thế? Vì lúc sanh sản nguy hiểm đó có vô số loài quỉ dữ cùng ma quái tinh mị muốn ăn huyết tanh.</p><p>Nhờ có con sớm đã sai các vị Thần Linh xá trạch Thổ Ðịa, bảo hộ mẹ con người ấy, làm cho được an vui mà đặng nhiều lợi ích.</p><p>Người ấy thấy mình được an ổn, thời đáng lẽ nên làm việc phước lành để đền đáp công ơn Thổ Ðịa, mà trái lại giết hại loài sanh vật, hội họp thân quyến, vì lẽ này, đã phạm tội lỗi tất phải tự thọ lấy tai vạ, mẹ con đều tổn.</p><p><br></p><p>Lúc Chết Nên Tu Phước – Lại người trong cõi Diêm Phù Ðề đến lúc mạng chung, không luận là người lành hay kẻ dữ, con cũng đều muốn cho họ không bị đọa lạc vào chốn ác đạo.</p><p><br></p><p>Huống gì là người lúc sanh tiền biết tu tạo cội phước lành giúp thêm oai lực cho con.</p><p>Trong cõi Diêm Phù Ðề, những người làm lành đến lúc mạng chung cũng còn có trăm nghìn quỉ thần ác đạo hoặc biến ra hình cha mẹ, nhẫn đến hóa làm người thân quyến dắt dẫn thần hồn người chết làm cho đọa lạc vào chốn ác đạo, huống chi là những kẻ lúc sanh tiền đã sẵn tạo nghiệp ác.</p><p>Bạch đức Thế-Tôn! Những kẻ nam tử nữ nhơn ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thời thần thức hôn mê không biện được lẽ lành điều dữ, cho đến mắt cùng tai không còn thấy nghe gì hết.</p><p>Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn Kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát, tu tạo nhơn duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỉ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết.</p><p>Bạch đức Thế-Tôn! ‘Tất cả chúng sanh lúc lâm chung nếu đặng nghe danh hiệu của một Ðức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát, hoặc nghe một câu một bài kệ kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô Gián cùng tội sát hại, những nghiệp ác nho nhỏ đáng lẽ phải sa vào chốn ác đạo, liền đặng thoát khỏi cả’.</p><p><br></p><p>Ðức Phật Căn Dặn – Ðức Phật bảo Chủ Mạng Quỉ Vương rằng: ‘Ông vì có lòng đại từ nên có thể phát ra lời nguyện lớn ở trong sanh tử cứu hộ chúng sanh như thế.</p><p><br></p><p>Như về trong đời sau này, có kẻ nam người nữ nào đến lúc sanh nở và lúc mạng chung, ông chớ quên lời nguyện lớn này, thường làm cho chúng sanh đó được an vui’.</p><p>Chủ Mạng Quỉ Vương bạch cùng Ðức Phật rằng: ‘Xin đức Thế-Tôn chớ lo nghĩ, con xin suốt đời trọn đời giữ gìn các chúng sanh ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc sanh lúc tử đều đặng lợi ích an vui cả. Chỉ mong các chúng sanh đến lúc sanh lúc tử tin nhận lời con, không ai chẳng được lợi ích’.</p><p>Bấy giờ Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát: ‘Quỉ Vương Chủ Mạng này đã làm Ðại Quỉ Vương từ lâu trăm nghìn đời rồi, ngày đêm hộ vệ chúng sanh trong sanh tử. Ðây là do lòng từ bi lớn thương xót chúng sanh nên hiện thân Ðại Quỉ, chớ chẳng phải là Quỉ đâu.</p><p>Qua khỏi một trăm bảy mươi kiếp sau, vị này sẽ được thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai, kiếp tên An Lạc, cõi nước tên Tịnh Trụ, tuổi thọ của Ðức Phật ấy vô số kiếp. Này Ðịa-Tạng! Việc của Ðại Quỉ Vương như thế không thể nghĩ bàn, những kẻ Trời Người được Ngài độ thoát cũng vô lượng vô biên’.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 8 Kinh Địa Tạng (Phẩm Các Vua Diêm La Khen Ngợi)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 8 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả Vua Diêm La và các Quỷ Vương tụ họp tại cung trời Đao Lợi, khen ngợi oai đức và bổn nguyện cứu độ chúng sinh của Địa Tạng Bồ Tát. Họ hỏi Phật về lý do chúng sinh tái đọa ác đạo dù được độ thoát, Phật giải thích do nghiệp nặng và tánh tình cang cường. Phẩm nhấn mạnh việc tu thiện, kiêng ác khi sinh nở và lâm chung để tránh quả báo, cả người sống và vong linh đều được lợi ích, khuyến khích phát tâm từ bi, tu hành để giải thoát khỏi ác đạo trong đời ác trược.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 8: Các Vua Diêm La Khen Ngợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Tám: Các Vua Diêm La Khen Ngợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diêm La Vương Cùng Quỉ Vương Vân Tập – Lúc đó trong dãy núi Thiết-Vi có vô lượng Quỉ-vương cùng với Vua Diêm La đồng lên cung trời Ðao Lợi đến chỗ của Ðức Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Quỉ-vương đó tên là: Ác Ðộc Quỉ-vương, Ða Ác Quỉ-vương, Ðại Tránh Quỉ-vương, Bạch Hổ Quỉ-vương, Huyết Hổ Quỉ-vương, Xích Hổ Quỉ-vương, Tán Ương Quỉ-vương, Phi Thân Quỉ-vương, Ðiển Quang Quỉ-vương, Lang Nha Quỉ-vương, Ðạm Thú Quỉ-vương, Phụ Thạch Quỉ-vương, Chủ Hao Quỉ-vương, Chủ Họa Quỉ-vương, Chủ Phước Quỉ-vương, Chủ Thực Quỉ-vương, Chủ Tài Quỉ-vương, Chủ Súc Quỉ-vương, Chủ Cầm Quỉ-vương, Chủ Thú Quỉ-vương, Chủ Mị Quỉ-vương, Chủ Sản Quỉ-vương, Chủ Mạng Quỉ-vương, Chủ Tật Quỉ-vương, Chủ Hiểm Quỉ-vương, Tam Mục Quỉ-vương, Tứ Mục Quỉ-vương, Ngũ Mục Quỉ-vương, Kỳ Lợi Thất Vương, Ðại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Ðại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Ðại A Na Tra Vương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những vị Ðại Quỉ Vương như thế v.v.... mỗi vị cùng với trăm nghìn Tiểu Quỉ Vương, cả thảy ở trong cõi Diêm Phù Ðề, đều có trức trách, đều có phần chủ trị.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Quỉ Vương đó cùng với Vua Diêm La nương sức oai thần của Ðức Phật và oai lực của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, đồng lên đến cung trời Ðao Lợi đứng qua một phía.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua Diêm La Bạch Phật – Bấy giờ Vua Diêm La quì gối chắp tay bạch cùng Ðức Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Bạch đức Thế-Tôn! Nay chúng con cùng các vị Quỉ Vương nương sức oai thần của Ðức Phật và oai lực của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát mới được lên đến đại hội nơi cung trời Ðao Lợi này, mà cũng là vì chúng con đặng phước lành vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay chúng con có chút việc nghi ngờ, dám bạch hỏi đức Thế-Tôn, cúi xin đức Thế-Tôn từ bi vì chúng con mà chỉ dạy cho’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Vua Diêm La rằng: ‘Cho phép ông hỏi, Ta sẽ vì ông mà dạy rõ’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Vua Diêm La chiêm ngưỡng đảnh lễ đức Thế-Tôn và ngó ngoái lại Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, rồi bạch cùng Ðức Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát ở trong sáu đường dùng trăm nghìn phương chước để cứu độ những chúng sanh mắc phải tội khổ, Ngài không từ mệt nhọc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đây có những sự thần thông không thể nghĩ bàn được như thế, nhưng sao hàng chúng sanh vừa đặng thoát khỏi tội báo, không bao lâu lại phải bị đọa vào ác đạo nữa?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch đức Thế-Tôn! Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đã có thần lực chẳng thể nghĩ bàn như thế, nhưng tại vì cớ sao hàng chúng sanh chẳng chịu nương về đường lành để được giải thoát mãi mãi? Cúi xin đức Thế-Tôn dạy rõ việc đó cho chúng con’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Giảng Sở Nhơn – Ðức Phật bảo Vua Diêm La rằng: ‘Chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề tánh tình cứng cỏi khó dạy khó sửa. Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát đây trong trăm nghìn kiếp đã từng cứu vớt những chúng sanh đó làm cho sớm được giải thoát’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những người bị tội báo cho đến bị đọa vào đường ác lớn, Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát dùng sức phương tiện nhổ sạch cội gốc nghiệp duyên, mà làm cho chúng sanh đó nhớ biết những công việc ở đời trước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tại vì chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề kết nghiệp dữ, phạm tội nặng, nên vừa ra khỏi ác đạo, rồi trở vào lại, làm nhọc cho Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát phả trải qua nhiều số kiếp lo lắng để cứu độ chúng nó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như có người quên mất nhà mình, đi lạc vào con đường hiểm, trong con đường hiểm đó có rất nhiều thứ Quỉ Dạ Xoa, cùng hùm sói, sư tử, rắn độc, bò cạp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người quên đường đó ở trong đường hiểm chừng giây lát nữa sẽ bị hại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có một vị tri thức hiểu nhiều Pháp thuật lạ, có thể trừ sự độc hại đó, cho đến có thể trừ quỉ Dạ Xoa, các loài rắn độc v.v.... chợt gặp người quên lạc đường kia đương muốn đi thẳng vào con đường hiểm nạn, bèn vội bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Ô hay! Này ông kia! Có duyên sự gì mà vào con đường hiểm nạn này? Ông có Pháp thuật lạ gì có thể ngăn trừ các sự độc hại chăng?’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người lạc đường đó, bỗng nghe lời hỏi trên mới rõ là đường hiểm nạn, bèn liền lui trở lại muốn ra khỏi đường hiểm nạn đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị thiện tri thức ấy nắm tay dìu dắt, dẫn người lạc lối đó ra ngoài đường hiểm nạn, khỏi các sự độc hại đến nơi con đường tốt, làm cho được an ổn rồi bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Nầy người lạc đường! Từ nay về sau chớ có đi vào con đường hiểm nạn đó nữa, ai mà vào con đường hiểm đó, ắt khó ra khỏi đặng, lại còn phải bị tổn tánh mạng’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Người lạc đường đó cũng sanh lòng cảm trọng. Lúc từ biệt nhau, vị tri thức lại dặn thêm:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Nếu ông có gặp kẻ quen người thân cùng những người đi đường hoặc trai gái, thời ông bảo cho họ biết con đường đó có rất nhiều sự độc hại, vào đó ắt phải tổn tánh mạng, chớ để cho những người ấy tự vào chỗ chết!’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì thế nên Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đủ đức từ bi lớn, cứu vớt chúng sanh mắc tội khổ muốn cho chúng nó sanh lên cõi trời cõi người để hưởng lấy sự vui sướng tốt đẹp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những chúng sanh tội khổ đó rõ biết sự khốn khổ trong con đường ác nghiệp rồi, khi đã được ra khỏi, chẳng còn trở vào nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người quên đường kia lạc vào đường hiểm, gặp vị tri thức dẫn dắt cho ra khỏi không bao giờ còn lạc vào nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gặp gỡ người khác lại bảo chớ vào đường ấy, tự nói rằng mình là quên đường nên đi lạc vào đó, nay đặng thoát khỏi rồi, trọn hẳn không còn trở vào đường đó nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu còn đi vào đường ấy nữa, thời là còn mê lầm không biết đó là con đường hiểm nạn mà mình đã từng sa lạc rồi, hoặc đến nỗi phải mất mạng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như chúng sanh bị đọa vào chốn ác đạo, Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát dùng sức phươg tiện cứu vớt cho được thoát khỏi, sanh vào cõi trời, rồi cũng vẫn trở vào ác đạo nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu chúng sanh đó kết nghiệp quá nặng, thời ở mãi chốn địa ngục không lúc nào được thoát khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỉ Vương Bày Thiện Nguyện – ‘Bạch đức Thế-Tôn! Chúng con là hàng Quỉ Vương số đông vô lượng, ở trong cõi Diêm Phù Ðề, hoặc có vị làm lợi ích cho người, hoặc có vị làm tổn hại cho người mỗi mỗi đều không đồng nhau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng vì nghiệp báo khiến quyến thuộc chúng con đi qua thế giới ác nhiều lành ít.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ði qua sân nhà người, hoặc thành ấp, xóm làng, trại vườn, buồng nhà, trong đó như có người trai kẻ gái nào tu được chút phước lành bằng mảy lông sợi tóc, cho đến treo một lá phan, một bảo cái, chút hương, chút hoa cúng dường tượng Phật cùng tượng Bồ tát, hoặc đọc tụng Tôn-kinh, đốt hương cúng dường một bài kệ một câu kinh v.v…&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng Quỉ Vương chúng con cung kính làm lễ người đó như kính lễ các Ðức Phật thuở quá khứ, đương hiện tại cùng lúc vị lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con truyền các hàng Tiểu Quỉ có oai lực lớn, và kẻ có phần chức trách về cuộc đất đai đó, đều phải hỗ trợ giữ gìn, còn chẳng cho việc dữ cùng sự tai nạn bất kỳ, bịnh tật hiểm nghèo thình lình, cho đến những việc không vừa ý đến gần chỗ của các nhà đó, huống là để vào cửa!’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật khen Quỉ Vương rằng: ‘Hay thay! Tốt thay! Các ông cùng với Vua Diêm La có thể ủng hộ kẻ thiện nam người thiện nữ như thế! Ta cũng truyền cho các vị trời Phạm Vương, Ðế Thích hộ vệ các ông’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chủ Mạng Trình Thưa – Khi Ðức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp hội có một vị Quỉ Vương tên là Chủ Mạng bạch cùng Ðức Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;‘Bạch đức Thế-Tôn! Bổn nghiệp duyên của con là cai quản về tuổi thọ của người trong cõi Diêm Phù Ðề, khi sanh khi tử con đều coi biết đó, cứ theo nơi bổn nguyện của con thời có lợi ích rất lớn cho mọi người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng tại vì chúng sanh không hiểu ý con nên đến đổi khi sanh khi tử đều không được an ổn. Tại làm sao thế?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi Sanh Nở Nên Làm Lành Kiêng Ác – Người trong cõi Diêm Phù Ðề lúc mới sanh, không luận là con trai hay con gái, khi sắp sanh ra chỉ nên làm việc phước lành thêm sự lợi ích cho nhà cửa, thời Thổ Ðịa vui mừng không xiết, ủng hộ cả mẹ lẫn con đều đặng nhiều sự an vui, hàng thân quyến cũng được phước lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khi đã hạ sanh rồi, nên cẩn thận chớ có giết hại sanh vật để lấy những vị tươi ngon cung cấp cho người sản mẫu ăn, cùng nhóm họp cả hàng quyến thuộc lại để uống rượu ăn thịt, ca xang đờn sáo, nếu làm những việc trên đó có thể làm cho người mẹ đứa con chẳng đặng an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao thế? Vì lúc sanh sản nguy hiểm đó có vô số loài quỉ dữ cùng ma quái tinh mị muốn ăn huyết tanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhờ có con sớm đã sai các vị Thần Linh xá trạch Thổ Ðịa, bảo hộ mẹ con người ấy, làm cho được an vui mà đặng nhiều lợi ích.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy thấy mình được an ổn, thời đáng lẽ nên làm việc phước lành để đền đáp công ơn Thổ Ðịa, mà trái lại giết hại loài sanh vật, hội họp thân quyến, vì lẽ này, đã phạm tội lỗi tất phải tự thọ lấy tai vạ, mẹ con đều tổn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc Chết Nên Tu Phước – Lại người trong cõi Diêm Phù Ðề đến lúc mạng chung, không luận là người lành hay kẻ dữ, con cũng đều muốn cho họ không bị đọa lạc vào chốn ác đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống gì là người lúc sanh tiền biết tu tạo cội phước lành giúp thêm oai lực cho con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong cõi Diêm Phù Ðề, những người làm lành đến lúc mạng chung cũng còn có trăm nghìn quỉ thần ác đạo hoặc biến ra hình cha mẹ, nhẫn đến hóa làm người thân quyến dắt dẫn thần hồn người chết làm cho đọa lạc vào chốn ác đạo, huống chi là những kẻ lúc sanh tiền đã sẵn tạo nghiệp ác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch đức Thế-Tôn! Những kẻ nam tử nữ nhơn ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc lâm chung thời thần thức hôn mê không biện được lẽ lành điều dữ, cho đến mắt cùng tai không còn thấy nghe gì hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng thân quyến của người lâm chung đó, nên phải sắm sửa làm sự cúng dường lớn, tụng đọc Tôn Kinh, niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát, tu tạo nhơn duyên phúc lành như thế, có thể cho người chết thoát khỏi chốn ác đạo, các thứ ma, quỉ, ác thần thảy đều phải lui tan cả hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch đức Thế-Tôn! ‘Tất cả chúng sanh lúc lâm chung nếu đặng nghe danh hiệu của một Ðức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát, hoặc nghe một câu một bài kệ kinh điển đại thừa, con xem xét thấy hạng người ấy, trừ năm tội Vô Gián cùng tội sát hại, những nghiệp ác nho nhỏ đáng lẽ phải sa vào chốn ác đạo, liền đặng thoát khỏi cả’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật Căn Dặn – Ðức Phật bảo Chủ Mạng Quỉ Vương rằng: ‘Ông vì có lòng đại từ nên có thể phát ra lời nguyện lớn ở trong sanh tử cứu hộ chúng sanh như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như về trong đời sau này, có kẻ nam người nữ nào đến lúc sanh nở và lúc mạng chung, ông chớ quên lời nguyện lớn này, thường làm cho chúng sanh đó được an vui’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chủ Mạng Quỉ Vương bạch cùng Ðức Phật rằng: ‘Xin đức Thế-Tôn chớ lo nghĩ, con xin suốt đời trọn đời giữ gìn các chúng sanh ở cõi Diêm Phù Ðề, lúc sanh lúc tử đều đặng lợi ích an vui cả. Chỉ mong các chúng sanh đến lúc sanh lúc tử tin nhận lời con, không ai chẳng được lợi ích’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Ðức Phật bảo Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát: ‘Quỉ Vương Chủ Mạng này đã làm Ðại Quỉ Vương từ lâu trăm nghìn đời rồi, ngày đêm hộ vệ chúng sanh trong sanh tử. Ðây là do lòng từ bi lớn thương xót chúng sanh nên hiện thân Ðại Quỉ, chớ chẳng phải là Quỉ đâu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Qua khỏi một trăm bảy mươi kiếp sau, vị này sẽ được thành Phật hiệu là Vô Tướng Như Lai, kiếp tên An Lạc, cõi nước tên Tịnh Trụ, tuổi thọ của Ðức Phật ấy vô số kiếp. Này Ðịa-Tạng! Việc của Ðại Quỉ Vương như thế không thể nghĩ bàn, những kẻ Trời Người được Ngài độ thoát cũng vô lượng vô biên’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="13103438" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/630b9935-b158-44da-ab2e-071bce40a6ae/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">e829de49-3fbc-4ec7-a033-52e6187430d6</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/630b9935-b158-44da-ab2e-071bce40a6ae</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:46:58 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/fe88d64d-a3ab-4613-9a5a-74f96c6baf92_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>818</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 7</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 7</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 7 Kinh Địa Tạng (Phẩm Lợi Ích Cả Kẻ Còn Người Mất)</p><p>Phẩm 7 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện nhấn mạnh lợi ích vô lượng của việc tu tạo phước lành, cúng dường, niệm danh hiệu Phật, Bồ tát cho người sắp mạng chung hoặc đã qua đời, giúp tiêu trừ tội nghiệp, tránh ác đạo, sanh về cõi lành. Địa Tạng Bồ tát khuyên thân quyến tránh giết hại, tế lễ quỷ thần vì chỉ tăng tội; khuyến khích chí thành tu hành tinh sạch để cả người sống và vong linh đều được lợi ích, thể hiện nhân quả báo ứng và lòng từ bi cứu độ chúng sinh trong đời ác trược.</p><p>Toàn văn Phẩm 7: Lợi Ích Cả Kẻ Còn Người Mất</p><p><br></p><p>Khuyên Tu Thánh Ðạo – Lúc đó Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: ‘Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh trong cõi Diêm Phù sanh tâm động niệm không chi là chẳng phải tội. Nếu gặp những việc về pháp sự lợi lành phần nhiều thối thất tâm tốt ban đầu. Còn hoặc khi gặp duyên sự bạo ác chẳng lành lại lần lần thêm lớn: Những hạng người trên đó như kẻ mang đá nặng đi trong bùn lầy càng nặng thêm lần, càng khốn đốn thêm lần, chân đạp lún lút sâu. Những người đó hoặc gặp hàng thiện tri thức đội giùm đá bớt cho, hoặc là đội giùm hết cả, vì hàng thiện tri thức đó có sức rất khỏe mạnh lại dìu đỡ người ấy khuyên gắng làm cho người ấy mạnh chơn lên. Nếu khi ra khỏi bùn lầy đến chỗ đất bằng phẳng rồi, thời cần phải xét nghĩ đến con đường hiểm xấu ấy, đừng có đi vào đó nữa. Bạch đức Thế-Tôn! Những chúng sanh quen theo thói ác, bắt đầu từ mảy mún rồi lần đến nhiều vô lượng. Ðến khi những chúng sanh quen theo thói chẳng lành ấy sắp sửa mạng chung, thời cha mẹ cùng thân quyến vì người đó mà tu tạo phước lành để giúp tiền đồ cho người đó. Hoặc treo phan lọng và thắp đèn dầu, hoặc chuyển đọc Tôn Kinh, hoặc cúng dường tượng Phật cùng hình tượng của các vị Thánh, cho đến niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát cùng Bích Chi Phật, làm cho một danh một hiệu thấu vào lỗ tai của người sắp mạng chung, hoặc là nơi bổn thức nghe biết. Cứ theo nghiệp ác của người đó đã gây tạo, suy tính đến quả báo, thời đáng lẽ người đó phải bị đọa vào ác đạo, song nhờ thân quyến vì người đó mà tu nhơn duyên Thánh-đạo, cho nên các điều tội ác của người đó thảy đều tiêu sạch. Như sau khi người đó đã chết, lại có thể trong bốn mươi chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi trời hoặc sanh lên cõi lành, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích. Vì lẽ trên đó nên nay con đối trước đức Phật Thế-Tôn cùng với hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng, người với phi nhơn v.v… mà có lời khuyên bảo những chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Ðề, ngày lâm chung kẻ thân thuộc phải cẩn thận chớ có giết hại và chớ gây tạo nghiệp duyên chẳng lành, cũng đừng tế lễ Quỉ, Thần, cầu cúng ma quái. Vì sao thế? Vì việc giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cả, chỉ có kết thêm tội duyên của người đó làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi. Giả sử người chết đó hoặc là đời trước hay đời hiện tại vừa rồi, đã chứng đặng phần Thánh quả sẽ sanh vào cõi Trời, cõi người, nhưng bị vì lúc lâm chung hàng thân thuộc gây tạo những nghiệp nhơn không lành, cũng làm cho người chết đó mắc lấy ương lụy phải đối biện, chậm sanh vào chốn lành. Huống gì là người kia chết, lúc sanh tiền chưa từng làm được chút phước lành, đều theo ác nghiệp của họ đã gây tạo mà tự phải bị sa đọa vào ác đạo. Hàng thân thuộc nỡ nào lại làm cho tội nghiệp của người ấy nặng thêm! Cũng ví như, có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, đồ vật của người đó mang vác nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận lại gởi một ít đồ vật nữa, vì vậy mà người xứ xa đó càng phải khốn khổ nặng nề thêm. Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề, ở nơi trong giáo pháp của Phật, nếu có thể làm việc phước lành cho đến chừng bằng sợi lông, giọt nước, bằng một hột cát, một mảy bụi nhỏ, thời tất cả chúng sanh đó đều tự mình được lợi ích cả.</p><p>Trưởng Giả Bạch Hỏi – Khi Ngài Ðịa-Tạng nói lời như thế xong, trong pháp hội có một vị Trưởng Giả tên là Ðại Biện. Ông Trưởng Giả từ vô lượng kiếp đã chứng quả vô sanh hiện thân Trưởng Giả để hóa độ chúng sanh trong mười phương, ông chắp tay cung kính mà thưa hỏi Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có chúng sanh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc hoặc người lớn kẻ nhỏ, vì người chết đó mà tu các công đức, cho đến thiết trai cúng dường, làm những phước lành, thời người chết đó, có đặng lợi ích lớn cùng đặng giải thoát chăng?’</p><p>Kẻ Còn, Người Mất Ðều Ðược Lợi – Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đáp rằng: ‘Này ông Trưởng Giả! Nay tôi vì tất cả chúng sanh trong hiện tại này cùng thuở vị lai sau, nương nơi oai thần của Ðức Phật mà nói lược về việc đó. Này ông Trưởng Giả! Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một Ðức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát hay danh hiệu của một Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả. Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cả việc về Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó. Bởi vì cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành thời đặng hưởng trọn phần công đức. Con quỉ dữ vô thường kia không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Trong lúc mà chưa biết chắc ra làm sao đó thời đã nghìn muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các ác đạo. Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho. Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Người chết đó, nếu là kẻ có tội thời trải qua trong nghìn năm không có ngày nào được thoát khỏi. Còn nếu là kẻ phạm năm tội vô gián thời phải đọa vào đại địa ngục chịu mãi những sự đau khổ trong nghìn kiếp muôn kiếp. Lại vầy nữa, này ông Trưởng Giả! Sau khi những chúng sanh gây phạm tội nghiệp như thế mạng chung, hàng cốt nhục thân quyến có làm chay để giúp thêm phước lành cho người chết đó. Thời khi sắm sửa chưa rồi, cùng trong lúc đương làm chớ có đem nước gạo, lá rau v.v… đổ vãi ra nơi đất, cho đến các thứ đồ ăn chưa dưng cúng cho Phật cùng Tăng thời chẳng được ăn. Nếu như ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thời người chết đó trọn không được được mảy phước nào cả. Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dưng cúng cho Phật cùng Tăng, thời trong bảy phần công đức người chết hưởng được một phần. Nầy ông Trưởng Giả! Vì thế nên những chúng sanh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều đặng lợi ích cả’. Lúc Ngài Ðịa-Tạng nói lời này, tại cung trời Ðao Lợi có số nghìn muôn ức na-do-tha Quỉ Thần cõi Diêm-Phù-Ðề, đều phát tâm Bồ-Ðề vô lượng. Ông Trưởng Giả Ðại-Biện vui mừng vâng lời dạy, làm lễ mà lui ra.</p><p><br></p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 7 Kinh Địa Tạng (Phẩm Lợi Ích Cả Kẻ Còn Người Mất)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 7 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện nhấn mạnh lợi ích vô lượng của việc tu tạo phước lành, cúng dường, niệm danh hiệu Phật, Bồ tát cho người sắp mạng chung hoặc đã qua đời, giúp tiêu trừ tội nghiệp, tránh ác đạo, sanh về cõi lành. Địa Tạng Bồ tát khuyên thân quyến tránh giết hại, tế lễ quỷ thần vì chỉ tăng tội; khuyến khích chí thành tu hành tinh sạch để cả người sống và vong linh đều được lợi ích, thể hiện nhân quả báo ứng và lòng từ bi cứu độ chúng sinh trong đời ác trược.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 7: Lợi Ích Cả Kẻ Còn Người Mất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khuyên Tu Thánh Ðạo – Lúc đó Ngài Ðịa-Tạng đại Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: ‘Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét chúng sanh trong cõi Diêm Phù sanh tâm động niệm không chi là chẳng phải tội. Nếu gặp những việc về pháp sự lợi lành phần nhiều thối thất tâm tốt ban đầu. Còn hoặc khi gặp duyên sự bạo ác chẳng lành lại lần lần thêm lớn: Những hạng người trên đó như kẻ mang đá nặng đi trong bùn lầy càng nặng thêm lần, càng khốn đốn thêm lần, chân đạp lún lút sâu. Những người đó hoặc gặp hàng thiện tri thức đội giùm đá bớt cho, hoặc là đội giùm hết cả, vì hàng thiện tri thức đó có sức rất khỏe mạnh lại dìu đỡ người ấy khuyên gắng làm cho người ấy mạnh chơn lên. Nếu khi ra khỏi bùn lầy đến chỗ đất bằng phẳng rồi, thời cần phải xét nghĩ đến con đường hiểm xấu ấy, đừng có đi vào đó nữa. Bạch đức Thế-Tôn! Những chúng sanh quen theo thói ác, bắt đầu từ mảy mún rồi lần đến nhiều vô lượng. Ðến khi những chúng sanh quen theo thói chẳng lành ấy sắp sửa mạng chung, thời cha mẹ cùng thân quyến vì người đó mà tu tạo phước lành để giúp tiền đồ cho người đó. Hoặc treo phan lọng và thắp đèn dầu, hoặc chuyển đọc Tôn Kinh, hoặc cúng dường tượng Phật cùng hình tượng của các vị Thánh, cho đến niệm danh hiệu của Phật và Bồ Tát cùng Bích Chi Phật, làm cho một danh một hiệu thấu vào lỗ tai của người sắp mạng chung, hoặc là nơi bổn thức nghe biết. Cứ theo nghiệp ác của người đó đã gây tạo, suy tính đến quả báo, thời đáng lẽ người đó phải bị đọa vào ác đạo, song nhờ thân quyến vì người đó mà tu nhơn duyên Thánh-đạo, cho nên các điều tội ác của người đó thảy đều tiêu sạch. Như sau khi người đó đã chết, lại có thể trong bốn mươi chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thời có thể làm cho người chết đó khỏi hẳn chốn ác đạo, được sanh lên cõi trời hoặc sanh lên cõi lành, mà kẻ thân quyến hiện tại đó cũng được vô lượng điều lợi ích. Vì lẽ trên đó nên nay con đối trước đức Phật Thế-Tôn cùng với hàng Trời, Rồng, tám bộ chúng, người với phi nhơn v.v… mà có lời khuyên bảo những chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Ðề, ngày lâm chung kẻ thân thuộc phải cẩn thận chớ có giết hại và chớ gây tạo nghiệp duyên chẳng lành, cũng đừng tế lễ Quỉ, Thần, cầu cúng ma quái. Vì sao thế? Vì việc giết hại cho đến tế lễ đó, không có một mảy mún chi lợi ích cho người chết cả, chỉ có kết thêm tội duyên của người đó làm cho càng thêm sâu nặng hơn thôi. Giả sử người chết đó hoặc là đời trước hay đời hiện tại vừa rồi, đã chứng đặng phần Thánh quả sẽ sanh vào cõi Trời, cõi người, nhưng bị vì lúc lâm chung hàng thân thuộc gây tạo những nghiệp nhơn không lành, cũng làm cho người chết đó mắc lấy ương lụy phải đối biện, chậm sanh vào chốn lành. Huống gì là người kia chết, lúc sanh tiền chưa từng làm được chút phước lành, đều theo ác nghiệp của họ đã gây tạo mà tự phải bị sa đọa vào ác đạo. Hàng thân thuộc nỡ nào lại làm cho tội nghiệp của người ấy nặng thêm! Cũng ví như, có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày, đồ vật của người đó mang vác nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân cận lại gởi một ít đồ vật nữa, vì vậy mà người xứ xa đó càng phải khốn khổ nặng nề thêm. Bạch đức Thế-Tôn! Con xem xét những chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề, ở nơi trong giáo pháp của Phật, nếu có thể làm việc phước lành cho đến chừng bằng sợi lông, giọt nước, bằng một hột cát, một mảy bụi nhỏ, thời tất cả chúng sanh đó đều tự mình được lợi ích cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng Giả Bạch Hỏi – Khi Ngài Ðịa-Tạng nói lời như thế xong, trong pháp hội có một vị Trưởng Giả tên là Ðại Biện. Ông Trưởng Giả từ vô lượng kiếp đã chứng quả vô sanh hiện thân Trưởng Giả để hóa độ chúng sanh trong mười phương, ông chắp tay cung kính mà thưa hỏi Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có chúng sanh nào sau khi mạng chung, mà hàng quyến thuộc hoặc người lớn kẻ nhỏ, vì người chết đó mà tu các công đức, cho đến thiết trai cúng dường, làm những phước lành, thời người chết đó, có đặng lợi ích lớn cùng đặng giải thoát chăng?’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ Còn, Người Mất Ðều Ðược Lợi – Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát đáp rằng: ‘Này ông Trưởng Giả! Nay tôi vì tất cả chúng sanh trong hiện tại này cùng thuở vị lai sau, nương nơi oai thần của Ðức Phật mà nói lược về việc đó. Này ông Trưởng Giả! Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe đặng danh hiệu của một Ðức Phật, danh hiệu của một Bồ Tát hay danh hiệu của một Bích Chi Phật, thời không luận là có tội cùng không tội đều được giải thoát cả. Như có người nam cùng người nữ nào lúc sanh tiền không tu tạo phước lành mà lại gây lấy những tội ác, sau khi người mạng chung, hàng thân quyến kẻ lớn người nhỏ vì người chết mà tu tạo phước lợi làm tất cả việc về Thánh đạo, thời trong bảy phần công đức người chết nhờ đặng một phần, còn sáu phần công đức thuộc về người thân quyến hiện lo tu tạo đó. Bởi vì cớ trên đây, nên những người thiện nam cùng thiện nữ ở hiện tại và vị lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng mà tu hành thời đặng hưởng trọn phần công đức. Con quỉ dữ vô thường kia không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt mờ chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày như ngây như điếc, hoặc ở các ty sở để biện luận về nghiệp quả, khi thẩm định xong thời cứ y theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Trong lúc mà chưa biết chắc ra làm sao đó thời đã nghìn muôn sầu khổ, huống là phải bị đọa vào các ác đạo. Thần hồn người chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín ngày, luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục thân quyến tu tạo phước lành để cứu vớt cho. Qua khỏi bốn mươi chín ngày thời cứ theo nghiệp mà thọ lấy quả báo. Người chết đó, nếu là kẻ có tội thời trải qua trong nghìn năm không có ngày nào được thoát khỏi. Còn nếu là kẻ phạm năm tội vô gián thời phải đọa vào đại địa ngục chịu mãi những sự đau khổ trong nghìn kiếp muôn kiếp. Lại vầy nữa, này ông Trưởng Giả! Sau khi những chúng sanh gây phạm tội nghiệp như thế mạng chung, hàng cốt nhục thân quyến có làm chay để giúp thêm phước lành cho người chết đó. Thời khi sắm sửa chưa rồi, cùng trong lúc đương làm chớ có đem nước gạo, lá rau v.v… đổ vãi ra nơi đất, cho đến các thứ đồ ăn chưa dưng cúng cho Phật cùng Tăng thời chẳng được ăn. Nếu như ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thời người chết đó trọn không được được mảy phước nào cả. Nếu có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dưng cúng cho Phật cùng Tăng, thời trong bảy phần công đức người chết hưởng được một phần. Nầy ông Trưởng Giả! Vì thế nên những chúng sanh trong cõi Diêm Phù, sau khi cha mẹ hay người thân quyến chết, nếu có thể làm chay cúng dường, chí tâm cầu khẩn thời những người như thế, kẻ còn lẫn người mất đều đặng lợi ích cả’. Lúc Ngài Ðịa-Tạng nói lời này, tại cung trời Ðao Lợi có số nghìn muôn ức na-do-tha Quỉ Thần cõi Diêm-Phù-Ðề, đều phát tâm Bồ-Ðề vô lượng. Ông Trưởng Giả Ðại-Biện vui mừng vâng lời dạy, làm lễ mà lui ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8470360" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/de62e742-02d1-4f2e-81ee-74cf89d09029/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">330b133b-5a65-40e3-a25b-e4bfd887f430</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/de62e742-02d1-4f2e-81ee-74cf89d09029</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:42:18 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/58198b03-7f43-47f5-85c4-b1e51dfaa88a_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>529</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 6_Như Lai Tán Thán</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 6_Như Lai Tán Thán</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 6 Kinh Địa Tạng (Phẩm Như Lai Tán Thán)</p><p>Phẩm 6 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả Đức Phật tán thán oai đức và bổn nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, phóng đại quang minh chiếu soi các địa ngục khiến vô số chúng sinh khổ đau tạm thời thoát khổ và được siêu độ. Phật khuyên chúng sinh niệm danh hiệu, chiêm bái hình tượng Địa Tạng để được bảo hộ, tránh ác đạo, tích phước lành, nhấn mạnh công đức vô lượng của việc trì niệm và cúng dường, khuyến khích phát tâm từ bi, tu thiện để giải thoát, thể hiện lòng đại bi cứu khổ của chư Phật và Bồ tát.</p><p>Toàn văn Phẩm 6: Như Lai Tán Thán</p><p>Phẩm Thứ Sáu: Như Lai Tán Thán</p><p><br></p><p>Phật Phóng Quang - Lúc đó, đức Thế-Tôn phóng đại quang minh chiếu khắp trăm nghìn muôn ức na-do-tha hằng hà sa thế giới, cùng các đại địa ngục và các chỗ tội khổ của chúng sanh trong sáu đường ở mười phương.</p><p><br></p><p>Trong quang minh đó, có tiếng lớn bảo khắp các thế giới rằng: ‘Hôm nay các ông nên tin kính lời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói, tán thán Ðịa-Tạng Bồ Tát có sức oai thần đại từ bi chẳng thể nghĩ bàn, cứu khổ chúng sanh trong sáu đường. Sau khi Ta diệt độ, Ðịa-Tạng Bồ Tát sẽ giáo hóa chúng sanh trong sáu đường khiến đặng giải thoát. Các ông nên tin kính lời Ta nói’.</p><p>Các chúng sanh ở trong sáu đường nghe lời Phật dạy, đều buồn khóc rơi lệ, chấp tay đảnh lễ mà tin nhận.</p><p>Bấy giờ, đức Thế-Tôn bảo Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Ông thấy những chúng sanh trong sáu đường chịu các điều khổ não chưa? Ta nay thương xót họ, nên khen ngợi ông và chư Phật mười phương đều hộ niệm ông’.</p><p><br></p><p>Phật Tán Thán - Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con từ vô lượng kiếp đến nay, nhờ oai thần của chư Phật gia bị, nên có sức thần thông lớn, khắp các thế giới. Ở đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe danh hiệu con, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng tán, hoặc cúng dường, hoặc vẽ vời hình tượng con, thời người đó sẽ được sanh lên cõi trời Ðao Lợi trăm lần, chẳng còn sa vào ác đạo.</p><p><br></p><p>Bạch Thế-Tôn! Những chúng sanh ác nghiệp ở đời sau, nếu lúc lâm chung có người chí thành niệm danh hiệu con, thời tội nghiệp của kẻ lâm chung liền được tiêu diệt. Huống chi chúng sanh nghe danh hiệu con mà chí thành quy y, cúng dường, thời người đó đặng phước lợi vô lượng.</p><p>Bạch Thế-Tôn! Chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề, chí đến mảy may động niệm cũng đều là nghiệp là tội. Nếu gặp thiện duyên, thời theo đó mà hưởng quả vui trong nhơn thiên. Nếu gặp ác duyên, thời theo đó mà chịu khổ lâu dài trong ác đạo. Nếu có chúng sanh nào lúc lâm chung, nghe danh hiệu một vị Phật hoặc một vị Bồ Tát, thời tội nghiệp liền tiêu, đặng sanh về cõi lành. Huống chi nghe nhiều danh hiệu Phật Bồ Tát, thời người đó đặng phước lợi lớn, chẳng còn chịu khổ trong ác đạo’.</p><p>Ðức Phật bảo Ðịa-Tạng Bồ Tát: ‘Hay thay! Hay thay! Ta hỗ trợ ông được toại nguyện, ông sẽ thành tựu thệ nguyện rộng lớn, độ khắp chúng sanh khiến đều thành Phật đạo. Ðịa-Tạng! Chúng sanh chưa được độ, ông chớ có sanh lòng mỏi mệt’.</p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con từ vô lượng kiếp đến nay, nhờ oai lực của Phật mà độ chúng sanh, từ sơ phát tâm đến nay, những chúng sanh đã độ đặng đều chứng quả Bồ Ðề. Những chúng sanh chưa độ, con xin ở trong sáu đường độ họ khiến đặng giải thoát, con sẽ không mỏi mệt’.</p><p><br></p><p>Phật Thọ Ký - Ðức Phật khen Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Hay thay! Hay thay! Ông hay điều phục chúng sanh cang cường ở đời ác ngũ trược, khiến đặng giải thoát. Nay Ta thọ ký cho ông, sau khi Ta diệt độ, đến lúc Di-Lặc chưa ra đời, ông độ chúng sanh khiến đầy khắp các thế giới, đều đặng giải thoát, chứng quả Niết Bàn’.</p><p><br></p><p>Ðức Phật nói lời đó rồi, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên Hư Không Tạng bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con nghe đức Phật khen ngợi Ðịa-Tạng Bồ Tát có sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn. Ở đời sau, nếu có thiện nam thiện nữ nào nghe danh hiệu Ðịa-Tạng Bồ Tát mà chiêm ngưỡng vái lạy, xưng niệm, cúng dường, thời được bao nhiêu công đức?’.</p><p>Ðức Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát: ‘Lắng nghe lắng nghe! Ta sẽ vì ông mà phân biệt nói rõ. Ở đời sau, nếu có thiện nam thiện nữ nào thấy hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát mà nghe kinh này, cho đến niệm một câu một kệ, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, cúng dường hương hoa, đồ ăn uống, y phục, châu báu, thời người đó trong trăm nghìn kiếp thường sanh lên cõi trời, hưởng sự vui đẹp thù thắng. Nếu phước hết sanh xuống nhơn gian, thời trăm nghìn kiếp thường làm vua nước, hay nhớ túc mạng. Nếu có người nghe danh hiệu Ðịa-Tạng Bồ Tát mà chí thành quy y, thời người đó đặng mười việc lợi ích: một là đất đai mầu mỡ; hai là nhà cửa yên ổn; ba là vong linh siêu thoát; bốn là hiện tiền tăng ích; năm là tiêu tai tích phước; sáu là quan lộ hanh thông; bảy là gia đình vui vẻ; tám là trừ sạch nghiệp chướng; chín là các cửa đều biết; mười là mạng chung sanh thiên’.</p><p>Ðức Phật nói lời đó rồi, Hư Không Tạng Bồ Tát quì gối chắp tay bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con từ kiếp lâu xa đến nay, chiêm ngưỡng Ðịa-Tạng Bồ Tát, nghe đức Phật khen ngợi, biết Bồ Tát có sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn. Nếu đời sau có chúng sanh nào đặng nghe kinh điển này, cho đến niệm danh hiệu Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời con xin dùng thần lực khiến người đó đặng lợi ích’.</p><p>Ðức Phật bảo Hư Không Tạng: ‘Hay thay! Hay thay! Ông hay hỗ trợ Ðịa-Tạng Bồ Tát độ chúng sanh, Ta thọ ký cho ông đến đời bất khả thuyết kiếp sẽ thành Phật độ sanh’.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 6 Kinh Địa Tạng (Phẩm Như Lai Tán Thán)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 6 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả Đức Phật tán thán oai đức và bổn nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, phóng đại quang minh chiếu soi các địa ngục khiến vô số chúng sinh khổ đau tạm thời thoát khổ và được siêu độ. Phật khuyên chúng sinh niệm danh hiệu, chiêm bái hình tượng Địa Tạng để được bảo hộ, tránh ác đạo, tích phước lành, nhấn mạnh công đức vô lượng của việc trì niệm và cúng dường, khuyến khích phát tâm từ bi, tu thiện để giải thoát, thể hiện lòng đại bi cứu khổ của chư Phật và Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 6: Như Lai Tán Thán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Sáu: Như Lai Tán Thán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Phóng Quang - Lúc đó, đức Thế-Tôn phóng đại quang minh chiếu khắp trăm nghìn muôn ức na-do-tha hằng hà sa thế giới, cùng các đại địa ngục và các chỗ tội khổ của chúng sanh trong sáu đường ở mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong quang minh đó, có tiếng lớn bảo khắp các thế giới rằng: ‘Hôm nay các ông nên tin kính lời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói, tán thán Ðịa-Tạng Bồ Tát có sức oai thần đại từ bi chẳng thể nghĩ bàn, cứu khổ chúng sanh trong sáu đường. Sau khi Ta diệt độ, Ðịa-Tạng Bồ Tát sẽ giáo hóa chúng sanh trong sáu đường khiến đặng giải thoát. Các ông nên tin kính lời Ta nói’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng sanh ở trong sáu đường nghe lời Phật dạy, đều buồn khóc rơi lệ, chấp tay đảnh lễ mà tin nhận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, đức Thế-Tôn bảo Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Ông thấy những chúng sanh trong sáu đường chịu các điều khổ não chưa? Ta nay thương xót họ, nên khen ngợi ông và chư Phật mười phương đều hộ niệm ông’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Tán Thán - Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con từ vô lượng kiếp đến nay, nhờ oai thần của chư Phật gia bị, nên có sức thần thông lớn, khắp các thế giới. Ở đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe danh hiệu con, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng tán, hoặc cúng dường, hoặc vẽ vời hình tượng con, thời người đó sẽ được sanh lên cõi trời Ðao Lợi trăm lần, chẳng còn sa vào ác đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế-Tôn! Những chúng sanh ác nghiệp ở đời sau, nếu lúc lâm chung có người chí thành niệm danh hiệu con, thời tội nghiệp của kẻ lâm chung liền được tiêu diệt. Huống chi chúng sanh nghe danh hiệu con mà chí thành quy y, cúng dường, thời người đó đặng phước lợi vô lượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế-Tôn! Chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề, chí đến mảy may động niệm cũng đều là nghiệp là tội. Nếu gặp thiện duyên, thời theo đó mà hưởng quả vui trong nhơn thiên. Nếu gặp ác duyên, thời theo đó mà chịu khổ lâu dài trong ác đạo. Nếu có chúng sanh nào lúc lâm chung, nghe danh hiệu một vị Phật hoặc một vị Bồ Tát, thời tội nghiệp liền tiêu, đặng sanh về cõi lành. Huống chi nghe nhiều danh hiệu Phật Bồ Tát, thời người đó đặng phước lợi lớn, chẳng còn chịu khổ trong ác đạo’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Ðịa-Tạng Bồ Tát: ‘Hay thay! Hay thay! Ta hỗ trợ ông được toại nguyện, ông sẽ thành tựu thệ nguyện rộng lớn, độ khắp chúng sanh khiến đều thành Phật đạo. Ðịa-Tạng! Chúng sanh chưa được độ, ông chớ có sanh lòng mỏi mệt’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con từ vô lượng kiếp đến nay, nhờ oai lực của Phật mà độ chúng sanh, từ sơ phát tâm đến nay, những chúng sanh đã độ đặng đều chứng quả Bồ Ðề. Những chúng sanh chưa độ, con xin ở trong sáu đường độ họ khiến đặng giải thoát, con sẽ không mỏi mệt’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Thọ Ký - Ðức Phật khen Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Hay thay! Hay thay! Ông hay điều phục chúng sanh cang cường ở đời ác ngũ trược, khiến đặng giải thoát. Nay Ta thọ ký cho ông, sau khi Ta diệt độ, đến lúc Di-Lặc chưa ra đời, ông độ chúng sanh khiến đầy khắp các thế giới, đều đặng giải thoát, chứng quả Niết Bàn’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật nói lời đó rồi, trong pháp hội có một vị Bồ Tát tên Hư Không Tạng bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con nghe đức Phật khen ngợi Ðịa-Tạng Bồ Tát có sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn. Ở đời sau, nếu có thiện nam thiện nữ nào nghe danh hiệu Ðịa-Tạng Bồ Tát mà chiêm ngưỡng vái lạy, xưng niệm, cúng dường, thời được bao nhiêu công đức?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Hư Không Tạng Bồ Tát: ‘Lắng nghe lắng nghe! Ta sẽ vì ông mà phân biệt nói rõ. Ở đời sau, nếu có thiện nam thiện nữ nào thấy hình tượng Ðịa-Tạng Bồ Tát mà nghe kinh này, cho đến niệm một câu một kệ, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, cúng dường hương hoa, đồ ăn uống, y phục, châu báu, thời người đó trong trăm nghìn kiếp thường sanh lên cõi trời, hưởng sự vui đẹp thù thắng. Nếu phước hết sanh xuống nhơn gian, thời trăm nghìn kiếp thường làm vua nước, hay nhớ túc mạng. Nếu có người nghe danh hiệu Ðịa-Tạng Bồ Tát mà chí thành quy y, thời người đó đặng mười việc lợi ích: một là đất đai mầu mỡ; hai là nhà cửa yên ổn; ba là vong linh siêu thoát; bốn là hiện tiền tăng ích; năm là tiêu tai tích phước; sáu là quan lộ hanh thông; bảy là gia đình vui vẻ; tám là trừ sạch nghiệp chướng; chín là các cửa đều biết; mười là mạng chung sanh thiên’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật nói lời đó rồi, Hư Không Tạng Bồ Tát quì gối chắp tay bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con từ kiếp lâu xa đến nay, chiêm ngưỡng Ðịa-Tạng Bồ Tát, nghe đức Phật khen ngợi, biết Bồ Tát có sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn. Nếu đời sau có chúng sanh nào đặng nghe kinh điển này, cho đến niệm danh hiệu Ðịa-Tạng Bồ Tát, thời con xin dùng thần lực khiến người đó đặng lợi ích’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Phật bảo Hư Không Tạng: ‘Hay thay! Hay thay! Ông hay hỗ trợ Ðịa-Tạng Bồ Tát độ chúng sanh, Ta thọ ký cho ông đến đời bất khả thuyết kiếp sẽ thành Phật độ sanh’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6333335" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/c2387348-b246-43c9-ac95-9a0437cc0818/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">b24582e8-7fcb-46ce-8abc-c5d91bcd4d5b</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/c2387348-b246-43c9-ac95-9a0437cc0818</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:32:53 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/76fa5f07-f715-40fc-92cc-1b405a71c7cb_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>395</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 5_Danh Hiệu Của Ðịa Ngục</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 5_Danh Hiệu Của Ðịa Ngục</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 5 Kinh Địa Tạng (Phẩm Danh Hiệu Của Ðịa Ngục)</p><p>Phẩm 5 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả Phổ Hiền Bồ Tát hỏi Địa Tạng về tên gọi và tội báo của các địa ngục, nơi chúng sinh chịu quả báo từ ác nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ. Địa Tạng liệt kê vô số địa ngục với hình phạt khủng khiếp, nhấn mạnh nhân quả báo ứng, khuyến khích chúng sinh tránh ác làm lành, tu tập để tránh đọa lạc, thể hiện lòng từ bi vô hạn của Bồ tát trong việc cảnh tỉnh và cứu độ chúng sinh khỏi khổ đau địa ngục.</p><p>Toàn văn Phẩm 5: Danh Hiệu Của Ðịa Ngục</p><p>PHẨM THỨ NĂM: DANH HIỆU CỦA ÐỊA NGỤC</p><p><br></p><p>Phổ Hiền Hỏi - Lúc đó, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát thưa cùng Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thưa Nhơn Giả! Xin vì Trời, Rồng tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau mà nói tên các địa ngục và những việc tội báo thống khổ ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề’.</p><p><br></p><p>Ngài Ðịa-Tạng đáp rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Nay tôi nương oai thần của đức Phật cùng oai lực của Ðại Sĩ, mà lược nói danh hiệu các địa ngục và tội báo ác khổ. Thưa Ðại Sĩ! Ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề, về phía Ðông có núi tên Thiết Vi, chỗ đó tối tăm không có mặt trời mặt trăng, có đại địa ngục hiệu là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên Ðại A Tỳ.</p><p>Lại có địa ngục tên Tứ Giác, địa ngục tên Phi Ðao, địa ngục tên Hỏa Tiễn, địa ngục tên Giáp Sơn, địa ngục tên Thông Thương, địa ngục tên Thiết Xa, địa ngục tên Thiết Sàng, địa ngục tên Thiết Ngưu, địa ngục tên Thiết Y, địa ngục tên Thiên Nhẫn, địa ngục tên Thiết Hồ, địa ngục tên Thiết Ngưu, địa ngục tên Thiết Ða Diện, địa ngục tên Ðồng Uống, địa ngục tên Ðồng Thiêu, địa ngục tên Ðồng Thiêu Thủ, địa ngục tên Thiêu Cước, địa ngục tên Ðảo Xỉ, địa ngục tên Bạc Da, địa ngục tên Uống Huyết, địa ngục tên Thiêu Thủ, địa ngục tên Thiêu Cước, địa ngục tên Ðảo Huyền, địa ngục tên Châm Ðâm, địa ngục tên Thiết Phủ, địa ngục tên Thiết Câu, địa ngục tên Thiết Cốt Ðõi, địa ngục tên Thiết Thụ, địa ngục tên Thiết Ðao, địa ngục tên Thiết Sợi, địa ngục tên Thiết Ðồn, địa ngục tên Thiết Ảnh, địa ngục tên Thiết Tiên, địa ngục tên Thiết Ðồng, địa ngục tên Thiết Ðao, địa ngục tên Thiết Tàm, địa ngục tên Ðồng Trụ, địa ngục tên Hỏa Lưu, địa ngục tên Ðồng Luyện, địa ngục tên Ðồng Tỏa, địa ngục tên Hỏa Cẩu, địa ngục tên Hỏa Mã, địa ngục tên Hỏa Ngưu, địa ngục tên Hỏa Sơn, địa ngục tên Hỏa Thạch, địa ngục tên Hỏa Sàng, địa ngục tên Hỏa Lương, địa ngục tên Hỏa Tượng, địa ngục tên Hỏa Sàng, địa ngục tên Thiết Sàng.</p><p>Thưa Ðại Sĩ! Trong núi Thiết Vi có những địa ngục như thế, số nhiều vô hạn. Lại có địa ngục kêu là Kêu La, địa ngục tên Bạt Thiệt, địa ngục tên Phân Thiêu, địa ngục tên Thiết Khỏa, địa ngục tên Uế Vật, địa ngục tên Ðồng Khỏa, địa ngục tên Hỏa Oanh, địa ngục tên Ðại Hỏa Oanh, địa ngục tên Thiêu Như Hỏa Sơn, địa ngục tên Thiêu Như Hỏa Hải, địa ngục tên Thiết Hoàn, địa ngục tên Thiết Thụ, địa ngục tên Thiết Tàm, địa ngục tên Thiết Long, địa ngục tên Thiết Hồ, địa ngục tên Thiết Ngưu, địa ngục tên Thiết Ðao.</p><p>Thưa Ðại Sĩ! Các địa ngục trong núi Thiết Vi như thế, mỗi mỗi địa ngục lại có vô lượng tiểu địa ngục, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, nhẫn đến trăm nghìn, mỗi mỗi đều có danh hiệu riêng.</p><p>Thưa Ðại Sĩ! Các địa ngục đó đều do chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề tạo ác nghiệp mà cảm ra. Tôi nay lược nói tội báo của chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề như thế, nếu nói rộng thời nghìn muôn ức kiếp cũng chẳng hết’.</p><p>Ngài Ðịa-Tạng nói lời đó rồi, chắp tay bạch cùng Phổ Hiền Bồ Tát rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Các địa ngục ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề tội báo ác khổ lược như thế đó. Nếu nói rộng các danh hiệu địa ngục cùng tội báo thống khổ thời trong một kiếp nói cũng chẳng hết’.</p><p><br></p><p>Phổ Hiền Khuyên Bảo - Phổ Hiền Bồ Tát nghe rồi buồn rầu, chắp tay bạch Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thưa Nhơn Giả! Nguyện Nhơn Giả vì tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp mà tuyên nói những việc địa ngục tội báo, khiến cho chúng sanh đời ác trược hay kính tin nhân quả’.</p><p><br></p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Nay tôi nương oai thần của đức Phật và oai lực của Ðại Sĩ, lược nói tội báo của địa ngục. Cúi mong Ðại Sĩ lắng nghe nhận lấy’.</p><p>Phổ Hiền Bồ Tát bạch rằng: ‘Từ lâu tôi đã biết ba đường ác khổ, mong Nhơn Giả nói cho, để những chúng sanh tội khổ đời sau nghe rồi cải ác tu thiện, quy y Tam Bảo’.</p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Tội báo của địa ngục lược như thế này: Hoặc có địa ngục bạt lưỡi tội nhân ra rồi dùng cày sắt cày trên đó; hoặc có địa ngục lấy tim tội nhân cho Dạ Xoa ăn; hoặc có địa ngục nấu sôi chảo dầu lớn, bắt tội nhân vào chiên giòn; hoặc có địa ngục lấy trụ đồng đốt đỏ bắt tội nhân ôm; hoặc có địa ngục các lửa cháy xông đốt tội nhân; hoặc có địa ngục toàn lạnh giá; hoặc có địa ngục toàn phân uế vô tận; hoặc có địa ngục toàn chĩa sắt; hoặc có địa ngục toàn gậy lửa; hoặc có địa ngục chỉ đâm vào ngực; hoặc có địa ngục lửa đốt tay chân; hoặc có địa ngục rắn sắt cắn xé; hoặc có địa ngục chó sắt đuổi; hoặc có địa ngục toàn trâu sắt.</p><p>Những địa ngục như thế đều do chúng sanh tạo mười ác nghiệp mà cảm ra: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham lam, sân hận, tà kiến.</p><p>Thưa Ðại Sĩ! Những chúng sanh tạo ác nghiệp như thế, nên phải chịu quả báo địa ngục. Dù trăm nghìn kiếp, tội khổ liên miên không dứt. Tôi thương những chúng sanh tội khổ đó, nên ở trước chư Phật phát nguyện rộng lớn, độ khắp chúng sanh khiến đều thành Phật đạo’.</p><p>Ngài Ðịa-Tạng nói lời đó rồi, chắp tay mà lui.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 5 Kinh Địa Tạng (Phẩm Danh Hiệu Của Ðịa Ngục)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 5 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả Phổ Hiền Bồ Tát hỏi Địa Tạng về tên gọi và tội báo của các địa ngục, nơi chúng sinh chịu quả báo từ ác nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ. Địa Tạng liệt kê vô số địa ngục với hình phạt khủng khiếp, nhấn mạnh nhân quả báo ứng, khuyến khích chúng sinh tránh ác làm lành, tu tập để tránh đọa lạc, thể hiện lòng từ bi vô hạn của Bồ tát trong việc cảnh tỉnh và cứu độ chúng sinh khỏi khổ đau địa ngục.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 5: Danh Hiệu Của Ðịa Ngục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;PHẨM THỨ NĂM: DANH HIỆU CỦA ÐỊA NGỤC&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền Hỏi - Lúc đó, Ngài Phổ Hiền Bồ Tát thưa cùng Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thưa Nhơn Giả! Xin vì Trời, Rồng tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau mà nói tên các địa ngục và những việc tội báo thống khổ ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng đáp rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Nay tôi nương oai thần của đức Phật cùng oai lực của Ðại Sĩ, mà lược nói danh hiệu các địa ngục và tội báo ác khổ. Thưa Ðại Sĩ! Ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề, về phía Ðông có núi tên Thiết Vi, chỗ đó tối tăm không có mặt trời mặt trăng, có đại địa ngục hiệu là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên Ðại A Tỳ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có địa ngục tên Tứ Giác, địa ngục tên Phi Ðao, địa ngục tên Hỏa Tiễn, địa ngục tên Giáp Sơn, địa ngục tên Thông Thương, địa ngục tên Thiết Xa, địa ngục tên Thiết Sàng, địa ngục tên Thiết Ngưu, địa ngục tên Thiết Y, địa ngục tên Thiên Nhẫn, địa ngục tên Thiết Hồ, địa ngục tên Thiết Ngưu, địa ngục tên Thiết Ða Diện, địa ngục tên Ðồng Uống, địa ngục tên Ðồng Thiêu, địa ngục tên Ðồng Thiêu Thủ, địa ngục tên Thiêu Cước, địa ngục tên Ðảo Xỉ, địa ngục tên Bạc Da, địa ngục tên Uống Huyết, địa ngục tên Thiêu Thủ, địa ngục tên Thiêu Cước, địa ngục tên Ðảo Huyền, địa ngục tên Châm Ðâm, địa ngục tên Thiết Phủ, địa ngục tên Thiết Câu, địa ngục tên Thiết Cốt Ðõi, địa ngục tên Thiết Thụ, địa ngục tên Thiết Ðao, địa ngục tên Thiết Sợi, địa ngục tên Thiết Ðồn, địa ngục tên Thiết Ảnh, địa ngục tên Thiết Tiên, địa ngục tên Thiết Ðồng, địa ngục tên Thiết Ðao, địa ngục tên Thiết Tàm, địa ngục tên Ðồng Trụ, địa ngục tên Hỏa Lưu, địa ngục tên Ðồng Luyện, địa ngục tên Ðồng Tỏa, địa ngục tên Hỏa Cẩu, địa ngục tên Hỏa Mã, địa ngục tên Hỏa Ngưu, địa ngục tên Hỏa Sơn, địa ngục tên Hỏa Thạch, địa ngục tên Hỏa Sàng, địa ngục tên Hỏa Lương, địa ngục tên Hỏa Tượng, địa ngục tên Hỏa Sàng, địa ngục tên Thiết Sàng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Ðại Sĩ! Trong núi Thiết Vi có những địa ngục như thế, số nhiều vô hạn. Lại có địa ngục kêu là Kêu La, địa ngục tên Bạt Thiệt, địa ngục tên Phân Thiêu, địa ngục tên Thiết Khỏa, địa ngục tên Uế Vật, địa ngục tên Ðồng Khỏa, địa ngục tên Hỏa Oanh, địa ngục tên Ðại Hỏa Oanh, địa ngục tên Thiêu Như Hỏa Sơn, địa ngục tên Thiêu Như Hỏa Hải, địa ngục tên Thiết Hoàn, địa ngục tên Thiết Thụ, địa ngục tên Thiết Tàm, địa ngục tên Thiết Long, địa ngục tên Thiết Hồ, địa ngục tên Thiết Ngưu, địa ngục tên Thiết Ðao.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Ðại Sĩ! Các địa ngục trong núi Thiết Vi như thế, mỗi mỗi địa ngục lại có vô lượng tiểu địa ngục, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, nhẫn đến trăm nghìn, mỗi mỗi đều có danh hiệu riêng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Ðại Sĩ! Các địa ngục đó đều do chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề tạo ác nghiệp mà cảm ra. Tôi nay lược nói tội báo của chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề như thế, nếu nói rộng thời nghìn muôn ức kiếp cũng chẳng hết’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng nói lời đó rồi, chắp tay bạch cùng Phổ Hiền Bồ Tát rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Các địa ngục ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề tội báo ác khổ lược như thế đó. Nếu nói rộng các danh hiệu địa ngục cùng tội báo thống khổ thời trong một kiếp nói cũng chẳng hết’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền Khuyên Bảo - Phổ Hiền Bồ Tát nghe rồi buồn rầu, chắp tay bạch Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thưa Nhơn Giả! Nguyện Nhơn Giả vì tất cả chúng sanh trong đời mạt pháp mà tuyên nói những việc địa ngục tội báo, khiến cho chúng sanh đời ác trược hay kính tin nhân quả’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Nay tôi nương oai thần của đức Phật và oai lực của Ðại Sĩ, lược nói tội báo của địa ngục. Cúi mong Ðại Sĩ lắng nghe nhận lấy’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền Bồ Tát bạch rằng: ‘Từ lâu tôi đã biết ba đường ác khổ, mong Nhơn Giả nói cho, để những chúng sanh tội khổ đời sau nghe rồi cải ác tu thiện, quy y Tam Bảo’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thưa Ðại Sĩ! Tội báo của địa ngục lược như thế này: Hoặc có địa ngục bạt lưỡi tội nhân ra rồi dùng cày sắt cày trên đó; hoặc có địa ngục lấy tim tội nhân cho Dạ Xoa ăn; hoặc có địa ngục nấu sôi chảo dầu lớn, bắt tội nhân vào chiên giòn; hoặc có địa ngục lấy trụ đồng đốt đỏ bắt tội nhân ôm; hoặc có địa ngục các lửa cháy xông đốt tội nhân; hoặc có địa ngục toàn lạnh giá; hoặc có địa ngục toàn phân uế vô tận; hoặc có địa ngục toàn chĩa sắt; hoặc có địa ngục toàn gậy lửa; hoặc có địa ngục chỉ đâm vào ngực; hoặc có địa ngục lửa đốt tay chân; hoặc có địa ngục rắn sắt cắn xé; hoặc có địa ngục chó sắt đuổi; hoặc có địa ngục toàn trâu sắt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những địa ngục như thế đều do chúng sanh tạo mười ác nghiệp mà cảm ra: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham lam, sân hận, tà kiến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Ðại Sĩ! Những chúng sanh tạo ác nghiệp như thế, nên phải chịu quả báo địa ngục. Dù trăm nghìn kiếp, tội khổ liên miên không dứt. Tôi thương những chúng sanh tội khổ đó, nên ở trước chư Phật phát nguyện rộng lớn, độ khắp chúng sanh khiến đều thành Phật đạo’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng nói lời đó rồi, chắp tay mà lui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6488398" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3bd25ede-dcb3-4214-918e-206c5585bf34/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">2b9809c9-a8f7-4f35-997f-a62aea4cd2ca</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3bd25ede-dcb3-4214-918e-206c5585bf34</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:30:46 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/5880d1c7-a583-4f99-8918-d1385ae4c9fd_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>405</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 4_Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 4_Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 4 Kinh Địa Tạng (Phẩm Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù)</p><p>Phẩm 4 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả các quả báo nghiệp duyên của chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề, nơi con người do tham lam, sân hận, si mê mà tạo ác nghiệp như sát sinh, tà dâm, trộm cắp, dẫn đến thọ mệnh ngắn ngủi, nghèo hèn, bệnh tật và đọa địa ngục. Địa Tạng Bồ Tát giải thích cho Thánh Mẫu về nhân quả báo ứng, nhấn mạnh lợi ích của việc tu thiện, bố thí, giữ giới, hiếu thuận để tích phước, tránh ác đạo, và khuyến khích phát tâm từ bi cứu độ chúng sinh khổ nạn.</p><p>Toàn văn Phẩm 4: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù</p><p>Phẩm Thứ Tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù</p><p><br></p><p>Bồ Tát Vâng Chỉ – Lúc đó, Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Nhờ oai thần của đức Phật, con mới đến được đại hội này. Đó cũng là nhơn duyên chẳng hay có. Nay con có chút việc nghi, dám bạch hỏi đức Thế-Tôn. Cúi mong đức Thế-Tôn từ bi nói cho’.</p><p><br></p><p>Đức Phật bảo Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Hôm nay các đức Như-Lai, Bồ Tát, Trời, Rồng, tám bộ chúng v.v... ở mười phương đều đến đại hội đông đủ. Ông có điều chi nghi ngờ thời cứ hỏi, Ta sẽ nói cho’.</p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con xem chúng sanh ở trong cõi Diêm-Phù-Ðề, cử tâm động niệm không chi chẳng phải là tội, không chi chẳng phải là nghiệp. Hoặc có kẻ buông lòng theo tình dục, theo điều ác, thời phải bị sa đọa, chịu nhiều thống khổ. Dầu cho có gặp thiện duyên, phát lòng tỉnh ngộ, cải ác tu thiện, nhưng vì quen theo đường dữ, nên chẳng bao lâu lại theo đường cũ. Con nghĩ những chúng sanh đó như cá bơi trong lưới, gặp lỗ lưới thời tạm được thong thả, nhưng rồi cũng bị vướng mắc. Con vì những chúng sanh đó mà lo nghĩ. Như đức Phật khen ngợi con, và chư Phật mười phương hộ niệm, thời con trong đời sau hay ở trong mỗi kiếp, hóa nghìn muôn ức thân để độ chúng sanh đó khiến đặng giải thoát’.</p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch lời đó rồi, chắp tay cung kính lui ra.</p><p><br></p><p>Ðịnh Tự Tại Vương Thỉnh Vấn – Bấy giờ, Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Ðịa-Tạng Bồ Tát ở trong vô lượng kiếp đến nay, phát nguyện nặng sâu, nên được đức Thế-Tôn ân cần khen ngợi như thế. Cúi mong đức Thế-Tôn ở đời sau nói cho biết những việc nghiệp duyên của chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề, khiến cho chúng sanh đời sau hay biết mà kính tin’.</p><p><br></p><p>Đức Phật bảo Ðịnh Tự Tại Vương rằng: ‘Lắng nghe lắng nghe! Hay suy nghĩ đó! Nay Ta sẽ vì ông mà phân biệt nói rõ. Ðịnh Tự Tại Vương! Chúng sanh ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề tánh tình cang cường, khó dạy khó phục. Bồ Tát này trong trăm nghìn kiếp, độ thoát những chúng sanh như thế, sớm khiến đặng giải thoát. Những kẻ tội khổ đó, nhẫn đến kẻ bị sa đọa, Bồ Tát này dùng sức phương tiện nhổ sạch căn bổn sanh tử của họ, khiến đặng thoát ly. Ðịnh Tự Tại Vương! Chúng sanh bất thiện ở cõi Diêm-Phù-Ðề, chí đến mảy may động niệm cũng đều là nghiệp là tội, huống là buông lòng tạo nghiệp sát, đạo, dâm, vọng, trăm nghìn muôn tội.</p><p>Ðịnh Tự Tại Vương! Những chúng sanh đó tạo những ác nghiệp như thế, nên phải bị sa đọa vào đường ác, trải qua nhiều kiếp chịu khổ vô cùng. Các ông là bậc Bồ Tát, nên thương xót những chúng sanh đó mà tìm phương cứu vớt. Chớ để chúng sanh đó tạo nghiệp mãi, chịu khổ mãi, mà chẳng hay tỉnh ngộ’.</p><p>Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát nghe rồi buồn rầu rơi lệ, chắp tay bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Oai thần của Ðịa-Tạng Bồ Tát không thể nghĩ bàn, từ bi cứu vớt tất cả chúng sanh tội khổ. Cúi mong đức Thế-Tôn vì chúng sanh đời sau mà tuyên nói những việc ở cõi Diêm-Phù-Ðề, khiến cho chúng sanh đời mạt pháp hay biết kính sợ tội phước’.</p><p>Đức Phật bảo Ðịnh Tự Tại Vương: ‘Lắng nghe lắng nghe! Nay Ta sẽ vì ông mà nói rõ đó. Ðịnh Tự Tại Vương! Ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề có ông vua quan quyền thế, kẻ Bà-La-Môn, trưởng giả, cư sĩ, thứ dân, kẻ ngoại đạo v.v... nếu gặp những kẻ hèn hạ, tàn tật, ngọng ngạt, điếc, câm, đui, què, thời ông vua đó và những kẻ kia muốn bố thí, nếu đủ lòng đại từ, mỉm cười, tự tay khắp bố thí tiền của hoặc đồ cần dùng, hoặc sai kẻ khác ban cấp, dùng lời ôn nhu an ủi, thời ông vua đó và những kẻ kia đặng phước lợi bằng phước lợi trăm hằng hà sa cõi Phật, vì cớ sao? Vì ông vua đó và những kẻ kia phát lòng đại từ đối với kẻ rất hèn hạ thời trồng căn lành, nên trong trăm nghìn kiếp thường đặng làm vua, hoặc làm trưởng giả, cư sĩ v.v...’.</p><p><br></p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát Giải Thích – Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con xem chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề, nếu hay làm chút ít việc lành, nhẫn đến trong Phật Pháp có làm được việc lành bằng sợi lông, giọt nước, hột cát, bụi nhỏ, thời tự họ sẽ đặng lợi ích lớn, đặng đạo lớn, chớ để họ thối thất’.</p><p><br></p><p>Đức Phật bảo Ðịa-Tạng: ‘Nên dùng thần lực của ông, thường ủng hộ người đó, chớ để họ quên mất. Ðịa-Tạng! Ở đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ nào đối với Phật Pháp có lòng kính tin cỡ nào? Nếu có kẻ trồng căn lành trong Phật Pháp bằng sợi lông, hột cát, bụi nhỏ, thời ông dùng đạo lực, thần lực mà ủng hộ kẻ đó, khiến cho căn lành nhỏ nhặt kia lần lần tăng trưởng, chớ để tổn giảm. Ðịa-Tạng! Ở đời sau, nếu có Trời, Người nào theo nghiệp lành mà thọ sanh, nếu là kẻ căn lành mỏng manh, thời có trăm nghìn muôn kiếp, hoặc lên Trời, hoặc sanh trong nhơn gian, hưởng sự vui đẹp tuyệt diệu. Nếu căn lành đó mỏng manh, thời hoặc sanh vào ba đường ác, chịu khổ vô cùng. Ðịa-Tạng! Những chúng sanh như thế, ông nên ủng hộ, chớ để sa đọa’.</p><p>Ðịa-Tạng bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Tội nghiệp chúng sanh từ tâm niệm sanh, nếu gặp ác duyên thời tội nghiệp càng sâu nặng. Những kẻ đó vì hay tạo ác nghiệp, nên con khiến quyến thuộc của kẻ đó, khi kẻ đó mạng chung, tuỳ sức làm phước để cứu vớt. Nếu những kẻ quyến thuộc hay trong 49 ngày làm các việc phước lành, thời kẻ chết đó đặng thoát khỏi đường ác, sanh lên cõi Trời, Nhơn hưởng sự vui đẹp thù thắng, còn kẻ quyến thuộc hiện tiền cũng đặng lợi ích vô lượng’.</p><p>Bấy giờ, đức Phật bảo Thánh Mẫu rằng: ‘Ma Da! Nay bà đã được thấy Ðịa-Tạng Bồ Tát oai dung tôn quý, nếu có Trời, Người nào chẳng kính trọng, thời bà nên nói cho họ biết để họ kính trọng’.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 4 Kinh Địa Tạng (Phẩm Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 4 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả các quả báo nghiệp duyên của chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề, nơi con người do tham lam, sân hận, si mê mà tạo ác nghiệp như sát sinh, tà dâm, trộm cắp, dẫn đến thọ mệnh ngắn ngủi, nghèo hèn, bệnh tật và đọa địa ngục. Địa Tạng Bồ Tát giải thích cho Thánh Mẫu về nhân quả báo ứng, nhấn mạnh lợi ích của việc tu thiện, bố thí, giữ giới, hiếu thuận để tích phước, tránh ác đạo, và khuyến khích phát tâm từ bi cứu độ chúng sinh khổ nạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 4: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Tư: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Cõi Diêm Phù&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ Tát Vâng Chỉ – Lúc đó, Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Nhờ oai thần của đức Phật, con mới đến được đại hội này. Đó cũng là nhơn duyên chẳng hay có. Nay con có chút việc nghi, dám bạch hỏi đức Thế-Tôn. Cúi mong đức Thế-Tôn từ bi nói cho’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Hôm nay các đức Như-Lai, Bồ Tát, Trời, Rồng, tám bộ chúng v.v... ở mười phương đều đến đại hội đông đủ. Ông có điều chi nghi ngờ thời cứ hỏi, Ta sẽ nói cho’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con xem chúng sanh ở trong cõi Diêm-Phù-Ðề, cử tâm động niệm không chi chẳng phải là tội, không chi chẳng phải là nghiệp. Hoặc có kẻ buông lòng theo tình dục, theo điều ác, thời phải bị sa đọa, chịu nhiều thống khổ. Dầu cho có gặp thiện duyên, phát lòng tỉnh ngộ, cải ác tu thiện, nhưng vì quen theo đường dữ, nên chẳng bao lâu lại theo đường cũ. Con nghĩ những chúng sanh đó như cá bơi trong lưới, gặp lỗ lưới thời tạm được thong thả, nhưng rồi cũng bị vướng mắc. Con vì những chúng sanh đó mà lo nghĩ. Như đức Phật khen ngợi con, và chư Phật mười phương hộ niệm, thời con trong đời sau hay ở trong mỗi kiếp, hóa nghìn muôn ức thân để độ chúng sanh đó khiến đặng giải thoát’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch lời đó rồi, chắp tay cung kính lui ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịnh Tự Tại Vương Thỉnh Vấn – Bấy giờ, Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Ðịa-Tạng Bồ Tát ở trong vô lượng kiếp đến nay, phát nguyện nặng sâu, nên được đức Thế-Tôn ân cần khen ngợi như thế. Cúi mong đức Thế-Tôn ở đời sau nói cho biết những việc nghiệp duyên của chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề, khiến cho chúng sanh đời sau hay biết mà kính tin’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ðịnh Tự Tại Vương rằng: ‘Lắng nghe lắng nghe! Hay suy nghĩ đó! Nay Ta sẽ vì ông mà phân biệt nói rõ. Ðịnh Tự Tại Vương! Chúng sanh ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề tánh tình cang cường, khó dạy khó phục. Bồ Tát này trong trăm nghìn kiếp, độ thoát những chúng sanh như thế, sớm khiến đặng giải thoát. Những kẻ tội khổ đó, nhẫn đến kẻ bị sa đọa, Bồ Tát này dùng sức phương tiện nhổ sạch căn bổn sanh tử của họ, khiến đặng thoát ly. Ðịnh Tự Tại Vương! Chúng sanh bất thiện ở cõi Diêm-Phù-Ðề, chí đến mảy may động niệm cũng đều là nghiệp là tội, huống là buông lòng tạo nghiệp sát, đạo, dâm, vọng, trăm nghìn muôn tội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịnh Tự Tại Vương! Những chúng sanh đó tạo những ác nghiệp như thế, nên phải bị sa đọa vào đường ác, trải qua nhiều kiếp chịu khổ vô cùng. Các ông là bậc Bồ Tát, nên thương xót những chúng sanh đó mà tìm phương cứu vớt. Chớ để chúng sanh đó tạo nghiệp mãi, chịu khổ mãi, mà chẳng hay tỉnh ngộ’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát nghe rồi buồn rầu rơi lệ, chắp tay bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Oai thần của Ðịa-Tạng Bồ Tát không thể nghĩ bàn, từ bi cứu vớt tất cả chúng sanh tội khổ. Cúi mong đức Thế-Tôn vì chúng sanh đời sau mà tuyên nói những việc ở cõi Diêm-Phù-Ðề, khiến cho chúng sanh đời mạt pháp hay biết kính sợ tội phước’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ðịnh Tự Tại Vương: ‘Lắng nghe lắng nghe! Nay Ta sẽ vì ông mà nói rõ đó. Ðịnh Tự Tại Vương! Ở cõi Nam Diêm-Phù-Ðề có ông vua quan quyền thế, kẻ Bà-La-Môn, trưởng giả, cư sĩ, thứ dân, kẻ ngoại đạo v.v... nếu gặp những kẻ hèn hạ, tàn tật, ngọng ngạt, điếc, câm, đui, què, thời ông vua đó và những kẻ kia muốn bố thí, nếu đủ lòng đại từ, mỉm cười, tự tay khắp bố thí tiền của hoặc đồ cần dùng, hoặc sai kẻ khác ban cấp, dùng lời ôn nhu an ủi, thời ông vua đó và những kẻ kia đặng phước lợi bằng phước lợi trăm hằng hà sa cõi Phật, vì cớ sao? Vì ông vua đó và những kẻ kia phát lòng đại từ đối với kẻ rất hèn hạ thời trồng căn lành, nên trong trăm nghìn kiếp thường đặng làm vua, hoặc làm trưởng giả, cư sĩ v.v...’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát Giải Thích – Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Con xem chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề, nếu hay làm chút ít việc lành, nhẫn đến trong Phật Pháp có làm được việc lành bằng sợi lông, giọt nước, hột cát, bụi nhỏ, thời tự họ sẽ đặng lợi ích lớn, đặng đạo lớn, chớ để họ thối thất’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ðịa-Tạng: ‘Nên dùng thần lực của ông, thường ủng hộ người đó, chớ để họ quên mất. Ðịa-Tạng! Ở đời sau, nếu có thiện nam, thiện nữ nào đối với Phật Pháp có lòng kính tin cỡ nào? Nếu có kẻ trồng căn lành trong Phật Pháp bằng sợi lông, hột cát, bụi nhỏ, thời ông dùng đạo lực, thần lực mà ủng hộ kẻ đó, khiến cho căn lành nhỏ nhặt kia lần lần tăng trưởng, chớ để tổn giảm. Ðịa-Tạng! Ở đời sau, nếu có Trời, Người nào theo nghiệp lành mà thọ sanh, nếu là kẻ căn lành mỏng manh, thời có trăm nghìn muôn kiếp, hoặc lên Trời, hoặc sanh trong nhơn gian, hưởng sự vui đẹp tuyệt diệu. Nếu căn lành đó mỏng manh, thời hoặc sanh vào ba đường ác, chịu khổ vô cùng. Ðịa-Tạng! Những chúng sanh như thế, ông nên ủng hộ, chớ để sa đọa’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng bạch Phật rằng: ‘Bạch Thế-Tôn! Tội nghiệp chúng sanh từ tâm niệm sanh, nếu gặp ác duyên thời tội nghiệp càng sâu nặng. Những kẻ đó vì hay tạo ác nghiệp, nên con khiến quyến thuộc của kẻ đó, khi kẻ đó mạng chung, tuỳ sức làm phước để cứu vớt. Nếu những kẻ quyến thuộc hay trong 49 ngày làm các việc phước lành, thời kẻ chết đó đặng thoát khỏi đường ác, sanh lên cõi Trời, Nhơn hưởng sự vui đẹp thù thắng, còn kẻ quyến thuộc hiện tiền cũng đặng lợi ích vô lượng’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, đức Phật bảo Thánh Mẫu rằng: ‘Ma Da! Nay bà đã được thấy Ðịa-Tạng Bồ Tát oai dung tôn quý, nếu có Trời, Người nào chẳng kính trọng, thời bà nên nói cho họ biết để họ kính trọng’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7285028" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/32f7ca54-a8cc-4b78-817b-3057bb330e09/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">b091cb29-0570-4a10-a816-2b6a2bcc8adf</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/32f7ca54-a8cc-4b78-817b-3057bb330e09</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:26:29 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/923b5340-6fa8-40df-81fd-7760c9eed739_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>455</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 3_Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 3_Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 3 Kinh Địa Tạng (Phẩm Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên)</p><p>Phẩm 3 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả cảnh Đức Phật phóng quang chiếu soi các địa ngục, khiến vô số chúng sinh khổ đau được tạm thời thoát khổ. Thánh Mẫu (mẹ Phật) hỏi về nghiệp duyên của chúng sinh sa đọa, Phật giải thích về ác nghiệp như bất hiếu, sát sinh, tà dâm, vọng ngữ, dẫn đến quả báo địa ngục. Phẩm nhấn mạnh nhân quả báo ứng, khuyến khích tu hành, giữ giới, hiếu thuận cha mẹ, tích phước để tránh ác đạo và cứu độ vong linh, thể hiện lòng từ bi vô hạn của Địa Tạng Bồ Tát trong việc giáo hóa chúng sinh.</p><p>Toàn văn Phẩm 3: Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên</p><p>Phẩm Thứ Ba: Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên</p><p><br></p><p>Thánh Mẫu Thỉnh Vấn – Bấy giờ Thánh Mẫu của đức Phật là bà Ma Da phu nhơn chắp tay cung kính hỏi Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thánh giả! Chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Ðề tạo nghiệp có khác nhau, thọ báo cũng khác nhau chăng?’.</p><p><br></p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát đáp rằng: ‘Nơi cõi Diêm-Phù-Ðề, trong nghìn muôn cõi nước thế giới, hoặc có địa ngục, hoặc không địa ngục; hoặc có nữ nhơn, hoặc không nữ nhơn; hoặc có Phật Pháp, hoặc không Phật Pháp, nhẫn đến hàng Thanh-Văn, Bích-Chi-Phật cũng thế, chẳng phải tội báo đều một’.</p><p>Ma Da phu nhơn bạch cùng Bồ Tát rằng: ‘Tôi muốn nghe những tội báo nghiệp duyên của chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Ðề mà phải sa vào đường ác’.</p><p>Ðịa-Tạng đáp rằng: ‘Thánh Mẫu! Xin lắng nghe nhận lấy, tôi sẽ lược nói đó’.</p><p>Ma Da phu nhơn bạch rằng: ‘Cúi mong Thánh giả nói cho’.</p><p><br></p><p>Ðịa-Tạng Trình Bày – Bấy giờ Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu rằng: ‘Những tội báo trong cõi Nam Diêm-Phù-Ðề lược như thế này: Chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề nếu có kẻ nào bất hiếu với cha mẹ, nhẫn đến giết hại cha mẹ, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong có ngày ra khỏi.</p><p><br></p><p>Nếu có kẻ nào làm đổ máu Phật, khinh chê Tam-Bảo, chẳng kính Kinh điển, cũng phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.</p><p>Nếu có kẻ nào xâm phạm của thường trụ, ô uế Tăng Ni, dâm loạn trong chùa chiền, hoặc giết hại, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.</p><p>Nếu có kẻ nào giả dạng Sa-Môn, lòng chẳng phải Sa-Môn, lạm dụng của thường trụ, hối lộ Tăng chúng, phạm giới làm các điều ác, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.</p><p>Nếu có kẻ nào trộm cắp của cải, lúa gạo, đồ ăn uống, y phục trong chùa chiền, không cho mà lấy, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.</p><p>Thánh Mẫu! Nếu chúng sanh nào phạm những tội như thế thời phải đọa vào Ngũ Vô Gián địa ngục, cầu tạm ngừng khổ một niệm cũng chẳng đặng’.</p><p><br></p><p>Thánh Mẫu Thỉnh Vấn – Ma Da phu nhơn bạch cùng Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thế nào gọi là Vô Gián địa ngục?’.</p><p><br></p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thánh Mẫu! Các địa ngục ở trong đại Thiết Vi sơn, đại địa ngục có mười tám chỗ, thứ đến có năm trăm chỗ, danh hiệu đều khác nhau, thứ đến có nghìn trăm chỗ, danh hiệu cũng khác nhau.</p><p>Còn như Vô Gián địa ngục thời chung quanh ngục thành đó rộng tám muôn dặm, tường thành toàn bằng sắt, cao một muôn dặm, trên đầu lửa cháy hừng. Trong ngục thành có các ngục nhỏ chung quanh số có mười tám.</p><p>Riêng có một ngục tên là Vô Gián rộng tám muôn dặm, tường ngục cao một nghìn dặm, toàn bằng sắt, trên đầu có lửa, dưới chân có lửa, bốn phía có rắn sắt phun lửa đuổi bắt tội nhân.</p><p>Lại thấy có những giường sắt rộng lớn đầy dẫy tội nhân trai gái nằm lên đó. Lại có những lưỡi giáo từ hư không bay xuống đâm vào mình mẩy tội nhân.</p><p>Lại có những chim ưng sắt mổ mắt tội nhân, lại có rắn sắt cắn cổ tội nhân, các chi tiết đều có móng dài cắm vào mình mẩy tội nhân, ruột gan lôi kéo tung banh ra, gió ác thổi tung tội nhân lên hư không rồi rơi xuống giường.</p><p>Những sự khổ sở như thế, trong Vô Gián địa ngục có nghìn muôn việc, lược có năm việc như thế’.</p><p>Ma Da phu nhơn bạch cùng Bồ Tát rằng: ‘Vì cớ sao gọi là Vô Gián?’.</p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thánh Mẫu! Các ngục ở trong Thiết Vi sơn, từ đại địa ngục nhẫn đến tiểu địa ngục đều có danh hiệu.</p><p>Vô Gián địa ngục có năm việc như thế này: Một là ngày đêm chịu tội khổ liên miên không lúc gián đoạn, nên gọi là Vô Gián.</p><p>Hai là một người cũng đầy ngục, nhiều người cũng đầy ngục, nên gọi là Vô Gián.</p><p>Ba là những khí cụ tra tấn tội nhân như chĩa ba, gậy, chim ưng, rắn độc, sói lang, cối giã, cưa xẻ, mài nghiền, đẽo đục, chảo dầu, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống bọc đầu, sắt nóng rót miệng, tay chân quấn sắt, không một việc nào gián đoạn, nên gọi là Vô Gián.</p><p>Bốn là bất luận trai gái, mọi rợ, già trẻ, sang hèn, hoặc Rồng, hoặc Thần, hoặc Trời, hoặc Quỉ, hễ gây tội thời chịu báo, nên gọi là Vô Gián.</p><p>Năm là từ khi vào ngục, trải qua nghìn muôn ức kiếp, ngày đêm chết sống muôn lần, cầu tạm ngừng khổ một niệm cũng chẳng đặng, trừ khi nghiệp hết mới được thọ sanh, vì sự liên miên đó nên gọi là Vô Gián’.</p><p>Ðịa-Tạng Bồ Tát nói lời đó rồi, chắp tay bạch cùng Thánh Mẫu rằng: ‘Lược nói về địa ngục tội báo ở cõi Diêm-Phù-Ðề như thế. Nếu nói rộng các danh hiệu địa ngục cùng những việc tội báo thống khổ thời trong một kiếp nói cũng chẳng hết’.</p><p>Ma Da phu nhơn nghe rồi buồn rầu chắp tay đảnh lễ mà lui ra.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 3 Kinh Địa Tạng (Phẩm Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 3 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả cảnh Đức Phật phóng quang chiếu soi các địa ngục, khiến vô số chúng sinh khổ đau được tạm thời thoát khổ. Thánh Mẫu (mẹ Phật) hỏi về nghiệp duyên của chúng sinh sa đọa, Phật giải thích về ác nghiệp như bất hiếu, sát sinh, tà dâm, vọng ngữ, dẫn đến quả báo địa ngục. Phẩm nhấn mạnh nhân quả báo ứng, khuyến khích tu hành, giữ giới, hiếu thuận cha mẹ, tích phước để tránh ác đạo và cứu độ vong linh, thể hiện lòng từ bi vô hạn của Địa Tạng Bồ Tát trong việc giáo hóa chúng sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 3: Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Ba: Quán Chúng Sinh Nghiệp Duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Mẫu Thỉnh Vấn – Bấy giờ Thánh Mẫu của đức Phật là bà Ma Da phu nhơn chắp tay cung kính hỏi Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thánh giả! Chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Ðề tạo nghiệp có khác nhau, thọ báo cũng khác nhau chăng?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát đáp rằng: ‘Nơi cõi Diêm-Phù-Ðề, trong nghìn muôn cõi nước thế giới, hoặc có địa ngục, hoặc không địa ngục; hoặc có nữ nhơn, hoặc không nữ nhơn; hoặc có Phật Pháp, hoặc không Phật Pháp, nhẫn đến hàng Thanh-Văn, Bích-Chi-Phật cũng thế, chẳng phải tội báo đều một’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma Da phu nhơn bạch cùng Bồ Tát rằng: ‘Tôi muốn nghe những tội báo nghiệp duyên của chúng sanh trong cõi Diêm-Phù-Ðề mà phải sa vào đường ác’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng đáp rằng: ‘Thánh Mẫu! Xin lắng nghe nhận lấy, tôi sẽ lược nói đó’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma Da phu nhơn bạch rằng: ‘Cúi mong Thánh giả nói cho’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Trình Bày – Bấy giờ Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch Thánh Mẫu rằng: ‘Những tội báo trong cõi Nam Diêm-Phù-Ðề lược như thế này: Chúng sanh ở cõi Diêm-Phù-Ðề nếu có kẻ nào bất hiếu với cha mẹ, nhẫn đến giết hại cha mẹ, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong có ngày ra khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có kẻ nào làm đổ máu Phật, khinh chê Tam-Bảo, chẳng kính Kinh điển, cũng phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có kẻ nào xâm phạm của thường trụ, ô uế Tăng Ni, dâm loạn trong chùa chiền, hoặc giết hại, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có kẻ nào giả dạng Sa-Môn, lòng chẳng phải Sa-Môn, lạm dụng của thường trụ, hối lộ Tăng chúng, phạm giới làm các điều ác, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có kẻ nào trộm cắp của cải, lúa gạo, đồ ăn uống, y phục trong chùa chiền, không cho mà lấy, thời phải đọa vào Vô Gián địa ngục, nghìn muôn ức kiếp không mong ra khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Mẫu! Nếu chúng sanh nào phạm những tội như thế thời phải đọa vào Ngũ Vô Gián địa ngục, cầu tạm ngừng khổ một niệm cũng chẳng đặng’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Mẫu Thỉnh Vấn – Ma Da phu nhơn bạch cùng Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Thế nào gọi là Vô Gián địa ngục?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thánh Mẫu! Các địa ngục ở trong đại Thiết Vi sơn, đại địa ngục có mười tám chỗ, thứ đến có năm trăm chỗ, danh hiệu đều khác nhau, thứ đến có nghìn trăm chỗ, danh hiệu cũng khác nhau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn như Vô Gián địa ngục thời chung quanh ngục thành đó rộng tám muôn dặm, tường thành toàn bằng sắt, cao một muôn dặm, trên đầu lửa cháy hừng. Trong ngục thành có các ngục nhỏ chung quanh số có mười tám.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Riêng có một ngục tên là Vô Gián rộng tám muôn dặm, tường ngục cao một nghìn dặm, toàn bằng sắt, trên đầu có lửa, dưới chân có lửa, bốn phía có rắn sắt phun lửa đuổi bắt tội nhân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy có những giường sắt rộng lớn đầy dẫy tội nhân trai gái nằm lên đó. Lại có những lưỡi giáo từ hư không bay xuống đâm vào mình mẩy tội nhân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có những chim ưng sắt mổ mắt tội nhân, lại có rắn sắt cắn cổ tội nhân, các chi tiết đều có móng dài cắm vào mình mẩy tội nhân, ruột gan lôi kéo tung banh ra, gió ác thổi tung tội nhân lên hư không rồi rơi xuống giường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những sự khổ sở như thế, trong Vô Gián địa ngục có nghìn muôn việc, lược có năm việc như thế’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma Da phu nhơn bạch cùng Bồ Tát rằng: ‘Vì cớ sao gọi là Vô Gián?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch rằng: ‘Thánh Mẫu! Các ngục ở trong Thiết Vi sơn, từ đại địa ngục nhẫn đến tiểu địa ngục đều có danh hiệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Gián địa ngục có năm việc như thế này: Một là ngày đêm chịu tội khổ liên miên không lúc gián đoạn, nên gọi là Vô Gián.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai là một người cũng đầy ngục, nhiều người cũng đầy ngục, nên gọi là Vô Gián.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba là những khí cụ tra tấn tội nhân như chĩa ba, gậy, chim ưng, rắn độc, sói lang, cối giã, cưa xẻ, mài nghiền, đẽo đục, chảo dầu, lưới sắt, dây sắt, lừa sắt, ngựa sắt, da sống bọc đầu, sắt nóng rót miệng, tay chân quấn sắt, không một việc nào gián đoạn, nên gọi là Vô Gián.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn là bất luận trai gái, mọi rợ, già trẻ, sang hèn, hoặc Rồng, hoặc Thần, hoặc Trời, hoặc Quỉ, hễ gây tội thời chịu báo, nên gọi là Vô Gián.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm là từ khi vào ngục, trải qua nghìn muôn ức kiếp, ngày đêm chết sống muôn lần, cầu tạm ngừng khổ một niệm cũng chẳng đặng, trừ khi nghiệp hết mới được thọ sanh, vì sự liên miên đó nên gọi là Vô Gián’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng Bồ Tát nói lời đó rồi, chắp tay bạch cùng Thánh Mẫu rằng: ‘Lược nói về địa ngục tội báo ở cõi Diêm-Phù-Ðề như thế. Nếu nói rộng các danh hiệu địa ngục cùng những việc tội báo thống khổ thời trong một kiếp nói cũng chẳng hết’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma Da phu nhơn nghe rồi buồn rầu chắp tay đảnh lễ mà lui ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="6256431" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/08eb8e65-1568-437d-8042-617242de8599/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">a7b9ff3d-8453-4130-944e-147f19d65955</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/08eb8e65-1568-437d-8042-617242de8599</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:14:28 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/ca861574-38c6-4b49-9eb6-9ed785309fdd_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>391</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 2_Phân Thân Tập Hội</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 2_Phân Thân Tập Hội</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 2 Kinh Địa Tạng (Phẩm Phân Thân Tập Hội)</p><p>Phẩm 2 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả sự tụ hội của vô lượng phân thân Địa Tạng Bồ Tát từ khắp các thế giới tại cung trời Đao Lợi, cùng với chúng sinh đã được Ngài độ thoát. Đức Phật khen ngợi oai lực và bổn nguyện từ bi của Địa Tạng, ủy thác cho Ngài tiếp tục cứu độ chúng sinh trong đời ác ngũ trược, nhấn mạnh sức mạnh thần thông và lòng đại bi vô hạn của Bồ tát trong việc hóa độ chúng sinh khỏi ác đạo, khuyến khích phát tâm tu hành để tích phước và giải thoát.</p><p>Toàn văn Phẩm 2: Phân Thân Tập Hội</p><p>Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội</p><p><br></p><p>Hóa Thân Cùng Quyến Thuộc – Lúc đó phân thân Ðịa-Tạng Bồ Tát ở các nơi có địa ngục trăm nghìn muôn ức bất-khả-tư, bất-khả-nghị, bất-khả-lượng, bất-khả-thuyết, vô lượng vô số thế giới đều đến hội họp tại cung trời Ðao-Lợi.</p><p><br></p><p>Do nhờ thần lực của Như-Lai, phân thân đó hiệp với những chúng đã được giải thoát ra khỏi chốn nghiệp đạo ở mười phương, cũng đều đông đến số nghìn muôn ức na-do-tha, đồng cầm hương hoa đến cúng dường Phật.</p><p>Những chúng cùng đến với phân thân đó, thảy đều nhờ Ðịa-Tạng Bồ Tát giáo hóa làm cho trụ nơi đạo vô thượng chánh-đẳng chánh-giác trọn không còn thối chuyển.</p><p>Những chúng đó từ kiếp lâu xa đến nay trôi lăn trong vòng sanh tử ở trong sáu đường, chịu những điều khổ sở không có lúc nào tạm ngừng dứt, nhờ lòng từ bi lớn và thệ nguyện sâu dày của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được đạo quả.</p><p>Ðại chúng đó khi đã đến cung trời Ðao-Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng đức Như-Lai mắt nhìn mãi không rời.</p><p><br></p><p>Ðức Như-Lai An Ủi Ủy Thác – Bấy giờ, Thế-Tôn dơ tay sắc vàng xoa đảnh của hóa thân Ðịa-Tạng đại Bồ Tát trong trăm nghìn muôn ức bất-khả-tư, bất-khả-nghị, bất-khả-lượng, bất-khả-thuyết, vô lượng vô số thế giới, mà dạy rằng: ‘Ta ở trong đời ác ngũ trược giáo hóa những chúng sanh cang cường như thế, làm cho lòng chúng nó điều phục bỏ bỏ tà về chánh; nhưng trong mười phần vẫn còn một hai phần chúng sanh quen theo tánh ác.</p><p><br></p><p>Muốn độ chúng đó, Ta cũng phân nghìn trăm ức thân lập ra nhiều phương chước. Trong chúng sanh đó, hoặc có người căn tánh sáng lẹ nghe pháp của Ta thời liền tín nhận. Hoặc có người phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu, được thiện quả. Hoặc có kẻ vì tội nghiệp quá nặng nên chẳng đem lòng kính tin ngưỡng mộ.</p><p>Ta phân ra nhiều thân độ thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác như thế. Hoặc hiện ra thân trai, hoặc hiện ra thân gái, hoặc hiện ra thân Trời, Rồng, hoặc hiện ra thân Quỉ, Thần, hoặc hiện ra rừng, núi, sông, ngòi, ao, rạch, suối, làm lợi ích cho mọi người, để rồi độ họ được giải thoát.</p><p>Hoặc hiện ra thân Thiên-Ðế, hoặc hiện ra thân trời Phạm-Vương, hoặc hiện ra thân vua Chuyển-Luân, hoặc hiện ra thân Quốc-Vương, hoặc hiện ra thân Cư-Sĩ, hoặc hiện ra thân Tể-Phụ, hoặc hiện ra thân các hàng quan thuộc, hoặc hiện ra thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.</p><p>Nhẫn đến hiện ra những thân Thanh-Văn, La-Hán, Bích-Chi-Phật và Bồ Tát để hóa độ chúng sanh, chớ chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!</p><p>Ðịa-Tạng! Ông xem Ta đã trải qua bao số kiếp nhọc nhằn độ thoát những chúng sanh cang cường đầy tội khổ khó khai hóa như thế. Ngoài ra những kẻ chưa điều phục được, thời phải theo nghiệp thọ báo.</p><p>Nếu khi chúng nó có bị đọa vào đường dữ chịu nhiều sự thống khổ, thời ông nên nghĩ nhớ Ta ở cung Trời Ðao-Lợi ân cần phó chúc đây mà gắng độ chúng sanh, làm cho chúng sanh trong cõi Ta-Bà nầy đến lúc Phật Di-Lặc ra đời, đều đặng giải thoát khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được đức Phật thọ ký’.</p><p>Bấy giờ, những hóa thân Ðịa-Tạng Bồ Tát ở các thế giới hiệp chung lại một hình, rơi lệ thương cảm mà bạch cùng đức Phật rằng: Từ số kiếp lâu xa đến nay, con nhờ đức Thế-Tôn tiếp độ dắt dìu làm cho con được thần lực chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn.</p><p>Con phân hiện thân hình ra ở cùng khắp trăm nghìn muôn ức Hằng-hà-sa thế giới. Trong mỗi thế giới hóa hiện trăm nghìn muôn ức thân. Mỗi thân đó hóa độ trăm nghìn muôn ức người làm cho quy kính ngôi Tam-Bảo, khỏi hẳn vòng sanh tử hưởng vui Niết-Bàn.</p><p>Những chúng sanh nào ở nơi Phật Pháp chỉ làm việc lành bằng một sợi lông, một giọt nước, một hột cát, một bụi nhỏ, hoặc chỉ bằng chừng mảy lông tóc, con đều độ thoát lần lần, làm cho chúng nó được lợi ích lớn.</p><p>Cúi mong đức Như-Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!…’</p><p>Cúi mong đức Như-Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!…’</p><p>Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật ba lần như thế.</p><p>Lúc ấy, đức Phật khen Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Hay thay! Hay thay! Ta hỗ trợ cho ông được toại nguyện! Từ số kiếp lâu xa đến nay thường phát nguyện rộng lớn, cứu độ tất cả chúng sanh xong rồi, thời ông liền chứng quả Bồ-đề’.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 2 Kinh Địa Tạng (Phẩm Phân Thân Tập Hội)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 2 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện mô tả sự tụ hội của vô lượng phân thân Địa Tạng Bồ Tát từ khắp các thế giới tại cung trời Đao Lợi, cùng với chúng sinh đã được Ngài độ thoát. Đức Phật khen ngợi oai lực và bổn nguyện từ bi của Địa Tạng, ủy thác cho Ngài tiếp tục cứu độ chúng sinh trong đời ác ngũ trược, nhấn mạnh sức mạnh thần thông và lòng đại bi vô hạn của Bồ tát trong việc hóa độ chúng sinh khỏi ác đạo, khuyến khích phát tâm tu hành để tích phước và giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 2: Phân Thân Tập Hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thứ Hai: Phân Thân Tập Hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hóa Thân Cùng Quyến Thuộc – Lúc đó phân thân Ðịa-Tạng Bồ Tát ở các nơi có địa ngục trăm nghìn muôn ức bất-khả-tư, bất-khả-nghị, bất-khả-lượng, bất-khả-thuyết, vô lượng vô số thế giới đều đến hội họp tại cung trời Ðao-Lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do nhờ thần lực của Như-Lai, phân thân đó hiệp với những chúng đã được giải thoát ra khỏi chốn nghiệp đạo ở mười phương, cũng đều đông đến số nghìn muôn ức na-do-tha, đồng cầm hương hoa đến cúng dường Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những chúng cùng đến với phân thân đó, thảy đều nhờ Ðịa-Tạng Bồ Tát giáo hóa làm cho trụ nơi đạo vô thượng chánh-đẳng chánh-giác trọn không còn thối chuyển.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những chúng đó từ kiếp lâu xa đến nay trôi lăn trong vòng sanh tử ở trong sáu đường, chịu những điều khổ sở không có lúc nào tạm ngừng dứt, nhờ lòng từ bi lớn và thệ nguyện sâu dày của Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát, nên tất cả đều chứng được đạo quả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðại chúng đó khi đã đến cung trời Ðao-Lợi, lòng họ vui mừng hớn hở, chiêm ngưỡng đức Như-Lai mắt nhìn mãi không rời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðức Như-Lai An Ủi Ủy Thác – Bấy giờ, Thế-Tôn dơ tay sắc vàng xoa đảnh của hóa thân Ðịa-Tạng đại Bồ Tát trong trăm nghìn muôn ức bất-khả-tư, bất-khả-nghị, bất-khả-lượng, bất-khả-thuyết, vô lượng vô số thế giới, mà dạy rằng: ‘Ta ở trong đời ác ngũ trược giáo hóa những chúng sanh cang cường như thế, làm cho lòng chúng nó điều phục bỏ bỏ tà về chánh; nhưng trong mười phần vẫn còn một hai phần chúng sanh quen theo tánh ác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn độ chúng đó, Ta cũng phân nghìn trăm ức thân lập ra nhiều phương chước. Trong chúng sanh đó, hoặc có người căn tánh sáng lẹ nghe pháp của Ta thời liền tín nhận. Hoặc có người phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu, được thiện quả. Hoặc có kẻ vì tội nghiệp quá nặng nên chẳng đem lòng kính tin ngưỡng mộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta phân ra nhiều thân độ thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác như thế. Hoặc hiện ra thân trai, hoặc hiện ra thân gái, hoặc hiện ra thân Trời, Rồng, hoặc hiện ra thân Quỉ, Thần, hoặc hiện ra rừng, núi, sông, ngòi, ao, rạch, suối, làm lợi ích cho mọi người, để rồi độ họ được giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc hiện ra thân Thiên-Ðế, hoặc hiện ra thân trời Phạm-Vương, hoặc hiện ra thân vua Chuyển-Luân, hoặc hiện ra thân Quốc-Vương, hoặc hiện ra thân Cư-Sĩ, hoặc hiện ra thân Tể-Phụ, hoặc hiện ra thân các hàng quan thuộc, hoặc hiện ra thân Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn đến hiện ra những thân Thanh-Văn, La-Hán, Bích-Chi-Phật và Bồ Tát để hóa độ chúng sanh, chớ chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ðịa-Tạng! Ông xem Ta đã trải qua bao số kiếp nhọc nhằn độ thoát những chúng sanh cang cường đầy tội khổ khó khai hóa như thế. Ngoài ra những kẻ chưa điều phục được, thời phải theo nghiệp thọ báo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu khi chúng nó có bị đọa vào đường dữ chịu nhiều sự thống khổ, thời ông nên nghĩ nhớ Ta ở cung Trời Ðao-Lợi ân cần phó chúc đây mà gắng độ chúng sanh, làm cho chúng sanh trong cõi Ta-Bà nầy đến lúc Phật Di-Lặc ra đời, đều đặng giải thoát khỏi hẳn các điều khổ, gặp Phật, được đức Phật thọ ký’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, những hóa thân Ðịa-Tạng Bồ Tát ở các thế giới hiệp chung lại một hình, rơi lệ thương cảm mà bạch cùng đức Phật rằng: Từ số kiếp lâu xa đến nay, con nhờ đức Thế-Tôn tiếp độ dắt dìu làm cho con được thần lực chẳng thể nghĩ bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con phân hiện thân hình ra ở cùng khắp trăm nghìn muôn ức Hằng-hà-sa thế giới. Trong mỗi thế giới hóa hiện trăm nghìn muôn ức thân. Mỗi thân đó hóa độ trăm nghìn muôn ức người làm cho quy kính ngôi Tam-Bảo, khỏi hẳn vòng sanh tử hưởng vui Niết-Bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những chúng sanh nào ở nơi Phật Pháp chỉ làm việc lành bằng một sợi lông, một giọt nước, một hột cát, một bụi nhỏ, hoặc chỉ bằng chừng mảy lông tóc, con đều độ thoát lần lần, làm cho chúng nó được lợi ích lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong đức Như-Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!…’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong đức Như-Lai chớ vì những chúng sanh ác nghiệp trong đời sau mà sanh lòng lo lắng!…’&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát bạch cùng đức Phật ba lần như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy, đức Phật khen Ngài Ðịa-Tạng Bồ Tát rằng: ‘Hay thay! Hay thay! Ta hỗ trợ cho ông được toại nguyện! Từ số kiếp lâu xa đến nay thường phát nguyện rộng lớn, cứu độ tất cả chúng sanh xong rồi, thời ông liền chứng quả Bồ-đề’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5779539" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/f8657c7a-ecfc-4da6-accc-509d67f67e28/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">2565cc05-a3a0-4ee2-bc61-c916f9e38e80</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/f8657c7a-ecfc-4da6-accc-509d67f67e28</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:12:42 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/40325777-2873-47b6-a22c-2ddb8728d078_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>361</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 1_Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi</itunes:title>
                <title>Kinh Địa Tạng_Phẩm 1_Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 1 Kinh Địa Tạng (Phẩm Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi)</p><p>Phẩm 1 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện giới thiệu bối cảnh Đức Phật Thích Ca thuyết kinh tại cung trời Đao Lợi để độ Thánh Mẫu (mẹ Phật), với sự hội tụ của chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ và quỷ thần. Phật hiện thần thông, phóng quang minh và âm thanh vi diệu, rồi kể về bổn nguyện từ bi vô lượng của Địa Tạng Bồ Tát qua các tiền thân (Trưởng Giả Tử, Bà La Môn Nữ, Quang Mục Nữ), nhấn mạnh sứ mệnh cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, khuyến khích phát tâm từ bi, hiếu đạo và tu tập để vượt qua sinh tử luân hồi.</p><p>Toàn văn Phẩm 1: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi</p><p>Ta nghe như thế này: Một thuở nọ, tại cung Trời Đao Lợi, Đức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp.</p><p>Lúc đó, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp, rồi đồng khen ngợi rằng:</p><p>– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác ngũ trược mà hiện sức ‘đại trí huệ thần thông chẳng thể nghĩ bàn’ để điều phục chúng sanh cang cường làm cho chúng nó rõ ‘pháp khổ pháp vui’.</p><p>Khen xong, chư Phật đều sai thị giả kính thăm đức Thế Tôn.</p><p>Bấy giờ, đức Như Lai mỉm cười phóng ra trăm nghìn vừng mây sáng rỡ lớn. Như là: vừng mây sáng rỡ đầy đủ, vừng mây sáng rỡ đại từ bi, vừng mây sáng rỡ đại trí huệ, vừng mây sáng rỡ đại bát nhã, vừng mây sáng rỡ đại tam muội, vừng mây sáng rỡ đại kiết tường, vừng mây sáng rỡ đại phước đức, vừng mây sáng rỡ đại công đức, vừng mây sáng rỡ đại quy y, vừng mây sáng rỡ đại tán thán… Đức Phật phóng ra bất khả thuyết vừng mây sáng rỡ như thế rồi lại phát ra các thứ tiếng vi diệu.</p><p>Như là: tiếng Bố thí độ, tiếng Trì giới độ, tiếng Nhẫn nhục độ, tiếng Tinh tấn độ, tiếng Thiền định độ, tiếng Bát nhã độ, tiếng Từ bi, tiếng Hỷ xả, tiếng Giải thoát, tiếng Vô lậu, tiếng Trí huệ, tiếng Sư tử hống, tiếng Đại Sư tử hống, tiếng Mây sấm, tiếng Mây sấm lớn.</p><p>Khi đức Phật phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết tiếng vi diệu như thế xong, thời có vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở trong cõi Ta bà và cõi nước phương khác cũng đến hội họp nơi cung Trời Đao Lợi.</p><p>Như là: trời Tứ Thiên Vương, trời Đao Lợi, trời Tu Diệm Ma, trời Đâu Suất Đà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Đại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm, trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh, trời Phước Sanh, trời Phước Ái, trời Quảng Quả, trời Vô Lượng, trời Vô Phiền, trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Cánh, trời Ma Hê Thủ La, cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỉ, Thần đều đến hội họp.</p><p>Lại có những vị Thần ở cõi Ta bà cùng cõi nước phương khác, như Thần biển, Thần sông, Thần rạch, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần sông chằm, Thần lúa mạ, Thần chủ ngày, Thần chủ đêm, Thần hư không, Thần trên trời, Thần chủ ăn uống, Thần cây cỏ… Các vị thần như thế đều đến hội họp.</p><p>Lại có những Đại Quỉ Vương ở cõi Ta bà cùng cõi nước phương khác, như: Ác Mục Quỉ Vương, Đạm Huyết Quỉ Vương, Đạm Tinh Khí Quỉ Vương, Đạm Thai Noãn Quỉ Vương, Hành Bịnh Quỉ Vương, Nhiếp Độc Quỉ Vương, Từ Tâm Quỉ Vương, Phước Lợi Quỉ Vương, Đại Ái Kính Quỉ Vương…. Các Quỉ Vương như thế đều đến hội họp.</p><p>Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương tử đại Bồ Tát rằng: ‘Ông xem coi tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỉ, Thần đó ở trong thế giới này cùng thế giới khác, nay đều đến hội họp tại cung Trời Đao Lợi như thế, ông có biết số bao nhiêu chăng?’.</p><p>Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn! nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong nghìn kiếp cũng không biết là số bao nhiêu!’.</p><p>Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘Đến Ta dùng Phật nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Số Thánh, phàm này đều của Ngài Địa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu’.</p><p>Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng: ‘Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành chứng đặng trí vô ngại, nghe lời đức Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn hàng tiểu quả Thanh Văn, Trời, Rồng tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau, dầu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi hủy báng. Cúi mong đức Thế Tôn nói rõ nhơn địa của Ngài Địa Tạng Bồ Tát; Ngài tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?’.</p><p>Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘Ví như bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, núi, bụi bặm trong cõi tam thiên đại thiên, cứ một vật làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, một hột cát làm một cõi nước, rồi trong một cõi nước cứ một hột bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem làm kiếp cả. Từ lúc Ngài Địa Tạng Bồ Tát chứng quả vị thập địa Bồ Tát đến nay nghìn lần lâu hơn số kiếp tỉ dụ ở trên, huống là những thuở Ngài Địa Tạng Bồ Tát còn ở bực Thanh Văn và Bích Chi Phật!</p><p>Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Về đời sau, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi trời Đao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo.</p><p>Này Văn Thù Sư Lợi! Trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Địa Tạng Bồ Tát làm một vị Trưởng Giả tử. Lúc đó, trong đời có đức Phật hiệu là: Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Trưởng Giả tử thấy đức Phật tướng mạo tốt đẹp nghìn phước trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu hạnh nguyện gì mà đặng tốt đẹp như thế?</p><p>Khi ấy, đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng Giả tử rằng: ‘Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp này, cần phải trải qua trong một thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh bị khốn khổ’.</p><p>Này Văn Thù Sư Lợi! Trưởng Giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: ‘Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Đạo’.</p><p>Bởi ở trước đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Ngài lập nguyện rộng đó, nên đến nay đã trải qua trăm nghìn muôn ức vô số bất khả thuyết kiếp, mà Ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát!</p><p>Lại thuở bất khả tư nghị vô số kiếp về trước, lúc đó có đức Phật hiệu là: Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, Đức Phật ấy thọ đến bốn trăm nghìn muôn ức vô số kiếp. Trong thời tượng pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn, người này nhiều đời chứa phước sâu dày, mọi người đều kính nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh Nữ đem nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ người, hầu làm cho bà mẹ người sanh chánh kiến, nhưng mà bà mẹ người chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết thần hồn sa đọa vào Vô Gián địa ngục.</p><p>Lúc đó, Thánh Nữ biết rằng người mẹ khi còn sống không tin nhơn quả, liệu chắc phải theo nghiệp quấy mà sanh vào đường ác. Thánh Nữ bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương hoa cùng những đồ lễ cúng, rồi đem cúng dường tại các chùa tháp thờ đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Trong một ngôi chùa kia thấy hình tượng của đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm.</p><p>Thánh Nữ chiêm bái tượng của đức Phật lại càng sanh lòng kính ngưỡng, tự nghĩ thầm rằng: ‘Đức Phật là đấng Đại Giác đủ tất cả trí huệ, nếu đức Phật còn trụ ở đời, thì khi mẹ tôi khuất, tôi đến bạch hỏi Phật, chắc thế nào cũng rõ mẹ tôi sanh vào chốn nào’.</p><p>Nghĩ đến đó, Thánh Nữ buồn tủi rơi lệ chăm nhìn tượng Như Lai mà lòng quyến luyến mãi.</p><p>Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: ‘Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ của mẹ ngươi’.</p><p>Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không mà vái rằng: ‘Đức thần nào đó mà giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi thương nhớ ngày đêm, không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào?’.</p><p>Trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: ‘Ta là đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm bái đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh, nên ta đến chỉ bảo’.</p><p>Thánh Nữ nghe nói xong liền té xỉu xuống, tay chân mình mẩy đều bị tổn thương. Những người đứng bên vội vàng đỡ dậy, một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại rồi bạch cùng trên hư không rằng: ‘Cúi xin đức Phật xót thương bảo ngay cho rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!’.</p><p>Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: ‘Cúng dường xong, ngươi mau mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời ngươi sẽ biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi’.</p><p>Lễ Phật xong, Thánh Nữ liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trải suốt một ngày một đêm. Bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia. Nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhẩy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia.</p><p>Thấy những trai cùng gái số nhiều đến nghìn muôn, khi đông khi tây, hoặc chìm hoặc nổi. Những thú dữ tranh nhau vồ chụp lấy mà ăn thịt. Lại thấy những loài quỷ Dạ Xoa hình thù kỳ dị, hoặc nhiều tay nhiều mắt, nhiều chân nhiều đầu, răng nanh nhọn hoắt mọc ra ngoài miệng, xua những tội nhân đến gần thú dữ. Hoặc tự những thú dữ bắt lấy tội nhân, quấn đầu quấn cổ, hình trạng muôn vẻ, chẳng dám nhìn lâu. Thánh Nữ nhờ oai thần của Phật nên tự nhiên không sợ hãi.</p><p>Bấy giờ có một Quỷ Vương tên là Vô Độc cúi đầu nghênh tiếp Thánh Nữ mà hỏi rằng: ‘Lành thay Bồ Tát! Có việc chi mà đến chốn này?’.</p><p>Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương rằng: ‘Đây là biển chi?’.</p><p>Vô Độc thưa rằng: ‘Đây là biển lớn thứ nhất ở Tây núi Thiết Vi’.</p><p>Thánh Nữ hỏi: ‘Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, có thật vậy chăng?’.</p><p>Vô Độc thưa rằng: ‘Thật có địa ngục’.</p><p>Thánh Nữ hỏi: ‘Nay ta làm sao đến được chốn địa ngục?’.</p><p>Vô Độc thưa rằng: ‘Nếu chẳng phải oai thần thời phải nhờ nghiệp lực, ngoài hai việc ấy không bao giờ đến được’.</p><p>Thánh Nữ lại hỏi: ‘Nước biển này sao lại sôi sùng sục và có nhiều tội nhân cùng các thú dữ như thế?’.</p><p>Vô Độc thưa rằng: ‘Đó là những chúng sanh tội khổ trong cõi Diêm Phù Đề, sau khi chết trong 49 ngày mà không người kế tự làm phước hầu cứu vớt khổ nạn, sinh thời lại không nhơn lành chi có thể cứu vớt được, rồi cứ theo nghiệp quấy của mình mà bị sa vào địa ngục, tự nhiên phải trước độ qua biển này. Cách biển này mười muôn do tuần về phía Đông lại có một biển, chỗ khổ lại càng thêm gấp bội. Cách biển ấy về phía Đông lại có một biển nữa, chỗ khổ lại càng thêm gấp bội. Đó là do ác nghiệp chiêu cảm mà có ba biển, gọi là biển nghiệp’.</p><p>Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc rằng: ‘Địa ngục ở đâu?’.</p><p>Vô Độc thưa rằng: ‘Trong ba biển ấy là đại địa ngục, số có trăm nghìn, mỗi mỗi đều khác. Những đại địa ngục thời có 18 chỗ. Thứ đến có 500 chỗ, khổ đau vô lượng. Thứ đến có nghìn trăm chỗ, khổ đau cũng vô lượng’.</p><p>Thánh Nữ lại hỏi Đại Quỷ Vương rằng: ‘Mẹ tôi khuất cách nay chưa lâu, chẳng biết hồn thần sanh về chốn nào?’.</p><p>Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Mẹ của Bồ Tát khi còn sống làm những nghiệp chi?’.</p><p>Thánh Nữ thưa rằng: ‘Mẹ con mê tín tà đạo, khinh chê ngôi Tam Bảo, khi tin khi không. Dầu vậy mà khuất cũng chưa lâu, chưa biết sanh về chốn nào’.</p><p>Vô Độc hỏi rằng: ‘Mẹ của Bồ Tát họ chi tên chi?’.</p><p>Thánh Nữ thưa rằng: ‘Mẹ con dòng dõi Bà La Môn, họ là Duyệt Đế Lợi, tên là Duyệt Đế’.</p><p>Vô Độc chắp tay bạch cùng Thánh Nữ rằng: ‘Thánh Nữ hãy về, chớ nên buồn nhớ làm chi. Người đàn bà tội nữ Duyệt Đế đã sanh lên cõi Trời đến nay được ba ngày. Nghe nói nhờ con có hiếu, cúng dường chùa tháp đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương, chẳng những mẹ của Bồ Tát được thoát địa ngục, mà những tội nhân trong ngày ấy ở Vô Gián địa ngục cũng đều được vui mừng, đồng đặng sanh lên cõi Trời’.</p><p>Quỷ Vương nói xong chắp tay mà lui.</p><p>Thánh Nữ như ở trong chiêm bao, liền trở về nhà, nhớ việc đó rồi, bèn đến trước chùa tháp đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương, đứng trước tượng Phật buồn khóc hồi lâu, rồi bạch rằng: ‘Nguyện đức Phật xót thương mở lòng từ bi, dạy bảo cho con rõ việc này’.</p><p>Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: ‘Thánh Nữ! Ngươi thương mẹ thời nên vì mẹ mà chí thành niệm danh hiệu của Ta’.</p><p>Thánh Nữ chắp tay quì gối, bạch rằng: ‘Cúi xin đức Phật xót thương chỉ bảo. Con từ thuở nhỏ đã tu nghiệp thanh tịnh, nay con xin phát nguyện rộng lớn, nếu mẹ con được thoát địa ngục và các chốn ác thú, nhẫn đến những kẻ tội khổ ở dưới, con xin đời đời kiếp kiếp cứu vớt chúng sanh khổ não’.</p><p>Bấy giờ trên hư không có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: ‘Ngươi là Thánh Nữ có lòng đại từ, hay vì mẹ mà phát nguyện rộng lớn như thế. Nay mẹ ngươi đã sanh lên cõi Trời, ngươi nên về nhà, chí thành niệm danh hiệu của Ta, thời ngươi sẽ được như nguyện’.</p><p>Thánh Nữ nghe xong liền trở về nhà, từ đó về sau, phát tâm cứu độ chúng sanh khổ não ở đời đời kiếp kiếp.</p><p>Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘Thuở ấy Thánh Nữ chính là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát vậy. Còn bà mẹ của Thánh Nữ là mẹ của Bồ Tát vậy’.</p><p>Lại thuở quá khứ lâu xa, có đức Phật hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Đức Phật ấy thọ bốn mươi kiếp. Trong thời tượng pháp, có một vị La Hán có phước duyên độ chúng sanh, gặp một người đàn bà tên là Quang Mục, cúng dường La Hán.</p><p>La Hán hỏi rằng: ‘Ngươi có nguyện vọng gì?’.</p><p>Quang Mục thưa rằng: ‘Mẹ con mới mất, con làm phước cúng dường để cứu vớt, chưa biết mẹ con sanh về chốn nào?’.</p><p>La Hán thương xót vào chánh định xem xét, thấy mẹ Quang Mục sa vào địa ngục chịu cực khổ.</p><p>La Hán hỏi Quang Mục: ‘Mẹ ngươi khi còn sống làm những nghiệp chi mà nay phải chịu cực khổ trong địa ngục như thế?’.</p><p>Quang Mục thưa rằng: ‘Mẹ con ưa ăn cá thịt, nhứt là hay ăn trứng cá, trứng rùa, số ăn đến nghìn muôn không kể xiết. Cúi xin Tôn giả thương xót chỉ bảo cho cách nào cứu vớt?’.</p><p>La Hán thương xót Quang Mục, dạy bảo rằng: ‘Ngươi chí thành niệm danh hiệu Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và đắp vẽ hình tượng của Phật, thời người sống kẻ chết đều được phước lợi’.</p><p>Quang Mục nghe xong, liền bán của quí, sắm màu vẽ hình tượng Phật, chí thành chiêm bái. Lại thấy trong hình tượng mắt Phật phóng hào quang sáng lớn chiếu soi địa ngục, thấy mẹ mình đang bị khổ.</p><p>Quang Mục buồn khóc, bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: ‘Mẹ ngươi nhờ phước của ngươi mà được thoát khổ, nay sanh làm người hạ tiện’.</p><p>Quang Mục phát nguyện rằng: ‘Con nguyện từ nay đến đời vị lai, cứu vớt chúng sanh khổ não’.</p><p>Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘La Hán độ Quang Mục thời là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát vậy. Mẹ Quang Mục là Giải Thoát Bồ Tát. Quang Mục nữ là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát vậy. Địa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay phát nguyện từ bi cứu khổ chúng sanh như thế, còn những nguyện ở đời vị lai độ chúng sanh không kể xiết.</p><p>Vậy nên Văn Thù! Ông nên nói cho Trời, Rồng tám bộ chúng nghe oai thần thệ nguyện của Địa Tạng Bồ Tát’.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 1 Kinh Địa Tạng (Phẩm Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 1 của Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện giới thiệu bối cảnh Đức Phật Thích Ca thuyết kinh tại cung trời Đao Lợi để độ Thánh Mẫu (mẹ Phật), với sự hội tụ của chư Phật, Bồ tát, thiên long bát bộ và quỷ thần. Phật hiện thần thông, phóng quang minh và âm thanh vi diệu, rồi kể về bổn nguyện từ bi vô lượng của Địa Tạng Bồ Tát qua các tiền thân (Trưởng Giả Tử, Bà La Môn Nữ, Quang Mục Nữ), nhấn mạnh sứ mệnh cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, khuyến khích phát tâm từ bi, hiếu đạo và tu tập để vượt qua sinh tử luân hồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 1: Thần Thông Trên Cung Trời Đao Lợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nghe như thế này: Một thuở nọ, tại cung Trời Đao Lợi, Đức Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, bất khả thuyết bất khả thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát trong vô lượng thế giới ở mười phương đều đến hội họp, rồi đồng khen ngợi rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;– Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác ngũ trược mà hiện sức ‘đại trí huệ thần thông chẳng thể nghĩ bàn’ để điều phục chúng sanh cang cường làm cho chúng nó rõ ‘pháp khổ pháp vui’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khen xong, chư Phật đều sai thị giả kính thăm đức Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, đức Như Lai mỉm cười phóng ra trăm nghìn vừng mây sáng rỡ lớn. Như là: vừng mây sáng rỡ đầy đủ, vừng mây sáng rỡ đại từ bi, vừng mây sáng rỡ đại trí huệ, vừng mây sáng rỡ đại bát nhã, vừng mây sáng rỡ đại tam muội, vừng mây sáng rỡ đại kiết tường, vừng mây sáng rỡ đại phước đức, vừng mây sáng rỡ đại công đức, vừng mây sáng rỡ đại quy y, vừng mây sáng rỡ đại tán thán… Đức Phật phóng ra bất khả thuyết vừng mây sáng rỡ như thế rồi lại phát ra các thứ tiếng vi diệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như là: tiếng Bố thí độ, tiếng Trì giới độ, tiếng Nhẫn nhục độ, tiếng Tinh tấn độ, tiếng Thiền định độ, tiếng Bát nhã độ, tiếng Từ bi, tiếng Hỷ xả, tiếng Giải thoát, tiếng Vô lậu, tiếng Trí huệ, tiếng Sư tử hống, tiếng Đại Sư tử hống, tiếng Mây sấm, tiếng Mây sấm lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi đức Phật phát ra bất khả thuyết bất khả thuyết tiếng vi diệu như thế xong, thời có vô lượng ức hàng Trời, Rồng, Quỉ, Thần ở trong cõi Ta bà và cõi nước phương khác cũng đến hội họp nơi cung Trời Đao Lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như là: trời Tứ Thiên Vương, trời Đao Lợi, trời Tu Diệm Ma, trời Đâu Suất Đà, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm Chúng, trời Phạm Phụ, trời Đại Phạm, trời Thiểu Quang, trời Vô Lượng Quang, trời Quang Âm, trời Thiểu Tịnh, trời Vô Lượng Tịnh, trời Biến Tịnh, trời Phước Sanh, trời Phước Ái, trời Quảng Quả, trời Vô Lượng, trời Vô Phiền, trời Vô Nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện Hiện, trời Sắc Cứu Cánh, trời Ma Hê Thủ La, cho đến trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ. Tất cả Thiên chúng, Long chúng, cùng các chúng Quỉ, Thần đều đến hội họp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có những vị Thần ở cõi Ta bà cùng cõi nước phương khác, như Thần biển, Thần sông, Thần rạch, Thần cây, Thần núi, Thần đất, Thần sông chằm, Thần lúa mạ, Thần chủ ngày, Thần chủ đêm, Thần hư không, Thần trên trời, Thần chủ ăn uống, Thần cây cỏ… Các vị thần như thế đều đến hội họp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có những Đại Quỉ Vương ở cõi Ta bà cùng cõi nước phương khác, như: Ác Mục Quỉ Vương, Đạm Huyết Quỉ Vương, Đạm Tinh Khí Quỉ Vương, Đạm Thai Noãn Quỉ Vương, Hành Bịnh Quỉ Vương, Nhiếp Độc Quỉ Vương, Từ Tâm Quỉ Vương, Phước Lợi Quỉ Vương, Đại Ái Kính Quỉ Vương…. Các Quỉ Vương như thế đều đến hội họp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương tử đại Bồ Tát rằng: ‘Ông xem coi tất cả chư Phật, Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỉ, Thần đó ở trong thế giới này cùng thế giới khác, nay đều đến hội họp tại cung Trời Đao Lợi như thế, ông có biết số bao nhiêu chăng?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng: ‘Bạch đức Thế Tôn! nếu dùng thần lực của con để tính đếm trong nghìn kiếp cũng không biết là số bao nhiêu!’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘Đến Ta dùng Phật nhãn xem hãy còn không đếm xiết! Số Thánh, phàm này đều của Ngài Địa Tạng Bồ Tát từ thuở kiếp lâu xa đến nay, hoặc đã độ, đương độ, chưa độ, hoặc đã thành tựu, đương thành tựu, chưa thành tựu’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch đức Phật rằng: ‘Từ thuở lâu xa về trước con đã tu căn lành chứng đặng trí vô ngại, nghe lời đức Phật nói đó thời tin nhận liền. Còn hàng tiểu quả Thanh Văn, Trời, Rồng tám bộ chúng và những chúng sanh trong đời sau, dầu nghe lời thành thật của Như Lai, nhưng chắc là sanh lòng nghi ngờ, dầu cho có lạy vâng đi nữa cũng chưa khỏi hủy báng. Cúi mong đức Thế Tôn nói rõ nhơn địa của Ngài Địa Tạng Bồ Tát; Ngài tu hạnh gì, lập nguyện gì mà thành tựu được sự không thể nghĩ bàn như thế?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘Ví như bao nhiêu cỏ, cây, lùm, rừng, lúa, mè, tre, lau, đá, núi, bụi bặm trong cõi tam thiên đại thiên, cứ một vật làm một sông Hằng, rồi cứ số cát trong mỗi sông Hằng, một hột cát làm một cõi nước, rồi trong một cõi nước cứ một hột bụi nhỏ làm một kiếp, rồi bao nhiêu số bụi nhỏ chứa trong một kiếp đều đem làm kiếp cả. Từ lúc Ngài Địa Tạng Bồ Tát chứng quả vị thập địa Bồ Tát đến nay nghìn lần lâu hơn số kiếp tỉ dụ ở trên, huống là những thuở Ngài Địa Tạng Bồ Tát còn ở bực Thanh Văn và Bích Chi Phật!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Văn Thù Sư Lợi! Oai thần thệ nguyện của Bồ Tát đó không thể nghĩ bàn đến được. Về đời sau, nếu có trang thiện nam, người thiện nữ nào nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát, hoặc khen ngợi, hoặc chiêm ngưỡng vái lạy, hoặc xưng danh hiệu, hoặc cúng dường, nhẫn đến vẽ, khắc, đắp, sơn hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thời người đó sẽ được một trăm lần sanh lên cõi trời Đao Lợi, vĩnh viễn chẳng còn bị sa đọa vào chốn ác đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Văn Thù Sư Lợi! Trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp lâu xa về trước, tiền thân của Ngài Địa Tạng Bồ Tát làm một vị Trưởng Giả tử. Lúc đó, trong đời có đức Phật hiệu là: Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Trưởng Giả tử thấy đức Phật tướng mạo tốt đẹp nghìn phước trang nghiêm, mới bạch hỏi đức Phật tu hạnh nguyện gì mà đặng tốt đẹp như thế?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy, đức Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai bảo Trưởng Giả tử rằng: ‘Muốn chứng được thân tướng tốt đẹp này, cần phải trải qua trong một thời gian lâu xa độ thoát tất cả chúng sanh bị khốn khổ’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Này Văn Thù Sư Lợi! Trưởng Giả tử nghe xong liền phát nguyện rằng: ‘Từ nay đến tột số chẳng thể kể xiết ở đời sau, tôi vì những chúng sanh tội khổ trong sáu đường mà giảng bày nhiều phương tiện làm cho chúng nó được giải thoát hết cả, rồi tự thân tôi mới chứng thành Phật Đạo’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bởi ở trước đức Phật Sư Tử Phấn Tấn Cụ Túc Vạn Hạnh Như Lai, Ngài lập nguyện rộng đó, nên đến nay đã trải qua trăm nghìn muôn ức vô số bất khả thuyết kiếp, mà Ngài vẫn còn làm vị Bồ Tát!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thuở bất khả tư nghị vô số kiếp về trước, lúc đó có đức Phật hiệu là: Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, Đức Phật ấy thọ đến bốn trăm nghìn muôn ức vô số kiếp. Trong thời tượng pháp, có một người con gái dòng Bà La Môn, người này nhiều đời chứa phước sâu dày, mọi người đều kính nể, khi đi đứng lúc nằm ngồi, chư Thiên thường theo hộ vệ. Bà mẹ của người mê tín tà đạo, thường khinh khi ngôi Tam Bảo. Thuở ấy, mặc dầu Thánh Nữ đem nhiều lời phương tiện khuyên nhủ bà mẹ người, hầu làm cho bà mẹ người sanh chánh kiến, nhưng mà bà mẹ người chưa tin hẳn. Chẳng bao lâu bà ấy chết thần hồn sa đọa vào Vô Gián địa ngục.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Thánh Nữ biết rằng người mẹ khi còn sống không tin nhơn quả, liệu chắc phải theo nghiệp quấy mà sanh vào đường ác. Thánh Nữ bèn bán nhà, đất, sắm nhiều hương hoa cùng những đồ lễ cúng, rồi đem cúng dường tại các chùa tháp thờ đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương. Trong một ngôi chùa kia thấy hình tượng của đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương đắp vẽ oai dung đủ cách tôn nghiêm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ chiêm bái tượng của đức Phật lại càng sanh lòng kính ngưỡng, tự nghĩ thầm rằng: ‘Đức Phật là đấng Đại Giác đủ tất cả trí huệ, nếu đức Phật còn trụ ở đời, thì khi mẹ tôi khuất, tôi đến bạch hỏi Phật, chắc thế nào cũng rõ mẹ tôi sanh vào chốn nào’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghĩ đến đó, Thánh Nữ buồn tủi rơi lệ chăm nhìn tượng Như Lai mà lòng quyến luyến mãi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: ‘Thánh Nữ đương khóc kia, thôi đừng có bi ai quá lắm! Nay ta sẽ bảo cho ngươi biết chỗ của mẹ ngươi’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ chắp tay hướng lên hư không mà vái rằng: ‘Đức thần nào đó mà giải bớt lòng sầu lo của tôi như thế? Từ khi mẹ tôi mất đến nay, tôi thương nhớ ngày đêm, không biết đâu để hỏi cho rõ mẹ tôi thác sanh vào chốn nào?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trên hư không lại có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: ‘Ta là đức Phật quá khứ Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai mà ngươi đương chiêm bái đó. Thấy ngươi thương nhớ mẹ trội hơn thường tình của chúng sanh, nên ta đến chỉ bảo’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ nghe nói xong liền té xỉu xuống, tay chân mình mẩy đều bị tổn thương. Những người đứng bên vội vàng đỡ dậy, một lát sau Thánh Nữ mới tỉnh lại rồi bạch cùng trên hư không rằng: ‘Cúi xin đức Phật xót thương bảo ngay cho rõ chỗ thác sanh của mẹ con, nay thân tâm của con sắp chết mất!’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai bảo Thánh Nữ rằng: ‘Cúng dường xong, ngươi mau mau trở về nhà, rồi ngồi ngay thẳng nghĩ tưởng danh hiệu của Ta, thời ngươi sẽ biết chỗ thác sanh của mẹ ngươi’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lễ Phật xong, Thánh Nữ liền trở về nhà. Vì thương nhớ mẹ, nên Thánh Nữ ngồi ngay thẳng niệm danh hiệu của Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai trải suốt một ngày một đêm. Bỗng thấy thân mình đến một bờ biển kia. Nước trong biển đó sôi sùng sục, có rất nhiều thú dữ thân thể toàn bằng sắt bay nhẩy trên mặt biển, chạy rảo bên này, xua đuổi bên kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy những trai cùng gái số nhiều đến nghìn muôn, khi đông khi tây, hoặc chìm hoặc nổi. Những thú dữ tranh nhau vồ chụp lấy mà ăn thịt. Lại thấy những loài quỷ Dạ Xoa hình thù kỳ dị, hoặc nhiều tay nhiều mắt, nhiều chân nhiều đầu, răng nanh nhọn hoắt mọc ra ngoài miệng, xua những tội nhân đến gần thú dữ. Hoặc tự những thú dữ bắt lấy tội nhân, quấn đầu quấn cổ, hình trạng muôn vẻ, chẳng dám nhìn lâu. Thánh Nữ nhờ oai thần của Phật nên tự nhiên không sợ hãi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ có một Quỷ Vương tên là Vô Độc cúi đầu nghênh tiếp Thánh Nữ mà hỏi rằng: ‘Lành thay Bồ Tát! Có việc chi mà đến chốn này?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ hỏi Quỷ Vương rằng: ‘Đây là biển chi?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Độc thưa rằng: ‘Đây là biển lớn thứ nhất ở Tây núi Thiết Vi’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ hỏi: ‘Tôi nghe trong núi Thiết Vi có địa ngục, có thật vậy chăng?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Độc thưa rằng: ‘Thật có địa ngục’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ hỏi: ‘Nay ta làm sao đến được chốn địa ngục?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Độc thưa rằng: ‘Nếu chẳng phải oai thần thời phải nhờ nghiệp lực, ngoài hai việc ấy không bao giờ đến được’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ lại hỏi: ‘Nước biển này sao lại sôi sùng sục và có nhiều tội nhân cùng các thú dữ như thế?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Độc thưa rằng: ‘Đó là những chúng sanh tội khổ trong cõi Diêm Phù Đề, sau khi chết trong 49 ngày mà không người kế tự làm phước hầu cứu vớt khổ nạn, sinh thời lại không nhơn lành chi có thể cứu vớt được, rồi cứ theo nghiệp quấy của mình mà bị sa vào địa ngục, tự nhiên phải trước độ qua biển này. Cách biển này mười muôn do tuần về phía Đông lại có một biển, chỗ khổ lại càng thêm gấp bội. Cách biển ấy về phía Đông lại có một biển nữa, chỗ khổ lại càng thêm gấp bội. Đó là do ác nghiệp chiêu cảm mà có ba biển, gọi là biển nghiệp’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ lại hỏi Quỷ Vương Vô Độc rằng: ‘Địa ngục ở đâu?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Độc thưa rằng: ‘Trong ba biển ấy là đại địa ngục, số có trăm nghìn, mỗi mỗi đều khác. Những đại địa ngục thời có 18 chỗ. Thứ đến có 500 chỗ, khổ đau vô lượng. Thứ đến có nghìn trăm chỗ, khổ đau cũng vô lượng’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ lại hỏi Đại Quỷ Vương rằng: ‘Mẹ tôi khuất cách nay chưa lâu, chẳng biết hồn thần sanh về chốn nào?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỷ Vương hỏi Thánh Nữ rằng: ‘Mẹ của Bồ Tát khi còn sống làm những nghiệp chi?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ thưa rằng: ‘Mẹ con mê tín tà đạo, khinh chê ngôi Tam Bảo, khi tin khi không. Dầu vậy mà khuất cũng chưa lâu, chưa biết sanh về chốn nào’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Độc hỏi rằng: ‘Mẹ của Bồ Tát họ chi tên chi?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ thưa rằng: ‘Mẹ con dòng dõi Bà La Môn, họ là Duyệt Đế Lợi, tên là Duyệt Đế’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Độc chắp tay bạch cùng Thánh Nữ rằng: ‘Thánh Nữ hãy về, chớ nên buồn nhớ làm chi. Người đàn bà tội nữ Duyệt Đế đã sanh lên cõi Trời đến nay được ba ngày. Nghe nói nhờ con có hiếu, cúng dường chùa tháp đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương, chẳng những mẹ của Bồ Tát được thoát địa ngục, mà những tội nhân trong ngày ấy ở Vô Gián địa ngục cũng đều được vui mừng, đồng đặng sanh lên cõi Trời’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỷ Vương nói xong chắp tay mà lui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ như ở trong chiêm bao, liền trở về nhà, nhớ việc đó rồi, bèn đến trước chùa tháp đức Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương, đứng trước tượng Phật buồn khóc hồi lâu, rồi bạch rằng: ‘Nguyện đức Phật xót thương mở lòng từ bi, dạy bảo cho con rõ việc này’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: ‘Thánh Nữ! Ngươi thương mẹ thời nên vì mẹ mà chí thành niệm danh hiệu của Ta’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ chắp tay quì gối, bạch rằng: ‘Cúi xin đức Phật xót thương chỉ bảo. Con từ thuở nhỏ đã tu nghiệp thanh tịnh, nay con xin phát nguyện rộng lớn, nếu mẹ con được thoát địa ngục và các chốn ác thú, nhẫn đến những kẻ tội khổ ở dưới, con xin đời đời kiếp kiếp cứu vớt chúng sanh khổ não’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ trên hư không có tiếng bảo Thánh Nữ rằng: ‘Ngươi là Thánh Nữ có lòng đại từ, hay vì mẹ mà phát nguyện rộng lớn như thế. Nay mẹ ngươi đã sanh lên cõi Trời, ngươi nên về nhà, chí thành niệm danh hiệu của Ta, thời ngươi sẽ được như nguyện’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Nữ nghe xong liền trở về nhà, từ đó về sau, phát tâm cứu độ chúng sanh khổ não ở đời đời kiếp kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘Thuở ấy Thánh Nữ chính là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát vậy. Còn bà mẹ của Thánh Nữ là mẹ của Bồ Tát vậy’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thuở quá khứ lâu xa, có đức Phật hiệu là Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai. Đức Phật ấy thọ bốn mươi kiếp. Trong thời tượng pháp, có một vị La Hán có phước duyên độ chúng sanh, gặp một người đàn bà tên là Quang Mục, cúng dường La Hán.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;La Hán hỏi rằng: ‘Ngươi có nguyện vọng gì?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quang Mục thưa rằng: ‘Mẹ con mới mất, con làm phước cúng dường để cứu vớt, chưa biết mẹ con sanh về chốn nào?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;La Hán thương xót vào chánh định xem xét, thấy mẹ Quang Mục sa vào địa ngục chịu cực khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;La Hán hỏi Quang Mục: ‘Mẹ ngươi khi còn sống làm những nghiệp chi mà nay phải chịu cực khổ trong địa ngục như thế?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quang Mục thưa rằng: ‘Mẹ con ưa ăn cá thịt, nhứt là hay ăn trứng cá, trứng rùa, số ăn đến nghìn muôn không kể xiết. Cúi xin Tôn giả thương xót chỉ bảo cho cách nào cứu vớt?’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;La Hán thương xót Quang Mục, dạy bảo rằng: ‘Ngươi chí thành niệm danh hiệu Thanh Tịnh Liên Hoa Mục Như Lai và đắp vẽ hình tượng của Phật, thời người sống kẻ chết đều được phước lợi’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quang Mục nghe xong, liền bán của quí, sắm màu vẽ hình tượng Phật, chí thành chiêm bái. Lại thấy trong hình tượng mắt Phật phóng hào quang sáng lớn chiếu soi địa ngục, thấy mẹ mình đang bị khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quang Mục buồn khóc, bỗng nghe trên hư không có tiếng bảo rằng: ‘Mẹ ngươi nhờ phước của ngươi mà được thoát khổ, nay sanh làm người hạ tiện’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quang Mục phát nguyện rằng: ‘Con nguyện từ nay đến đời vị lai, cứu vớt chúng sanh khổ não’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng: ‘La Hán độ Quang Mục thời là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát vậy. Mẹ Quang Mục là Giải Thoát Bồ Tát. Quang Mục nữ là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát vậy. Địa Tạng Bồ Tát từ kiếp lâu xa đến nay phát nguyện từ bi cứu khổ chúng sanh như thế, còn những nguyện ở đời vị lai độ chúng sanh không kể xiết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy nên Văn Thù! Ông nên nói cho Trời, Rồng tám bộ chúng nghe oai thần thệ nguyện của Địa Tạng Bồ Tát’.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Địa Tạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Địa Tạng mang lại vô lượng công đức, giúp tích tụ phước lành, siêu độ vong linh tổ tiên, cứu khổ chúng sinh trong địa ngục và ác đạo, tăng cường lòng hiếu thảo, xa lìa ác nghiệp, được Địa Tạng Bồ Tát và chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm từ bi, và cuối cùng đạt quả vị giải thoát, thành tựu Bồ đề, mang an lạc cho bản thân và tha nhân trong đời ác trược.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="17412597" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/e09ff11c-c19f-40ff-8e93-8f82a767e8e5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">c1cd0b4d-a050-4edb-bd9b-265006d1906f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/e09ff11c-c19f-40ff-8e93-8f82a767e8e5</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 07:10:11 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/7/cfd4a616-565d-41f1-b86b-26e21376c77a_kinh___a_t_ng.jpg"/>
                <itunes:duration>1088</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 28_Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 28_Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 28 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát)</p><p>Phẩm 28, phẩm cuối cùng của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kể về Bồ tát Phổ Hiền từ phương Đông đến hội, khuyến khích đại chúng trì giữ, đọc tụng và hoằng dương Kinh Pháp Hoa sau khi Phật diệt độ. Ngài hứa sẽ bảo hộ những người trì kinh khỏi ác ma, chướng ngại, giúp họ thanh tịnh lục căn, tích tụ công đức vô lượng, và được chư Phật thọ ký thành Phật. Phẩm này nhấn mạnh sức mạnh của niềm tin, nhẫn nhục và phương tiện trong việc duy trì Chánh Pháp, khích lệ chúng sinh phát tâm Bồ-đề để lợi ích bản thân và tha nhân.</p><p>Toàn văn Phẩm 28: Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát</p><p>Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát dùng sức thần thông tự tại, oai đức danh tiếng vang khắp, từ phương Đông cùng vô lượng vô biên các vị Đại Bồ Tát đồng đến hội trường. Các nước đi qua thảy đều chấn động, mưa hoa báu trời, trỗi vô lượng trăm nghìn muôn ức các món kỹ nhạc.</p><p>Lại cùng vô lượng chư Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân, Phi Nhân v.v... vây quanh. Mỗi vị đều hiện sức oai thần tự tại, đến núi Kỳ Xà Quật, Linh Thứu Sơn, đến rồi đầu mặt lễ chân Phật, đi nhiễu bên hữu bảy vòng, bạch Phật rằng:</p><p>&#34;Thế Tôn! Con ở nơi nước của đức Bảo Oai Đức Thượng Vương Phật, xa nghe cõi Ta Bà này nói kinh Pháp Hoa, cùng vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức các vị Bồ Tát đến để nghe thọ, cúi mong Thế Tôn vì đó mà nói. Sau khi Như Lai diệt độ, thiện nam tử, thiện nữ nhân làm thế nào hay đặng kinh Pháp Hoa này?&#34;</p><p>Phật bảo Phổ Hiền Bồ Tát: &#34;Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thành tựu bốn pháp thời sau khi Như Lai diệt độ sẽ đặng kinh Pháp Hoa này.</p><p>Một là được chư Phật hộ niệm.</p><p>Hai là trồng các cội công đức.</p><p>Ba là vào trong chánh định.</p><p>Bốn là phát tâm cứu vớt tất cả chúng sanh.</p><p>Thiện nam tử, thiện nữ nhân như thế, sau khi Như Lai diệt độ sẽ đặng kinh Pháp Hoa này&#34;.</p><p>Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát bạch Phật rằng: &#34;Thế Tôn! Ở đời vị lai sau, trong năm trăm năm sau, trong đời ác trược, nếu có người thọ trì kinh điển này, con sẽ giữ gìn trừ các sự khổ não, khiến cho an ổn, chẳng bị xâm dịp, cũng làm cho chẳng bị tất cả các việc: chẳng phải thời mà gặp, hoặc bị vua nạn, hoặc bị tặc nạn, hoặc bị thủy nạn, hoặc bị hỏa nạn, hoặc bị gió nạn, hoặc bị hạn nạn, hoặc bị đói nạn, hoặc bị khát nạn, hoặc bị trùng độc nạn, hoặc bị sư tử nạn, hoặc bị trùng độc nạn, hoặc bị bò cạp nạn, hoặc bị rắn độc nạn, hoặc bị gió lạnh nạn, hoặc bị gió nóng nạn, hoặc bị nạn rơi vào hầm hố, hoặc bị nạn rớt xuống sông, hoặc bị nạn rớt xuống biển, hoặc bị nạn rớt xuống vực sâu, hoặc bị nạn thú dữ, hoặc bị nạn ác quỷ, hoặc bị nạn ác tà, hoặc bị nạn ác thần, hoặc bị nạn ác linh, hoặc bị nạn ác thú, hoặc bị nạn ác trùng, hoặc bị nạn ác cầm, hoặc bị nạn ác người, hoặc bị nạn ác ma, hoặc bị nạn ác quỷ nhập, hoặc bị nạn ác linh nhập, hoặc bị nạn ác thần nhập, hoặc bị nạn ác thú nhập, hoặc bị nạn ác trùng nhập, hoặc bị nạn ác cầm nhập, hoặc bị nạn ác người nhập.</p><p>Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào thọ trì đọc tụng kinh điển này, nếu đi một mình con sẽ cưỡi tượng trắng sáu ngà cùng chúng Đại Bồ Tát đến chỗ người đó để hộ vệ, an ủy lòng họ, cũng vì hộ kinh vậy. Nếu ngồi nghĩ kinh điển, con cũng cưỡi tượng trắng sáu ngà hiện đến trước người đó. Nếu người đó quên một câu một kệ trong kinh điển, con sẽ dạy đọc tụng lại như cũ.</p><p>Khi đó người thọ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa thấy thân con thời được sáng suốt vui mừng, thêm sức tinh tấn, do thấy thân con thời đặng tam muội và đà la ni, nhẫn đến trăm nghìn muôn ức chuyển bất thối pháp, vô lượng đà la ni, ở trong đời vị lai nói pháp cho bốn chúng trong bao nhiêu lâu dài.</p><p>Thế Tôn! Con ở đời sau, đời ác sau, sẽ hộ trì đọc tụng kinh điển này, ở trong đời ác trược, con sẽ hiện thân đại trượng phu, ở nơi non cùng hoang vắng, nếu có người đọc, con sẽ vì nói pháp, trừ các nghi hoặc.</p><p>Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân sau khi Như Lai diệt độ thọ trì đọc tụng kinh điển này, con sẽ khiến cho chẳng có ma sự, cũng làm cho đặng nghe thọ tất cả các pháp, sâu vào thiền định, ở trong hư không mưa các hoa mạn thù sa, hoa mạn thù sa lớn, dùng để cúng dường các vị nói kinh Pháp Hoa và các vị Bồ Tát, Thanh Văn trong mười phương thế giới.</p><p>Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó do nhơn duyên đời trước, nên đặng gặp con, đặng thấy con thân, đặng nghe con nói, đặng tin con lời, đặng vào con hội.</p><p>Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát nói kệ rằng:</p><p>Sau khi Phật diệt độ</p><p>Con sẽ hộ trì kinh</p><p>Khiến khắp mười phương</p><p>Không ai xâm phạm được.</p><p>Nếu có người nói kinh</p><p>Con cưỡi tượng sáu ngà</p><p>Hiện đến trước người đó</p><p>Vì hộ trì kinh vậy.</p><p>Nếu có người đọc kinh</p><p>Quên một câu một kệ</p><p>Con dạy đọc tụng lại</p><p>Làm cho nhớ như cũ.</p><p>Nếu người có phước đức</p><p>Đặng thấy thân con đây</p><p>Sẽ được sáng vui mừng</p><p>Thêm sức tinh tấn lớn.</p><p>Do thấy con thân này</p><p>Đặng tam muội đà la ni</p><p>Nhẫn đến bất thối chuyển</p><p>Vô lượng đà la ni.</p><p>Ở trong đời vị lai</p><p>Nói pháp lâu dài vậy</p><p>Hộ trì người nói kinh</p><p>Ở non hoang vắng vẻ.</p><p>Khiến trừ các nghi hoặc</p><p>Nói pháp không ngại ngại</p><p>Ở hư không mưa hoa</p><p>Cúng dường người nói kinh.</p><p>Các chúng Đại Bồ Tát</p><p>Thanh Văn mười phương giới</p><p>Con đều hộ trì cho</p><p>Khiến không ma sự gì.</p><p>Nếu ngồi nghĩ kinh điển</p><p>Con hiện đến an ủy</p><p>Nếu có quên câu kệ</p><p>Con dạy nhớ tụng đọc.</p><p>Lúc đó, Phật khen Phổ Hiền Bồ Tát rằng: &#34;Lành thay! Lành thay! Phổ Hiền! Ông hay hộ trì kinh này, làm cho nhiều lợi ích an lạc cho trời và người, ông đã thành tựu bất khả tư nghì công đức, từ lâu phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, hạnh nguyện đại bi, ông nay phát nguyện hộ trì kinh Pháp Hoa này ở đời vị lai, ông sẽ dùng sức thần thông hộ trì người hay thọ trì danh tự Quán Thế Âm Bồ Tát, Phổ Hiền! Nếu có chúng sanh thọ trì đọc tụng chơn chánh tư duy kinh Pháp Hoa, nên biết người đó hành hạnh Phổ Hiền, gần đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, ở dưới cây Bồ Đề, trong đại lâm tùng, vì các chúng sanh nói kinh Pháp Hoa, hoặc ở chỗ vắng, hoặc ở trong mồ mả, hoặc ở dưới cây, hoặc ở trong chùa chiền, hoặc ở nhà cư sĩ, hoặc ở trong thành ấp, hoặc ở xóm làng, hoặc ở rừng rú, hoặc ở nơi hoang vắng, hoặc ở trên non, hoặc ở trong hang, hoặc ở đồng nội, hoặc ở bờ sông, hoặc ở dưới biển, hoặc ở trong nước, hoặc ở trên trời, hoặc ở trong hư không, hoặc ở trong địa ngục, hoặc ở trong ngạ quỷ, hoặc ở trong súc sanh, hoặc ở trong A Tu La, hoặc ở trong Long cung, hoặc ở trong Nhân gian, hoặc ở trong Thiên thượng, hoặc ở trong Phạm Thiên, hoặc ở trong Ma giới, hoặc ở trong Tự Tại Thiên, hoặc ở trong Hóa Tự Tại Thiên, hoặc ở trong Tha Hóa Tự Tại Thiên, hoặc ở trong Đại Tự Tại Thiên, các chỗ như thế, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời ông nên đến đó mà nghe.</p><p>Phổ Hiền! Ông ở đời vị lai sau khi ta diệt độ, trong năm trăm năm sau, nếu thấy thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa, ông nên nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng phá các ma quân, chuyển pháp luân vô thượng, đánh trống pháp lớn, thổi loa pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, ngồi pháp tòa sư tử trong đại chúng trời người.</p><p>Phổ Hiền! Ở đời vị lai nếu có người thọ trì đọc tụng kinh điển này, người đó chẳng còn tham đắm y phục ăn nằm, đồ dùng, cũng chẳng mong cầu chi khác, lời thề nguyện phát ra chẳng luống, ở trong đời hiện tại đặng phước báo, nếu có người khinh chê, nói người đó điên cuồng, thời người đó ở đời sau sẽ đặng vô sanh pháp nhẫn, đặng nghìn Phật xoa đầu, người đó sẽ đặng quyến thuộc Kim Cang thần, Đao thần, Chử thần, Bổng thần, Quỷ thần, Dược Xoa thần, La Sát thần, Cưu Bàn Trà thần, Bí Sử thần, Cát Tường thần, Đại Biện thần, Đại Tướng thần, Tiểu Tướng thần, Nhật thần, Nguyệt thần, Phong thần, Vũ thần, Thủy thần, Hỏa thần, Địa thần, Sơn thần, Hải thần, Xuyên thần, Thụ thần, Thảo thần, Thổ thần, Điền thần, Dạ thần, Trú thần, Phương thần, Hướng thần, Tinh thần, Tú thần, Hành thần, Độ thần, Thời thần, Niên thần, Nguyệt thần, Kế thần, Đô thần, Thần vương, Thần hậu, Thần tử, Thần tôn, Thần tông, Thần tộc, Thần dân, Thần chúng, tất cả các thần như thế thảy đều ủng hộ người đó.</p><p>Phổ Hiền! Nếu có người thọ trì đọc tụng kinh điển này, sẽ đặng thấy ta, thấy Đa Bảo Như Lai, thấy các hóa Phật của ta, sẽ đặng thanh tịnh lục căn, do thanh tịnh lục căn đó mà được vui mừng, người đó sẽ hay dùng sức thần thông du hành vô lượng cõi nước, thường tu phạm hạnh, lên núi Tu Di, lên trời Đao Lợi, lên trời Diệm Ma, lên trời Đâu Suất, lên trời Hóa Lạc, lên trời Tha Hóa Tự Tại, lên trời Phạm Chúng, lên trời Phạm Phụ, lên trời Đại Phạm, lên trời Quang Âm, lên trời Biến Tịnh, lên trời Quảng Quả, lên trời Tịnh Cư, nhẫn đến lên trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, các trời như thế thảy đều đến đó.</p><p>Lúc đó, Thế Tôn nói kệ rằng:</p><p>Nếu người ở đời ác</p><p>Giữ gìn kinh Pháp Hoa</p><p>Đó thật là việc khó</p><p>Nên phải giữ gìn chắc.</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Nếu hay giữ kinh này</p><p>Trong đời ác trược kia</p><p>Như gió mạnh cầm đất</p><p>Tất cả đều chẳng lay</p><p>Giữ kinh cũng như thế.</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Người hay giữ kinh này</p><p>Ở đời ác trược kia</p><p>Sẽ được chư Phật khen.</p><p>Phổ Hiền nên biết vậy</p><p>Ở mạt kiếp đời sau</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Sẽ được ta xoa đầu.</p><p>Người đó ở đạo tràng</p><p>Phá quân ma chúng rồi</p><p>Chuyển pháp luân vô thượng</p><p>Đánh trống thổi loa pháp</p><p>Mưa pháp vũ lớn lao</p><p>Ngồi tòa sư tử pháp</p><p>Trong đại chúng trời người</p><p>Sẽ được nghìn Phật xoa.</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Chẳng tham việc thế gian</p><p>Cũng chẳng ưa ác sự</p><p>Thương xót các chúng sanh.</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Đó thật là chân sĩ</p><p>Đã gần Phật không xa</p><p>Ngồi dưới cây Phật đạo.</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Ở chỗ vắng lặng lẽ</p><p>Tu tập pháp thiền định</p><p>An ổn không lay động.</p><p>Phổ Hiền! Sau khi ta diệt độ, người thọ trì kinh này, ta sẽ khiến cho thân tâm an lạc, vô hữu lo buồn, sẽ đặng sức nhẫn nhục, sức đại bi, sức đại từ, sức đại hỷ, sức đại xả, sức đại trí, sức đại huệ, sức đại phương tiện, sức đại thần thông, sức đại tam muội, sức đại đà la ni, sức đại biện tài, sức đại giải thoát, sức đại tự tại, sức đại oai đức, sức đại công đức, sức đại phước đức, sức đại trí huệ, sẽ đặng trăm nghìn muôn ức các môn tam muội, đà la ni, thần thông, trí huệ, sẽ đặng bất thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.</p><p>Phổ Hiền! Người thọ trì kinh điển này sẽ ở trong mộng thấy Phật, thấy Phật thân sắc vàng, phóng vô lượng quang minh, diễn nói các pháp, sẽ thấy Đa Bảo Phật tháp, thấy các Phật mười phương, thấy Phật thọ ký cho các Bồ Tát, thấy Phật nói kinh Pháp Hoa, thấy mình nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong đại chúng nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong hư không nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở dưới đất nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong nước nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trên trời nói kinh Pháp Hoa, thấy mình biến hóa các thân nói kinh Pháp Hoa, thấy mình hiện các thần thông nói kinh Pháp Hoa, thấy mình thọ ký thành Phật, thấy mình thành Phật, thấy mình diệt độ, thấy mình xây tháp, thấy mình cúng dường tháp, thấy mình lễ bái tháp, thấy mình đọc tụng kinh trước tháp, thấy mình ở trong chúng tăng nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng Bồ Tát nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng Thanh Văn nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng trời nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng rồng nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng dạ xoa nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng nhân nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng phi nhân nói kinh Pháp Hoa, thấy mình độ脱 các chúng sanh khỏi các khổ nạn, thấy mình làm lợi ích cho các chúng sanh, thấy mình đầy đủ các công đức, thấy mình đặng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.</p><p>Phổ Hiền! Sau khi ta diệt độ, nếu có người đặng nghe kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một kệ một câu, một niệm tùy hỷ, ta cũng thọ ký cho người đó đặng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.</p><p>Nếu lại có người thọ trì đọc tụng chơn chánh tư duy kinh điển này, người đó ở trong nhân gian sẽ đặng nghìn Phật xoa đầu, khi mạng chung sẽ có nghìn Phật hiện đến, chớ sanh sợ sệt, sau khi mạng chung sẽ sanh lên trời Đâu Suất, chỗ của Di Lặc Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát có ba mươi hai tướng, đại chúng vây quanh, nói pháp cho nghe.</p><p>Phổ Hiền! Do đó người trí nên phải một lòng tự tay biên chép kinh này, hoặc bảo người biên chép, thọ trì đọc tụng chơn chánh tư duy như thuyết tu hành.</p><p>Phổ Hiền! Thế nên ông nên ở nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà sanh lòng tin lớn, vì kinh này là phương tiện lành của chư Phật Như Lai.</p><p>Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát bạch Phật rằng: &#34;Thế Tôn! Con ở đời vị lai sẽ hộ trì kinh điển này, ở trong cõi Ta Bà này, nơi chốn có người thọ trì, con sẽ khiến cho khỏi các khổ não, trừ các suy yếu, thêm sức an lạc.</p><p>Nếu có người thọ trì kinh này, con sẽ cưỡi tượng vương trắng hiện đến chỗ người đó, vì để cúng dường.</p><p>Nếu có người quên mất câu kệ kinh Pháp Hoa, con sẽ dạy cho khiến nhớ đầy đủ.</p><p>Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân đặng nghe con nói phẩm Phổ Hiền Khuyến Phát này, chơn chánh tin hiểu, nên biết người đó hành hạnh Phổ Hiền.</p><p>Nếu có người tin hiểu kinh điển này, sẽ đặng thấy Phật, sẽ đặng cúng dường Phật, sẽ đặng hộ trì Phật thân, sẽ đặng vui mừng Phật pháp, sẽ đặng hành Phật đạo, sẽ đặng nhập Phật hội.</p><p>Người đó ở đời vị lai chẳng còn tham trước thế gian, chẳng ưa kinh sách ngoại đạo, cũng chẳng gần gũi kẻ ác và những người hung dữ, người đó có lòng từ bi với tất cả chúng sanh, xem như con đỏ, người đó sẽ làm Phật tử, Phật sẽ xoa đầu thọ ký cho, người đó sẽ đặng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.</p><p>Lúc đó, Phật nói kệ rằng:</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Người hay giữ kinh này</p><p>Sẽ gần Phật không xa</p><p>Du hành các cõi nước.</p><p>Ở chỗ vắng nghĩ kinh</p><p>Nếu quên câu chữ gì</p><p>Sẽ được gặp con dạy</p><p>Khiến nhớ đầy đủ hết.</p><p>Nếu gặp người giữ kinh</p><p>Hoặc đọc hoặc tụng kinh</p><p>Hoặc ngồi nghĩ nghĩa kinh</p><p>Cũng đến vì nói pháp.</p><p>Đã nghe pháp vui mừng</p><p>Cúng dường trong chúng tăng</p><p>Sẽ được trăm nghìn kiếp</p><p>Làm trời Đao Lợi chủ.</p><p>Nếu vì thương chúng sanh</p><p>Nói các pháp nhân duyên</p><p>Sẽ được trăm nghìn kiếp</p><p>Làm trời Diệm Ma chủ.</p><p>Nếu dạy người tinh tấn</p><p>An trụ trong thiền định</p><p>Sẽ được trăm nghìn kiếp</p><p>Làm trời Đâu Suất chủ.</p><p>Nếu dạy người trí huệ</p><p>Phân biệt các pháp nghĩa</p><p>Sẽ được trăm nghìn kiếp</p><p>Làm trời Hóa Lạc chủ.</p><p>Nếu dạy người từ bi</p><p>Vui mừng pháp đại thừa</p><p>Sẽ được trăm nghìn kiếp</p><p>Làm trời Tha Hóa chủ.</p><p>Nếu dạy người trí huệ</p><p>Quán sát các pháp tánh</p><p>Sẽ được trăm nghìn kiếp</p><p>Làm trời Phạm Vương chủ.</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Công đức chẳng hạn lượng</p><p>Như hư không mười phương</p><p>Chẳng thể nói hết được.</p><p>Kinh Pháp Hoa này</p><p>Chỉ Phật hay cứu cánh</p><p>Tất cả các chúng sanh</p><p>Chẳng hay biết hết được.</p><p>Ông nên dùng thần lực</p><p>Hộ trì người giữ kinh</p><p>Vì ở cõi Ta Bà</p><p>Đa có các khổ não.</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Ở trong đời ác trược</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Sẽ được ta thần lực.</p><p>Con sẽ khắp hộ trì</p><p>Khiến khỏi các suy não</p><p>Chỉ trừ nghiệp báo cũ</p><p>Thọ sanh tử như thường.</p><p>Nếu người đọc tụng kinh</p><p>Nên biết người như thế</p><p>Đã cúng dường chư Phật</p><p>Cũng từ Phật口 sanh.</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Thì là thấy Phật vậy</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Thì là nghe pháp vậy</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Thì là vào tạng vậy</p><p>Người thọ trì kinh này</p><p>Thì là gần Phật vậy.</p><p>Lúc nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, vô lượng vô số hằng hà sa chúng Bồ Tát từ phương khác đến để nghe kinh, cùng các hàng Thanh Văn, Trời, Rồng, Thần, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân, Phi Nhân v.v... thấy từ xa sức thần thông trí huệ của Phổ Hiền Bồ Tát, đều rất vui mừng, kính lễ Phật và Phổ Hiền Bồ Tát, rồi lui ra.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 28 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 28, phẩm cuối cùng của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kể về Bồ tát Phổ Hiền từ phương Đông đến hội, khuyến khích đại chúng trì giữ, đọc tụng và hoằng dương Kinh Pháp Hoa sau khi Phật diệt độ. Ngài hứa sẽ bảo hộ những người trì kinh khỏi ác ma, chướng ngại, giúp họ thanh tịnh lục căn, tích tụ công đức vô lượng, và được chư Phật thọ ký thành Phật. Phẩm này nhấn mạnh sức mạnh của niềm tin, nhẫn nhục và phương tiện trong việc duy trì Chánh Pháp, khích lệ chúng sinh phát tâm Bồ-đề để lợi ích bản thân và tha nhân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 28: Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát dùng sức thần thông tự tại, oai đức danh tiếng vang khắp, từ phương Đông cùng vô lượng vô biên các vị Đại Bồ Tát đồng đến hội trường. Các nước đi qua thảy đều chấn động, mưa hoa báu trời, trỗi vô lượng trăm nghìn muôn ức các món kỹ nhạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại cùng vô lượng chư Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân, Phi Nhân v.v... vây quanh. Mỗi vị đều hiện sức oai thần tự tại, đến núi Kỳ Xà Quật, Linh Thứu Sơn, đến rồi đầu mặt lễ chân Phật, đi nhiễu bên hữu bảy vòng, bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&amp;#34;Thế Tôn! Con ở nơi nước của đức Bảo Oai Đức Thượng Vương Phật, xa nghe cõi Ta Bà này nói kinh Pháp Hoa, cùng vô lượng vô biên trăm nghìn muôn ức các vị Bồ Tát đến để nghe thọ, cúi mong Thế Tôn vì đó mà nói. Sau khi Như Lai diệt độ, thiện nam tử, thiện nữ nhân làm thế nào hay đặng kinh Pháp Hoa này?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Phổ Hiền Bồ Tát: &amp;#34;Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thành tựu bốn pháp thời sau khi Như Lai diệt độ sẽ đặng kinh Pháp Hoa này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một là được chư Phật hộ niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai là trồng các cội công đức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba là vào trong chánh định.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn là phát tâm cứu vớt tất cả chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện nam tử, thiện nữ nhân như thế, sau khi Như Lai diệt độ sẽ đặng kinh Pháp Hoa này&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát bạch Phật rằng: &amp;#34;Thế Tôn! Ở đời vị lai sau, trong năm trăm năm sau, trong đời ác trược, nếu có người thọ trì kinh điển này, con sẽ giữ gìn trừ các sự khổ não, khiến cho an ổn, chẳng bị xâm dịp, cũng làm cho chẳng bị tất cả các việc: chẳng phải thời mà gặp, hoặc bị vua nạn, hoặc bị tặc nạn, hoặc bị thủy nạn, hoặc bị hỏa nạn, hoặc bị gió nạn, hoặc bị hạn nạn, hoặc bị đói nạn, hoặc bị khát nạn, hoặc bị trùng độc nạn, hoặc bị sư tử nạn, hoặc bị trùng độc nạn, hoặc bị bò cạp nạn, hoặc bị rắn độc nạn, hoặc bị gió lạnh nạn, hoặc bị gió nóng nạn, hoặc bị nạn rơi vào hầm hố, hoặc bị nạn rớt xuống sông, hoặc bị nạn rớt xuống biển, hoặc bị nạn rớt xuống vực sâu, hoặc bị nạn thú dữ, hoặc bị nạn ác quỷ, hoặc bị nạn ác tà, hoặc bị nạn ác thần, hoặc bị nạn ác linh, hoặc bị nạn ác thú, hoặc bị nạn ác trùng, hoặc bị nạn ác cầm, hoặc bị nạn ác người, hoặc bị nạn ác ma, hoặc bị nạn ác quỷ nhập, hoặc bị nạn ác linh nhập, hoặc bị nạn ác thần nhập, hoặc bị nạn ác thú nhập, hoặc bị nạn ác trùng nhập, hoặc bị nạn ác cầm nhập, hoặc bị nạn ác người nhập.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào thọ trì đọc tụng kinh điển này, nếu đi một mình con sẽ cưỡi tượng trắng sáu ngà cùng chúng Đại Bồ Tát đến chỗ người đó để hộ vệ, an ủy lòng họ, cũng vì hộ kinh vậy. Nếu ngồi nghĩ kinh điển, con cũng cưỡi tượng trắng sáu ngà hiện đến trước người đó. Nếu người đó quên một câu một kệ trong kinh điển, con sẽ dạy đọc tụng lại như cũ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi đó người thọ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa thấy thân con thời được sáng suốt vui mừng, thêm sức tinh tấn, do thấy thân con thời đặng tam muội và đà la ni, nhẫn đến trăm nghìn muôn ức chuyển bất thối pháp, vô lượng đà la ni, ở trong đời vị lai nói pháp cho bốn chúng trong bao nhiêu lâu dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Con ở đời sau, đời ác sau, sẽ hộ trì đọc tụng kinh điển này, ở trong đời ác trược, con sẽ hiện thân đại trượng phu, ở nơi non cùng hoang vắng, nếu có người đọc, con sẽ vì nói pháp, trừ các nghi hoặc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân sau khi Như Lai diệt độ thọ trì đọc tụng kinh điển này, con sẽ khiến cho chẳng có ma sự, cũng làm cho đặng nghe thọ tất cả các pháp, sâu vào thiền định, ở trong hư không mưa các hoa mạn thù sa, hoa mạn thù sa lớn, dùng để cúng dường các vị nói kinh Pháp Hoa và các vị Bồ Tát, Thanh Văn trong mười phương thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó do nhơn duyên đời trước, nên đặng gặp con, đặng thấy con thân, đặng nghe con nói, đặng tin con lời, đặng vào con hội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con sẽ hộ trì kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến khắp mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai xâm phạm được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người nói kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con cưỡi tượng sáu ngà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện đến trước người đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì hộ trì kinh vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người đọc kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quên một câu một kệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con dạy đọc tụng lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm cho nhớ như cũ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người có phước đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đặng thấy thân con đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được sáng vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thêm sức tinh tấn lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do thấy con thân này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đặng tam muội đà la ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn đến bất thối chuyển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng đà la ni.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong đời vị lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp lâu dài vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì người nói kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở non hoang vắng vẻ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến trừ các nghi hoặc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp không ngại ngại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở hư không mưa hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường người nói kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng Đại Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thanh Văn mười phương giới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con đều hộ trì cho&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến không ma sự gì.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ngồi nghĩ kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con hiện đến an ủy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có quên câu kệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con dạy nhớ tụng đọc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Phật khen Phổ Hiền Bồ Tát rằng: &amp;#34;Lành thay! Lành thay! Phổ Hiền! Ông hay hộ trì kinh này, làm cho nhiều lợi ích an lạc cho trời và người, ông đã thành tựu bất khả tư nghì công đức, từ lâu phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, hạnh nguyện đại bi, ông nay phát nguyện hộ trì kinh Pháp Hoa này ở đời vị lai, ông sẽ dùng sức thần thông hộ trì người hay thọ trì danh tự Quán Thế Âm Bồ Tát, Phổ Hiền! Nếu có chúng sanh thọ trì đọc tụng chơn chánh tư duy kinh Pháp Hoa, nên biết người đó hành hạnh Phổ Hiền, gần đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, ở dưới cây Bồ Đề, trong đại lâm tùng, vì các chúng sanh nói kinh Pháp Hoa, hoặc ở chỗ vắng, hoặc ở trong mồ mả, hoặc ở dưới cây, hoặc ở trong chùa chiền, hoặc ở nhà cư sĩ, hoặc ở trong thành ấp, hoặc ở xóm làng, hoặc ở rừng rú, hoặc ở nơi hoang vắng, hoặc ở trên non, hoặc ở trong hang, hoặc ở đồng nội, hoặc ở bờ sông, hoặc ở dưới biển, hoặc ở trong nước, hoặc ở trên trời, hoặc ở trong hư không, hoặc ở trong địa ngục, hoặc ở trong ngạ quỷ, hoặc ở trong súc sanh, hoặc ở trong A Tu La, hoặc ở trong Long cung, hoặc ở trong Nhân gian, hoặc ở trong Thiên thượng, hoặc ở trong Phạm Thiên, hoặc ở trong Ma giới, hoặc ở trong Tự Tại Thiên, hoặc ở trong Hóa Tự Tại Thiên, hoặc ở trong Tha Hóa Tự Tại Thiên, hoặc ở trong Đại Tự Tại Thiên, các chỗ như thế, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời ông nên đến đó mà nghe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Ông ở đời vị lai sau khi ta diệt độ, trong năm trăm năm sau, nếu thấy thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì đọc tụng kinh Pháp Hoa, ông nên nghĩ rằng: Người này chẳng bao lâu sẽ đến đạo tràng phá các ma quân, chuyển pháp luân vô thượng, đánh trống pháp lớn, thổi loa pháp lớn, mưa pháp vũ lớn, ngồi pháp tòa sư tử trong đại chúng trời người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Ở đời vị lai nếu có người thọ trì đọc tụng kinh điển này, người đó chẳng còn tham đắm y phục ăn nằm, đồ dùng, cũng chẳng mong cầu chi khác, lời thề nguyện phát ra chẳng luống, ở trong đời hiện tại đặng phước báo, nếu có người khinh chê, nói người đó điên cuồng, thời người đó ở đời sau sẽ đặng vô sanh pháp nhẫn, đặng nghìn Phật xoa đầu, người đó sẽ đặng quyến thuộc Kim Cang thần, Đao thần, Chử thần, Bổng thần, Quỷ thần, Dược Xoa thần, La Sát thần, Cưu Bàn Trà thần, Bí Sử thần, Cát Tường thần, Đại Biện thần, Đại Tướng thần, Tiểu Tướng thần, Nhật thần, Nguyệt thần, Phong thần, Vũ thần, Thủy thần, Hỏa thần, Địa thần, Sơn thần, Hải thần, Xuyên thần, Thụ thần, Thảo thần, Thổ thần, Điền thần, Dạ thần, Trú thần, Phương thần, Hướng thần, Tinh thần, Tú thần, Hành thần, Độ thần, Thời thần, Niên thần, Nguyệt thần, Kế thần, Đô thần, Thần vương, Thần hậu, Thần tử, Thần tôn, Thần tông, Thần tộc, Thần dân, Thần chúng, tất cả các thần như thế thảy đều ủng hộ người đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Nếu có người thọ trì đọc tụng kinh điển này, sẽ đặng thấy ta, thấy Đa Bảo Như Lai, thấy các hóa Phật của ta, sẽ đặng thanh tịnh lục căn, do thanh tịnh lục căn đó mà được vui mừng, người đó sẽ hay dùng sức thần thông du hành vô lượng cõi nước, thường tu phạm hạnh, lên núi Tu Di, lên trời Đao Lợi, lên trời Diệm Ma, lên trời Đâu Suất, lên trời Hóa Lạc, lên trời Tha Hóa Tự Tại, lên trời Phạm Chúng, lên trời Phạm Phụ, lên trời Đại Phạm, lên trời Quang Âm, lên trời Biến Tịnh, lên trời Quảng Quả, lên trời Tịnh Cư, nhẫn đến lên trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, các trời như thế thảy đều đến đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Thế Tôn nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người ở đời ác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ gìn kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó thật là việc khó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên phải giữ gìn chắc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu hay giữ kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời ác trược kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như gió mạnh cầm đất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả đều chẳng lay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ kinh cũng như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay giữ kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở đời ác trược kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được chư Phật khen.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền nên biết vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở mạt kiếp đời sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được ta xoa đầu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó ở đạo tràng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phá quân ma chúng rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyển pháp luân vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đánh trống thổi loa pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mưa pháp vũ lớn lao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngồi tòa sư tử pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đại chúng trời người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được nghìn Phật xoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng tham việc thế gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng ưa ác sự&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thương xót các chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó thật là chân sĩ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã gần Phật không xa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngồi dưới cây Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở chỗ vắng lặng lẽ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu tập pháp thiền định&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An ổn không lay động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Sau khi ta diệt độ, người thọ trì kinh này, ta sẽ khiến cho thân tâm an lạc, vô hữu lo buồn, sẽ đặng sức nhẫn nhục, sức đại bi, sức đại từ, sức đại hỷ, sức đại xả, sức đại trí, sức đại huệ, sức đại phương tiện, sức đại thần thông, sức đại tam muội, sức đại đà la ni, sức đại biện tài, sức đại giải thoát, sức đại tự tại, sức đại oai đức, sức đại công đức, sức đại phước đức, sức đại trí huệ, sẽ đặng trăm nghìn muôn ức các môn tam muội, đà la ni, thần thông, trí huệ, sẽ đặng bất thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Người thọ trì kinh điển này sẽ ở trong mộng thấy Phật, thấy Phật thân sắc vàng, phóng vô lượng quang minh, diễn nói các pháp, sẽ thấy Đa Bảo Phật tháp, thấy các Phật mười phương, thấy Phật thọ ký cho các Bồ Tát, thấy Phật nói kinh Pháp Hoa, thấy mình nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong đại chúng nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong hư không nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở dưới đất nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong nước nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trên trời nói kinh Pháp Hoa, thấy mình biến hóa các thân nói kinh Pháp Hoa, thấy mình hiện các thần thông nói kinh Pháp Hoa, thấy mình thọ ký thành Phật, thấy mình thành Phật, thấy mình diệt độ, thấy mình xây tháp, thấy mình cúng dường tháp, thấy mình lễ bái tháp, thấy mình đọc tụng kinh trước tháp, thấy mình ở trong chúng tăng nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng Bồ Tát nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng Thanh Văn nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng trời nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng rồng nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng dạ xoa nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng nhân nói kinh Pháp Hoa, thấy mình ở trong chúng phi nhân nói kinh Pháp Hoa, thấy mình độ脱 các chúng sanh khỏi các khổ nạn, thấy mình làm lợi ích cho các chúng sanh, thấy mình đầy đủ các công đức, thấy mình đặng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Sau khi ta diệt độ, nếu có người đặng nghe kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một kệ một câu, một niệm tùy hỷ, ta cũng thọ ký cho người đó đặng A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại có người thọ trì đọc tụng chơn chánh tư duy kinh điển này, người đó ở trong nhân gian sẽ đặng nghìn Phật xoa đầu, khi mạng chung sẽ có nghìn Phật hiện đến, chớ sanh sợ sệt, sau khi mạng chung sẽ sanh lên trời Đâu Suất, chỗ của Di Lặc Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát có ba mươi hai tướng, đại chúng vây quanh, nói pháp cho nghe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Do đó người trí nên phải một lòng tự tay biên chép kinh này, hoặc bảo người biên chép, thọ trì đọc tụng chơn chánh tư duy như thuyết tu hành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phổ Hiền! Thế nên ông nên ở nơi kinh Diệu Pháp Liên Hoa mà sanh lòng tin lớn, vì kinh này là phương tiện lành của chư Phật Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Phổ Hiền Bồ Tát bạch Phật rằng: &amp;#34;Thế Tôn! Con ở đời vị lai sẽ hộ trì kinh điển này, ở trong cõi Ta Bà này, nơi chốn có người thọ trì, con sẽ khiến cho khỏi các khổ não, trừ các suy yếu, thêm sức an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người thọ trì kinh này, con sẽ cưỡi tượng vương trắng hiện đến chỗ người đó, vì để cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người quên mất câu kệ kinh Pháp Hoa, con sẽ dạy cho khiến nhớ đầy đủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân đặng nghe con nói phẩm Phổ Hiền Khuyến Phát này, chơn chánh tin hiểu, nên biết người đó hành hạnh Phổ Hiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người tin hiểu kinh điển này, sẽ đặng thấy Phật, sẽ đặng cúng dường Phật, sẽ đặng hộ trì Phật thân, sẽ đặng vui mừng Phật pháp, sẽ đặng hành Phật đạo, sẽ đặng nhập Phật hội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó ở đời vị lai chẳng còn tham trước thế gian, chẳng ưa kinh sách ngoại đạo, cũng chẳng gần gũi kẻ ác và những người hung dữ, người đó có lòng từ bi với tất cả chúng sanh, xem như con đỏ, người đó sẽ làm Phật tử, Phật sẽ xoa đầu thọ ký cho, người đó sẽ đặng thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Phật nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay giữ kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ gần Phật không xa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Du hành các cõi nước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở chỗ vắng nghĩ kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu quên câu chữ gì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được gặp con dạy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến nhớ đầy đủ hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu gặp người giữ kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc đọc hoặc tụng kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngồi nghĩ nghĩa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng đến vì nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã nghe pháp vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường trong chúng tăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được trăm nghìn kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm trời Đao Lợi chủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu vì thương chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói các pháp nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được trăm nghìn kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm trời Diệm Ma chủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu dạy người tinh tấn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ trong thiền định&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được trăm nghìn kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm trời Đâu Suất chủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu dạy người trí huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân biệt các pháp nghĩa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được trăm nghìn kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm trời Hóa Lạc chủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu dạy người từ bi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng pháp đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được trăm nghìn kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm trời Tha Hóa chủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu dạy người trí huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán sát các pháp tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được trăm nghìn kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm trời Phạm Vương chủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức chẳng hạn lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hư không mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng thể nói hết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ Phật hay cứu cánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay biết hết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nên dùng thần lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì người giữ kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì ở cõi Ta Bà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đa có các khổ não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong đời ác trược&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được ta thần lực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con sẽ khắp hộ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến khỏi các suy não&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ trừ nghiệp báo cũ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ sanh tử như thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người đọc tụng kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên biết người như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã cúng dường chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng từ Phật口 sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì là thấy Phật vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì là nghe pháp vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì là vào tạng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì là gần Phật vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa này, vô lượng vô số hằng hà sa chúng Bồ Tát từ phương khác đến để nghe kinh, cùng các hàng Thanh Văn, Trời, Rồng, Thần, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, Nhân, Phi Nhân v.v... thấy từ xa sức thần thông trí huệ của Phổ Hiền Bồ Tát, đều rất vui mừng, kính lễ Phật và Phổ Hiền Bồ Tát, rồi lui ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="18846615" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/d4786bb8-5bf3-4532-ad59-dcd38b3f68bf/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">632fed75-67e7-4885-8b15-b98d560b5e88</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/d4786bb8-5bf3-4532-ad59-dcd38b3f68bf</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 06:41:33 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/6/c35b7025-4c3c-40ca-8726-7161562ad138_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>1177</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 27_Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 27_Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 27 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự)</p><p>Phẩm 27 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, còn gọi là Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự, kể về câu chuyện quá khứ của vua Diệu Trang Nghiêm (nay là Hoa Đức Bồ Tát), người nhờ hai con trai (sau là Dược Vương và Dược Thượng Bồ Tát) hiển thị thần thông mà tỉnh ngộ, quy y Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, xuất gia tu hành Kinh Pháp Hoa, và được thọ ký thành Phật. Phẩm này nhấn mạnh vai trò của thiện tri thức (như con cái hoặc bạn lành) trong việc dẫn dắt chúng sinh xa lìa tà kiến, phát tâm Bồ-đề, và lợi ích vô lượng của việc gần gũi, cúng dường chư Phật cùng trì kinh.</p><p>Toàn văn Phẩm 27: Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự</p><p>Lúc bấy giờ, Phật bảo hàng đại chúng rằng: Về thuở xưa, cách đây vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp, có đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri. Nước đó tên Quang Minh Trang Nghiêm, kiếp tên Hỉ Kiến.</p><p>Trong pháp hội của Phật đó có vị vua tên Diệu Trang Nghiêm, phu nhân của vua tên Tịnh Đức, có hai người con, một tên Tịnh Tạng hai tên Tịnh Nhãn. Hai người con đó có sức thần thông lớn, phước đức trí huệ, từ lâu tu tập đạo hạnh của Bồ Tát, những là: thí ba la mật, giới ba la mật, nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền ba la mật, trí huệ ba la mật, phương tiện ba la mật, từ bi hỷ xả nhẫn đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo thảy đều rành rẽ suốt thấu.</p><p>Lại đặng các môn Tam Muội của Bồ Tát: Nhựt Tinh Tú tam muội, Tịnh Quang tam muội, Tịnh sắc tam muội, Tịnh chiếu minh tam muội, Trường Trang Nghiêm tam muội, Đại oai đức tạng tam muội, ở nơi các môn tam muội này cũng đều thấu suốt.</p><p>Lúc đó, đức Phật kia vì muốn dẫn dắt vua Diệu Trang Nghiêm cùng thương tưởng hàng chúng sanh nên nói kinh Pháp Hoa này.</p><p>Bấy giờ, Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn, hai người con đến chỗ của mẹ, chắp tay thưa mẹ rằng: &#34;Mong mẹ đến nơi chỗ đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, chúng con cũng sẽ theo hầu gần gũi cúng dường lễ lạy&#34;.</p><p>Vì sao? Vì đức Phật đó ở trong tất cả chúng trời người mà nói kinh Pháp Hoa, nên phải nghe và tin nhận.</p><p>Mẹ bảo con rằng: &#34;Cha con tin theo ngoại đạo, rất ham pháp Bà la môn, các con nên qua thưa với cha để cùng nhau đồng đi&#34;.</p><p>Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn chắp tay thưa mẹ: &#34;Chúng con là pháp vương tử mà lại sanh vào nhà tà kiến này&#34;.</p><p>Mẹ bảo các con rằng: &#34;Các con nên thương tưởng cha các con, mà vì đó hiển phép thần thông biến hóa, nếu cha con đặng thấy lòng ắt thanh tịnh, hoặc là chịu cho chúng ta qua đến chỗ Phật&#34;.</p><p>Lúc ấy, hai người con thương cha nên bay lên hư không cao bằng bảy cây đa la, hiện các món thần biến. Ở trong hư không đi, đứng, ngồi, nằm, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không rồi lại hiện nhỏ, nhỏ lại hiện lớn, ở trong hư không ẩn mất, bỗng nhiên hiện trên đất, vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất, hiện các món thần biến như thế làm cho vua cha lòng thanh tịnh tin hiểu.</p><p>Bấy giờ, cha thấy con có sức thần như thế, lòng rất vui mừng đặng điều chưa từng có, chắp tay hướng về phía con mà nói rằng: &#34;Thầy các con là ai, con là đệ tử của ai?&#34;.</p><p>Hai người con thưa rằng: &#34;Đại Vương! Đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật kia nay đương ngồi trên pháp tòa dưới cây bồ đề bằng bảy báu, ở trong tất cả chúng trời người thế gian, rộng nói kinh Pháp Hoa, đó là thầy chúng con, con là đệ tử&#34;.</p><p>Cha nói với con rằng: &#34;Ta nay cũng muốn ra mắt thầy các con, nên cùng nhau đồng đi&#34;. Khi đó hai người con từ trong hư không xuống, đến chỗ của mẹ chắp tay thưa mẹ rằng: &#34;Phụ vương nay đã tin hiểu, có thể kham phát được tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, chúng con đã vì cha làm Phật sự rồi, mong mẹ bằng lòng cho chúng con, ở nơi chỗ đức Phật kia mà xuất gia tu hành Phật đạo&#34;.</p><p>Lúc đó, hai người con muốn tuyên lại ý mình nói kệ thưa mẹ:</p><p>Mong mẹ cho các con</p><p>Xuất gia làm Sa môn</p><p>Các Phật rất khó gặp</p><p>Chúng con theo Phật học</p><p>Như hoa Ưu đàm bát</p><p>Gặp Phật lại khó hơn.</p><p>Khỏi các nạn cũng khó</p><p>Mong cho các con xuất gia.</p><p>Mẹ liền bảo con rằng:</p><p>&#34;Cho các con xuất gia, vì sao?</p><p>Vì Phật khó gặp vậy&#34;.</p><p>Bấy giờ, hai người con thưa cha mẹ rằng: &#34;Lành thay, cha mẹ! Xin liền qua đến chỗ đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật để gần gũi cúng dường.</p><p>Vì sao? Vì Phật khó gặp đặng, như hoa Linh thoại, lại như rùa một mắt gặp bộng cây nổi mà chúng ta do phước đời trước sâu dày, sanh đời này gặp Phật pháp, xin cha mẹ nên cho chúng con đặng xuất gia.</p><p>Vì sao? Vì các đức Phật khó gặp được, thời kỳ gặp Phật cũng khó có.</p><p>Lúc đó, nơi hậu cung của Vua Diệu Trang Nghiêm có tám muôn bốn nghìn người thảy đều có thể kham thọ trì kinh Pháp Hoa này. Tịnh Nhãn Bồ Tát từ lâu đã thông đạt nơi &#34;Pháp Hoa tam muội&#34;. Tịnh Tạng Bồ Tát đã từ vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp thông đạt môn &#34;Ly chư ác thú tam muội&#34;, vì muốn làm cho tất cả chúng sanh lìa các đường dữ vậy.</p><p>Phu nhơn của vua đặng môn &#34;Chư Phật Tập tam muội&#34;, hay biết đặng tạng pháp bí mật của các đức Phật. Hai người con dùng sức phương tiện, khéo hóa độ vua cha như thế, khiến cho lòng cha tin hiểu ưa mến Phật Pháp.</p><p>Bấy giờ, vua Diệu Trang Nghiêm cùng chung với quần thần quyến thuộc, Tịnh Đức phu nhơn cùng chung với thể nữ quyến thuộc nơi hậu cung, hai người con của vua, cùng chung với bốn muôn hai nghìn người đồng một lúc đi qua chỗ Phật. Đến rồi đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh Phật ba vòng, rồi đứng qua một phía.</p><p>Lúc đó, đức Phật kia vì vua nói pháp, chỉ dạy làm cho được lợi ích vui mừng, vua rất vui đẹp.</p><p>Bấy giờ, vua Diệu Trang Nghiêm cùng phu nhơn mở chuỗi chơn châu giá trị trăm nghìn đeo nơi cổ, để rải trên đức Phật, chuỗi đó ở giữa hư không hóa thành đài báu bốn trụ, trong đài có giường báu lớn trải trăm nghìn muôn thiên y, trên đó có đức Phật ngồi xếp bằng phóng hào quang sáng lớn.</p><p>Lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm nghĩ rằng: &#34;Thân Phật tốt đẹp riêng lạ, ít có, thành tựu sắc thân vi diệu thứ nhứt.</p><p>Bấy giờ, đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật, bảo bốn chúng rằng: &#34;Các người thấy vua Diệu Trang Nghiêm chắp tay đứng trước ta đó chăng? Vị vua này ở trong pháp ta làm Tỳ kheo siêng ròng tu tập các món trợ Phật đạo pháp, sẽ đặng làm Phật hiệu Ta La Thọ Vương, nước tên Đại Quang, kiếp tên Đại Cao Vương.</p><p>Đức Ta La Thọ Vương Phật có vô lượng chúng Bồ Tát và vô lượng Thanh Văn, nước đó bằng thẳng công đức như thế&#34;.</p><p>Vua Diệu Trang Nghiêm liền đem nước giao cho em, rồi cùng phu nhân, hai người con và các quyến thuộc, ở trong Phật pháp xuất gia tu hành đạo hạnh.</p><p>Vua xuất gia rồi trong tám muôn bốn nghìn năm thường siêng tinh tấn tu hành kinh Diệu Pháp Liên Hoa, qua sau lúc đây, đặng môn &#34;Nhứt Thiết Tịnh Công Đức Trang Nghiêm tam muội&#34;.</p><p>Liền bay lên hư không cao bảy cây đa la mà bạch Phật rằng: &#34;Thế Tôn! Hai người con của con đây đã làm Phật sự, dùng sức thần thông biến hóa, xoay tâm của con, làm cho con được an trụ trong Phật pháp, được thấy Thế Tôn. Hai người con này là thiện tri thức của con, vì muốn phát khởi căn lành đời trước lợi ích cho con nên đến sanh vào nhà con&#34;.</p><p>Lúc đó, đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật bảo vua Diệu Trang Nghiêm rằng: &#34;Đúng thế! Đúng thế! Như lời ông nói, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào trồng cội lành thời đời đời đặng gặp thiện tri thức, vị thiện tri thức hay làm Phật sự, chỉ dạy cho lợi ích vui mừng, khiến vào đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.</p><p>Đại vương nên biết! Vị thiện tri thức đó là nhơn duyên lớn, giáo hóa dìu dắt làm cho đặng thấy Phật, phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.</p><p>Đại vương! Ông thấy hai người con này chăng? Hai người con này đã từng cúng dường sáu mươi lăm trăm nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các đức Phật, gần gũi cung kính, nơi chỗ các đức Phật thọ trì kinh Pháp Hoa, thương tưởng những chúng sanh tà kiến làm cho trụ trong chánh kiến.</p><p>Diệu Trang Nghiêm Vương liền từ trong hư không xuống mà bạch Phật rằng: &#34;Thế Tôn! Như Lai rất ít có do công đức trí huệ nên nhục kế trên đỉnh sáng suốt chói rỡ, mắt Phật dài rộng mà sắc xanh biếc, tướng lông trắng chặng mày như ngọc Kha nguyệt, răng trắng bằng và khít thường có ánh sáng, môi sắc đỏ đẹp như trái tần bà&#34;.</p><p>Lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm khen ngợi Phật có vô lượng trăm nghìn muôn ức công đức như thế rồi, ở trước Như Lai một lòng chắp tay lại bạch Phật rằng: &#34;Thế Tôn! Chưa từng có vậy! Pháp của Như Lai đầy đủ trọn nên bất khả tư nghì công đức vi diệu, dạy răn chỗ tu hành an ổn rất hay. Con từ ngày nay chẳng còn lại tự theo tâm hành của mình chẳng sanh những lòng ác: kiêu mạn giận hờn tà kiến&#34;. Vua thưa lời đó rồi, lạy Phật mà ra.</p><p>Phật bảo đại chúng: &#34;Ý các ông nghĩ sao? Vua Diệu Trang Nghiêm đâu phải người nào lạ, nay chính là Hoa Đức Bồ Tát. Bà Tịnh Đức phu nhân nay chính là Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng Bồ Tát hiện đương ở trước Phật. Hai người con vì thương xót vua Diệu Trang Nghiêm và các quyến thuộc nên sanh vào trong cung vua, nay chính là Dược Vương Bồ Tát cùng Dược Thượng Bồ Tát.</p><p>Dược Vương và Dược Thượng Bồ Tát này thành tựu các công đức lớn như thế, đã ở chỗ vô lượng trăm nghìn muôn ức, các đức Phật trồng các cội công đức, thành tựu bất khả tư nghì những công đức lành. Nếu có người biết danh tự của hai vị Bồ Tát này thời tất cả trong đời, hàng Trời, nhân dân cũng nên lễ lạy.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 27 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 27 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, còn gọi là Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự, kể về câu chuyện quá khứ của vua Diệu Trang Nghiêm (nay là Hoa Đức Bồ Tát), người nhờ hai con trai (sau là Dược Vương và Dược Thượng Bồ Tát) hiển thị thần thông mà tỉnh ngộ, quy y Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, xuất gia tu hành Kinh Pháp Hoa, và được thọ ký thành Phật. Phẩm này nhấn mạnh vai trò của thiện tri thức (như con cái hoặc bạn lành) trong việc dẫn dắt chúng sinh xa lìa tà kiến, phát tâm Bồ-đề, và lợi ích vô lượng của việc gần gũi, cúng dường chư Phật cùng trì kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 27: Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Phật bảo hàng đại chúng rằng: Về thuở xưa, cách đây vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp, có đức Phật hiệu là Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri. Nước đó tên Quang Minh Trang Nghiêm, kiếp tên Hỉ Kiến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong pháp hội của Phật đó có vị vua tên Diệu Trang Nghiêm, phu nhân của vua tên Tịnh Đức, có hai người con, một tên Tịnh Tạng hai tên Tịnh Nhãn. Hai người con đó có sức thần thông lớn, phước đức trí huệ, từ lâu tu tập đạo hạnh của Bồ Tát, những là: thí ba la mật, giới ba la mật, nhẫn nhục ba la mật, tinh tấn ba la mật, thiền ba la mật, trí huệ ba la mật, phương tiện ba la mật, từ bi hỷ xả nhẫn đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo thảy đều rành rẽ suốt thấu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại đặng các môn Tam Muội của Bồ Tát: Nhựt Tinh Tú tam muội, Tịnh Quang tam muội, Tịnh sắc tam muội, Tịnh chiếu minh tam muội, Trường Trang Nghiêm tam muội, Đại oai đức tạng tam muội, ở nơi các môn tam muội này cũng đều thấu suốt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, đức Phật kia vì muốn dẫn dắt vua Diệu Trang Nghiêm cùng thương tưởng hàng chúng sanh nên nói kinh Pháp Hoa này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn, hai người con đến chỗ của mẹ, chắp tay thưa mẹ rằng: &amp;#34;Mong mẹ đến nơi chỗ đức Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, chúng con cũng sẽ theo hầu gần gũi cúng dường lễ lạy&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì đức Phật đó ở trong tất cả chúng trời người mà nói kinh Pháp Hoa, nên phải nghe và tin nhận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mẹ bảo con rằng: &amp;#34;Cha con tin theo ngoại đạo, rất ham pháp Bà la môn, các con nên qua thưa với cha để cùng nhau đồng đi&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn chắp tay thưa mẹ: &amp;#34;Chúng con là pháp vương tử mà lại sanh vào nhà tà kiến này&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mẹ bảo các con rằng: &amp;#34;Các con nên thương tưởng cha các con, mà vì đó hiển phép thần thông biến hóa, nếu cha con đặng thấy lòng ắt thanh tịnh, hoặc là chịu cho chúng ta qua đến chỗ Phật&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy, hai người con thương cha nên bay lên hư không cao bằng bảy cây đa la, hiện các món thần biến. Ở trong hư không đi, đứng, ngồi, nằm, trên thân ra nước, dưới thân ra lửa, dưới thân ra nước, trên thân ra lửa, hoặc hiện thân lớn đầy trong hư không rồi lại hiện nhỏ, nhỏ lại hiện lớn, ở trong hư không ẩn mất, bỗng nhiên hiện trên đất, vào đất như vào nước, đi trên nước như đi trên đất, hiện các món thần biến như thế làm cho vua cha lòng thanh tịnh tin hiểu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, cha thấy con có sức thần như thế, lòng rất vui mừng đặng điều chưa từng có, chắp tay hướng về phía con mà nói rằng: &amp;#34;Thầy các con là ai, con là đệ tử của ai?&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai người con thưa rằng: &amp;#34;Đại Vương! Đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật kia nay đương ngồi trên pháp tòa dưới cây bồ đề bằng bảy báu, ở trong tất cả chúng trời người thế gian, rộng nói kinh Pháp Hoa, đó là thầy chúng con, con là đệ tử&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha nói với con rằng: &amp;#34;Ta nay cũng muốn ra mắt thầy các con, nên cùng nhau đồng đi&amp;#34;. Khi đó hai người con từ trong hư không xuống, đến chỗ của mẹ chắp tay thưa mẹ rằng: &amp;#34;Phụ vương nay đã tin hiểu, có thể kham phát được tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, chúng con đã vì cha làm Phật sự rồi, mong mẹ bằng lòng cho chúng con, ở nơi chỗ đức Phật kia mà xuất gia tu hành Phật đạo&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, hai người con muốn tuyên lại ý mình nói kệ thưa mẹ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mong mẹ cho các con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xuất gia làm Sa môn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Phật rất khó gặp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con theo Phật học&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa Ưu đàm bát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gặp Phật lại khó hơn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khỏi các nạn cũng khó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mong cho các con xuất gia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mẹ liền bảo con rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&amp;#34;Cho các con xuất gia, vì sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì Phật khó gặp vậy&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, hai người con thưa cha mẹ rằng: &amp;#34;Lành thay, cha mẹ! Xin liền qua đến chỗ đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật để gần gũi cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì Phật khó gặp đặng, như hoa Linh thoại, lại như rùa một mắt gặp bộng cây nổi mà chúng ta do phước đời trước sâu dày, sanh đời này gặp Phật pháp, xin cha mẹ nên cho chúng con đặng xuất gia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì các đức Phật khó gặp được, thời kỳ gặp Phật cũng khó có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, nơi hậu cung của Vua Diệu Trang Nghiêm có tám muôn bốn nghìn người thảy đều có thể kham thọ trì kinh Pháp Hoa này. Tịnh Nhãn Bồ Tát từ lâu đã thông đạt nơi &amp;#34;Pháp Hoa tam muội&amp;#34;. Tịnh Tạng Bồ Tát đã từ vô lượng trăm nghìn muôn ức kiếp thông đạt môn &amp;#34;Ly chư ác thú tam muội&amp;#34;, vì muốn làm cho tất cả chúng sanh lìa các đường dữ vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phu nhơn của vua đặng môn &amp;#34;Chư Phật Tập tam muội&amp;#34;, hay biết đặng tạng pháp bí mật của các đức Phật. Hai người con dùng sức phương tiện, khéo hóa độ vua cha như thế, khiến cho lòng cha tin hiểu ưa mến Phật Pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, vua Diệu Trang Nghiêm cùng chung với quần thần quyến thuộc, Tịnh Đức phu nhơn cùng chung với thể nữ quyến thuộc nơi hậu cung, hai người con của vua, cùng chung với bốn muôn hai nghìn người đồng một lúc đi qua chỗ Phật. Đến rồi đầu mặt lạy chân Phật, đi quanh Phật ba vòng, rồi đứng qua một phía.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, đức Phật kia vì vua nói pháp, chỉ dạy làm cho được lợi ích vui mừng, vua rất vui đẹp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, vua Diệu Trang Nghiêm cùng phu nhơn mở chuỗi chơn châu giá trị trăm nghìn đeo nơi cổ, để rải trên đức Phật, chuỗi đó ở giữa hư không hóa thành đài báu bốn trụ, trong đài có giường báu lớn trải trăm nghìn muôn thiên y, trên đó có đức Phật ngồi xếp bằng phóng hào quang sáng lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm nghĩ rằng: &amp;#34;Thân Phật tốt đẹp riêng lạ, ít có, thành tựu sắc thân vi diệu thứ nhứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật, bảo bốn chúng rằng: &amp;#34;Các người thấy vua Diệu Trang Nghiêm chắp tay đứng trước ta đó chăng? Vị vua này ở trong pháp ta làm Tỳ kheo siêng ròng tu tập các món trợ Phật đạo pháp, sẽ đặng làm Phật hiệu Ta La Thọ Vương, nước tên Đại Quang, kiếp tên Đại Cao Vương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Ta La Thọ Vương Phật có vô lượng chúng Bồ Tát và vô lượng Thanh Văn, nước đó bằng thẳng công đức như thế&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua Diệu Trang Nghiêm liền đem nước giao cho em, rồi cùng phu nhân, hai người con và các quyến thuộc, ở trong Phật pháp xuất gia tu hành đạo hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua xuất gia rồi trong tám muôn bốn nghìn năm thường siêng tinh tấn tu hành kinh Diệu Pháp Liên Hoa, qua sau lúc đây, đặng môn &amp;#34;Nhứt Thiết Tịnh Công Đức Trang Nghiêm tam muội&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền bay lên hư không cao bảy cây đa la mà bạch Phật rằng: &amp;#34;Thế Tôn! Hai người con của con đây đã làm Phật sự, dùng sức thần thông biến hóa, xoay tâm của con, làm cho con được an trụ trong Phật pháp, được thấy Thế Tôn. Hai người con này là thiện tri thức của con, vì muốn phát khởi căn lành đời trước lợi ích cho con nên đến sanh vào nhà con&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, đức Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Phật bảo vua Diệu Trang Nghiêm rằng: &amp;#34;Đúng thế! Đúng thế! Như lời ông nói, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào trồng cội lành thời đời đời đặng gặp thiện tri thức, vị thiện tri thức hay làm Phật sự, chỉ dạy cho lợi ích vui mừng, khiến vào đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương nên biết! Vị thiện tri thức đó là nhơn duyên lớn, giáo hóa dìu dắt làm cho đặng thấy Phật, phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại vương! Ông thấy hai người con này chăng? Hai người con này đã từng cúng dường sáu mươi lăm trăm nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các đức Phật, gần gũi cung kính, nơi chỗ các đức Phật thọ trì kinh Pháp Hoa, thương tưởng những chúng sanh tà kiến làm cho trụ trong chánh kiến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệu Trang Nghiêm Vương liền từ trong hư không xuống mà bạch Phật rằng: &amp;#34;Thế Tôn! Như Lai rất ít có do công đức trí huệ nên nhục kế trên đỉnh sáng suốt chói rỡ, mắt Phật dài rộng mà sắc xanh biếc, tướng lông trắng chặng mày như ngọc Kha nguyệt, răng trắng bằng và khít thường có ánh sáng, môi sắc đỏ đẹp như trái tần bà&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó vua Diệu Trang Nghiêm khen ngợi Phật có vô lượng trăm nghìn muôn ức công đức như thế rồi, ở trước Như Lai một lòng chắp tay lại bạch Phật rằng: &amp;#34;Thế Tôn! Chưa từng có vậy! Pháp của Như Lai đầy đủ trọn nên bất khả tư nghì công đức vi diệu, dạy răn chỗ tu hành an ổn rất hay. Con từ ngày nay chẳng còn lại tự theo tâm hành của mình chẳng sanh những lòng ác: kiêu mạn giận hờn tà kiến&amp;#34;. Vua thưa lời đó rồi, lạy Phật mà ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo đại chúng: &amp;#34;Ý các ông nghĩ sao? Vua Diệu Trang Nghiêm đâu phải người nào lạ, nay chính là Hoa Đức Bồ Tát. Bà Tịnh Đức phu nhân nay chính là Quang Chiếu Trang Nghiêm Tướng Bồ Tát hiện đương ở trước Phật. Hai người con vì thương xót vua Diệu Trang Nghiêm và các quyến thuộc nên sanh vào trong cung vua, nay chính là Dược Vương Bồ Tát cùng Dược Thượng Bồ Tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương và Dược Thượng Bồ Tát này thành tựu các công đức lớn như thế, đã ở chỗ vô lượng trăm nghìn muôn ức, các đức Phật trồng các cội công đức, thành tựu bất khả tư nghì những công đức lành. Nếu có người biết danh tự của hai vị Bồ Tát này thời tất cả trong đời, hàng Trời, nhân dân cũng nên lễ lạy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="10717309" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/68e40c19-3544-48bd-b0b1-60d19766fff1/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">6feb5f6f-59f9-41a2-b4c6-630567f1ee60</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/68e40c19-3544-48bd-b0b1-60d19766fff1</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 06:39:04 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/6/dafa6927-b4ca-4ea7-8d79-1764bab0cbdd_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>669</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 26</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 26</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 26 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Đà La Ni)</p><p>Phẩm 26 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, còn gọi là Phẩm Đà La Ni, nhấn mạnh vào việc các vị Bồ tát như Dược Vương, Dũng Thí, cùng các thiên vương Tỳ Sa Môn, Trì Quốc và các nữ La Sát ban chú Đà-la-ni (thần chú) để bảo hộ những người trì giữ, đọc tụng và hoằng dương Kinh Pháp Hoa. Những chú này giúp tránh khỏi các chướng ngại từ ác quỷ, ma chướng, tai ương, đồng thời nhấn mạnh công đức vô lượng của việc trì kinh, mang lại sự bảo vệ và lợi ích cho chúng sinh trong việc duy trì Chánh Pháp.</p><p>Toàn văn Phẩm 26: Đà La Ni</p><p>PHẨM &#34;ĐÀ-LA-NI&#34;</p><p>THỨ HAI MƯƠI SÁU</p><p>Lúc bấy giờ, ngài Dược-Vương Bồ-Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trệch áo bày vai hữu chấp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: &#34; Thế-Tôn! Nếu có Thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn hay thọ trì được kinh Pháp-Hoa này, hoặc đọc tụng thông lẹ, hoặc biên chép quyển kinh, được bao nhiêu phước đức?&#34;</p><p>Phật bảo ngài Dược-Vương: &#34; Nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn cúng dường tám trăm muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa các đức Phật. Ý ông nghĩ sao? Người đó được phước đức có nhiều chăng?&#34; - Thưa Thế-Tôn! Rất nhiều.</p><p>Phật nói: &#34; Nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn ở nơi kinh này có thể thọ trì nhẫn đến một bài kệ bốn câu đọc tụng giải nghĩa, đúng như lời mà tu hànhthì công đức rất nhiều&#34;.</p><p>Lúc đó, ngài Dược-Vương Bồ-Tát bạch Phật rằng: &#34; Thế-Tôn! Con nay sẽ cho người nói kinh Pháp-Hoa chú Đà-la-ni để giữ-gìn đó&#34;. Liền nói chú rằng:</p><p>&#34; An nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ, già lê đệ, xa mế, xa lý đa vĩ, chuyên đế, mục đế mục đa lý, ta lý, a vĩ ta lý, tang lý, ta lý xoa dệ, a xoa duệ, a kỳ nhị chuyên đế xa lý, đà la ni, a lư dà bà ta kî đá tỳ xoa nhị, nễ tỳ thế, a tiện đa la nễ lý thế, a đàn dá ba lệ thâu địa, âu cứu lệ, mâu cứu lệ, a la lệ, ba la lệ, thủ ca sai, a tam ma tam lý, Phật đà tỳ kiết lợi diệt đế đạt ma ba lợi sai đế, tăng già niết cù sa nễ bà xá bà xá thâu địa, mạn đá lã, mạn đá lã xoa dạ đa, bưu lâu đá, bưu lâu đá kiêu xá lược, ác xoa lã, ác xoa dã đa dã, a bà lư, a ma nhã na đa dạ&#34;.</p><p>Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này là của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa các đức Phật nói. Nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này, thì là xâm hủy các đức Phật rồi.</p><p>Lúc đó, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật khen Dược-Vương Bồ-Tát rằng: &#34; Hay thay! Hay thay! Dược-Vương! Ông thương xót muốn ủng hộ vị Pháp-sư đó, nên nói chú Đà-la-ni này, được nhiều lợi ích ở nơi các chúng sanh&#34;.</p><p>Lúc bấy giờ, ngài Dõng-Thí Bồ-Tát bạch Phật rằng: &#34; Thế-Tôn! Con cũng vì ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp-Hoa mà nói chú Đà-la-ni. Nếu vị Pháp-sư đó được chú Đà-la-ni này, hoặc Dạ-xoa, La-sát hoặc Phú-đan-na hoặc Cát-giá, hoặc Cưu-bàn-trà, hoặc Ngạ-quỷ v.v... rình tìm chỗ dở của Pháp-sư không thể được tiện lợi&#34;. Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:</p><p>&#34; Toa lệ, ma ha toa lệ, úc chỉ, mục chỉ, a lệ, a la bà đệ, niết lệ đệ, niết lệ đa bà đệ, y trí nỉ, vi trí nỉ, chỉ trí nỉ, niết lệ trì nỉ, niết lê trì bà để&#34;.</p><p>Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này của hằng-hà-sa các đức Phật nói, cũng đều tùy hỷ. Nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này thì là xâm hủy các đức Phật đó rồi.</p><p>Bấy giờ, Tỳ-sa-môn Thiên-vương, vì trời hộ đời bạch Phật rằng: &#34; Thế-Tôn! Con cũng vì thương tưởng chúng sanh ủng hộ vị Pháp-sư đó mà nói Đà-la-ni này. Liền nói chú rằng: A-lê, na-lê, nâu na lê, a na lư, na lý, câu na-lý&#34;.</p><p>Thế-Tôn! Dùng thần chú này ủng hộ Pháp-sư, con cũng tự phải ủng hộ người trì kinh này, làm cho trong khoảng trăm do tuần không có các điều tai hoạn.</p><p>Bấy giờ Trì-Quốc Thiên-Vương ở trong hội này cùng với nghìn muôn ức na-do-tha chúng Càn-thát-bà cung kính vây quanh đến trước chỗ Phật, chấp tay bạch Phật rằng: &#34; Thế-Tôn! Con cũng dùng thần chú Đà-la-ni ủng hộ người trì kinh Pháp-Hoa&#34;. Liền nói chú rằng:</p><p>&#34;A dà nễ, dà nễ, cù lợi, càn đà lợi, chiên đà lợi, ma đắng kỳ, thường cầu lợi, phù lâu sa nỉ, át để&#34;.</p><p>Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này là của bốn mươi hai ức các đức Phật nói, nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này thì là xâm hủy các đức Phật đó rồi.</p><p>Bấy giờ có những La-sát nữ: một, tên Lam-bà; hai, tên Tỳ-lam-bà; ba, tên Khúc-xỉ; bốn, tên Hoa-xỉ; năm, tên Hắc-xỉ; sáu, tên Đa-phát; bảy, tên Vô-yếm-túc; tám, tên Trì-anh-lạc; chín, tên Cao-đế; mười, tên Đoạt-nhứt-thiết chúng-sanh tinh-khí. Mười vị La-sát-nữ đó cùng với quỷ Tử-mẫu, con và quyến thuộc đều đến chỗ Phật, đồng tiếng bạch Phật rằng: &#34; Thế-Tôn! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp-Hoa, trừ sự khổ hoạn cho người đó. Nếu có kẻ rình tìm chỗ dở của Pháp-sư, thì làm cho chẳng được tiện lợi&#34;. Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:</p><p>&#34; Y đề lý, y đề dẫn, y đề lý, a đề lý, y đề lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, lâu hê, lâu hê, lâu hê, lâu hê, đa hê, đa hê, đa hê, đâu hê, nâu hê&#34;.</p><p>Thà trèo lên đầu chúng con, chớ đừng não hại Pháp-sư, hoặc Dạ-xoa, hoặc La-sát, hoặc Ngạ-quỷ hoặc Phú-đan-na, hoặc Cát-giá hoặc Tỳ-đà-la, hoặc Kiền-đà hoặc Ô-ma-lặc-đà, hoặc A-bạt-ma-la, hoặc Dạ-xoa cát-giá, hoặc Nhân-cát-giá, hoặc quỷ làm bệnh nóng, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc đến bảy ngày, hoặc làm bệnh nóng luôn, hoặc hình trai, hoặc hình gái, hoặc hình đồng-nam, hoặc hình đồng-nữ, nhẫn đến trong chiêm bao cũng lại chớ não hại&#34;.</p><p>Liền ở nơi trước Phật mà nói kệ rằng:</p><p>Nếu chẳng thuận chú ta</p><p>Não loạn người nói pháp</p><p>Đầu vỡ làm bảy phần</p><p>Như nhánh cây A-lê</p><p>Như tội giết cha mẹ</p><p>Cũng như họa ép dầu (15)</p><p>Cân lường khi dối người</p><p>Tội Điều-Đạt phá Tăng</p><p>Kẻ phạm Pháp-Sư đây</p><p>Sẽ mắc họa như thế.</p><p>Những La-sát-nữ nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: &#34; Thế-Tôn! Chúng con cũng sẽ tự mình ủng hộ người thọ trì đọc tụng tu hành kinh này, làm cho được an ổn, lìa các sự khổ hoạn, tiêu các thuốc độc&#34;.</p><p>Phật bảo các La-sát-nữ: &#34; Hay thay! Hay thay! Các người chỉ có thể ủng hộ người thọ trì tên kinh Pháp-Hoa phước chẳng thể lường được rồi, huống là ủng hộ người thọ trì toàn bộ cúng dường quyển kinh, hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, phan, lọng, kỹ nhạc, thắp các thứ đèn: Đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, đèn dầu hoa tô-na-ma, đèn dầu hoa chiêm-bặc, đèn dầu hoa bà-sư-ca, đèn dầu hoa ưu-bát-la, nghìn trăm thứ cúng dường như thế.</p><p>Cao-Đế! Các người cùng quyến thuộc phải nên ủng hộ những Pháp-sư như thế&#34;.</p><p>Lúc nói phẩm &#34; Đà-la-ni&#34; này, có sáu muôn tám nghìn người được vô-sanh pháp-nhẫn.</p><p>Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Ý nghĩa ngắn gọn của Phẩm 26 Kinh Pháp Hoa (Phẩm Đà La Ni)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm 26 của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, còn gọi là Phẩm Đà La Ni, nhấn mạnh vào việc các vị Bồ tát như Dược Vương, Dũng Thí, cùng các thiên vương Tỳ Sa Môn, Trì Quốc và các nữ La Sát ban chú Đà-la-ni (thần chú) để bảo hộ những người trì giữ, đọc tụng và hoằng dương Kinh Pháp Hoa. Những chú này giúp tránh khỏi các chướng ngại từ ác quỷ, ma chướng, tai ương, đồng thời nhấn mạnh công đức vô lượng của việc trì kinh, mang lại sự bảo vệ và lợi ích cho chúng sinh trong việc duy trì Chánh Pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 26: Đà La Ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;PHẨM &amp;#34;ĐÀ-LA-NI&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;THỨ HAI MƯƠI SÁU&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, ngài Dược-Vương Bồ-Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trệch áo bày vai hữu chấp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: &amp;#34; Thế-Tôn! Nếu có Thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn hay thọ trì được kinh Pháp-Hoa này, hoặc đọc tụng thông lẹ, hoặc biên chép quyển kinh, được bao nhiêu phước đức?&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo ngài Dược-Vương: &amp;#34; Nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn cúng dường tám trăm muôn ức na-do-tha hằng-hà-sa các đức Phật. Ý ông nghĩ sao? Người đó được phước đức có nhiều chăng?&amp;#34; - Thưa Thế-Tôn! Rất nhiều.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: &amp;#34; Nếu có thiện-nam-tử, thiện-nữ-nhơn ở nơi kinh này có thể thọ trì nhẫn đến một bài kệ bốn câu đọc tụng giải nghĩa, đúng như lời mà tu hànhthì công đức rất nhiều&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, ngài Dược-Vương Bồ-Tát bạch Phật rằng: &amp;#34; Thế-Tôn! Con nay sẽ cho người nói kinh Pháp-Hoa chú Đà-la-ni để giữ-gìn đó&amp;#34;. Liền nói chú rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&amp;#34; An nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ, già lê đệ, xa mế, xa lý đa vĩ, chuyên đế, mục đế mục đa lý, ta lý, a vĩ ta lý, tang lý, ta lý xoa dệ, a xoa duệ, a kỳ nhị chuyên đế xa lý, đà la ni, a lư dà bà ta kî đá tỳ xoa nhị, nễ tỳ thế, a tiện đa la nễ lý thế, a đàn dá ba lệ thâu địa, âu cứu lệ, mâu cứu lệ, a la lệ, ba la lệ, thủ ca sai, a tam ma tam lý, Phật đà tỳ kiết lợi diệt đế đạt ma ba lợi sai đế, tăng già niết cù sa nễ bà xá bà xá thâu địa, mạn đá lã, mạn đá lã xoa dạ đa, bưu lâu đá, bưu lâu đá kiêu xá lược, ác xoa lã, ác xoa dã đa dã, a bà lư, a ma nhã na đa dạ&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này là của sáu mươi hai ức hằng-hà-sa các đức Phật nói. Nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này, thì là xâm hủy các đức Phật rồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, đức Thích-Ca Mâu-Ni Phật khen Dược-Vương Bồ-Tát rằng: &amp;#34; Hay thay! Hay thay! Dược-Vương! Ông thương xót muốn ủng hộ vị Pháp-sư đó, nên nói chú Đà-la-ni này, được nhiều lợi ích ở nơi các chúng sanh&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, ngài Dõng-Thí Bồ-Tát bạch Phật rằng: &amp;#34; Thế-Tôn! Con cũng vì ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp-Hoa mà nói chú Đà-la-ni. Nếu vị Pháp-sư đó được chú Đà-la-ni này, hoặc Dạ-xoa, La-sát hoặc Phú-đan-na hoặc Cát-giá, hoặc Cưu-bàn-trà, hoặc Ngạ-quỷ v.v... rình tìm chỗ dở của Pháp-sư không thể được tiện lợi&amp;#34;. Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&amp;#34; Toa lệ, ma ha toa lệ, úc chỉ, mục chỉ, a lệ, a la bà đệ, niết lệ đệ, niết lệ đa bà đệ, y trí nỉ, vi trí nỉ, chỉ trí nỉ, niết lệ trì nỉ, niết lê trì bà để&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này của hằng-hà-sa các đức Phật nói, cũng đều tùy hỷ. Nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này thì là xâm hủy các đức Phật đó rồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Tỳ-sa-môn Thiên-vương, vì trời hộ đời bạch Phật rằng: &amp;#34; Thế-Tôn! Con cũng vì thương tưởng chúng sanh ủng hộ vị Pháp-sư đó mà nói Đà-la-ni này. Liền nói chú rằng: A-lê, na-lê, nâu na lê, a na lư, na lý, câu na-lý&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế-Tôn! Dùng thần chú này ủng hộ Pháp-sư, con cũng tự phải ủng hộ người trì kinh này, làm cho trong khoảng trăm do tuần không có các điều tai hoạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Trì-Quốc Thiên-Vương ở trong hội này cùng với nghìn muôn ức na-do-tha chúng Càn-thát-bà cung kính vây quanh đến trước chỗ Phật, chấp tay bạch Phật rằng: &amp;#34; Thế-Tôn! Con cũng dùng thần chú Đà-la-ni ủng hộ người trì kinh Pháp-Hoa&amp;#34;. Liền nói chú rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&amp;#34;A dà nễ, dà nễ, cù lợi, càn đà lợi, chiên đà lợi, ma đắng kỳ, thường cầu lợi, phù lâu sa nỉ, át để&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế-Tôn! Thần chú Đà-la-ni này là của bốn mươi hai ức các đức Phật nói, nếu có người xâm hủy vị Pháp-sư này thì là xâm hủy các đức Phật đó rồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ có những La-sát nữ: một, tên Lam-bà; hai, tên Tỳ-lam-bà; ba, tên Khúc-xỉ; bốn, tên Hoa-xỉ; năm, tên Hắc-xỉ; sáu, tên Đa-phát; bảy, tên Vô-yếm-túc; tám, tên Trì-anh-lạc; chín, tên Cao-đế; mười, tên Đoạt-nhứt-thiết chúng-sanh tinh-khí. Mười vị La-sát-nữ đó cùng với quỷ Tử-mẫu, con và quyến thuộc đều đến chỗ Phật, đồng tiếng bạch Phật rằng: &amp;#34; Thế-Tôn! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp-Hoa, trừ sự khổ hoạn cho người đó. Nếu có kẻ rình tìm chỗ dở của Pháp-sư, thì làm cho chẳng được tiện lợi&amp;#34;. Liền ở trước Phật mà nói chú rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&amp;#34; Y đề lý, y đề dẫn, y đề lý, a đề lý, y đề lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, lâu hê, lâu hê, lâu hê, lâu hê, đa hê, đa hê, đa hê, đâu hê, nâu hê&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thà trèo lên đầu chúng con, chớ đừng não hại Pháp-sư, hoặc Dạ-xoa, hoặc La-sát, hoặc Ngạ-quỷ hoặc Phú-đan-na, hoặc Cát-giá hoặc Tỳ-đà-la, hoặc Kiền-đà hoặc Ô-ma-lặc-đà, hoặc A-bạt-ma-la, hoặc Dạ-xoa cát-giá, hoặc Nhân-cát-giá, hoặc quỷ làm bệnh nóng, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc đến bảy ngày, hoặc làm bệnh nóng luôn, hoặc hình trai, hoặc hình gái, hoặc hình đồng-nam, hoặc hình đồng-nữ, nhẫn đến trong chiêm bao cũng lại chớ não hại&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền ở nơi trước Phật mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu chẳng thuận chú ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Não loạn người nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầu vỡ làm bảy phần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như nhánh cây A-lê&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như tội giết cha mẹ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng như họa ép dầu (15)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cân lường khi dối người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tội Điều-Đạt phá Tăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ phạm Pháp-Sư đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ mắc họa như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những La-sát-nữ nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng: &amp;#34; Thế-Tôn! Chúng con cũng sẽ tự mình ủng hộ người thọ trì đọc tụng tu hành kinh này, làm cho được an ổn, lìa các sự khổ hoạn, tiêu các thuốc độc&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo các La-sát-nữ: &amp;#34; Hay thay! Hay thay! Các người chỉ có thể ủng hộ người thọ trì tên kinh Pháp-Hoa phước chẳng thể lường được rồi, huống là ủng hộ người thọ trì toàn bộ cúng dường quyển kinh, hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, phan, lọng, kỹ nhạc, thắp các thứ đèn: Đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm, đèn dầu hoa tô-na-ma, đèn dầu hoa chiêm-bặc, đèn dầu hoa bà-sư-ca, đèn dầu hoa ưu-bát-la, nghìn trăm thứ cúng dường như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cao-Đế! Các người cùng quyến thuộc phải nên ủng hộ những Pháp-sư như thế&amp;#34;.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc nói phẩm &amp;#34; Đà-la-ni&amp;#34; này, có sáu muôn tám nghìn người được vô-sanh pháp-nhẫn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi ích của việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì niệm và phụng hành Kinh Pháp Hoa mang lại vô lượng công đức, giúp chúng sinh tích tụ căn lành, xa lìa ác đạo, được chư Phật bảo hộ, phát khởi tâm Bồ-đề, và cuối cùng đạt quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Những ai kiên trì sẽ vượt qua chướng ngại trong đời ác, nhận được sự gia trì từ oai lực của Phật, và trở thành sứ giả hoằng dương Chánh Pháp, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8121364" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/b101ef5d-1769-4b60-86d4-df0dcfe71734/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">6afc9886-3db9-43cd-ae40-258012c28af8</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/b101ef5d-1769-4b60-86d4-df0dcfe71734</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 06:33:42 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/6/cbdaccc4-5ccd-40f4-b5a7-ac5e9ed06456_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>507</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 25_Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 25_Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 25 Kinh Pháp Hoa (Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm)</p><p>Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn là phần quan trọng, mô tả công đức và thần lực của Bồ tát Quán Thế Âm, vị luôn lắng nghe tiếng kêu cứu khổ của chúng sinh, hiện thân đa dạng để cứu độ. Phẩm này nhấn mạnh lòng từ bi vô hạn, khả năng ứng hiện tự tại để giải trừ tai nạn, bệnh tật, ác duyên, giúp chúng sinh thoát khổ, đạt an lạc và giác ngộ. Nó khuyến khích niệm danh hiệu Quán Thế Âm để được hộ trì, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp môn phổ độ, mang lại phước lành và trí huệ.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 25: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm</p><p>Lúc bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Vị Quán Thế Âm Bồ tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?</p><p><br></p><p>Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát:</p><p><br></p><p>Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát.</p><p>Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng đốt được, vì sức oai thần của Bồ tát đó được vậy.</p><p>Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu đó liền được đến chỗ cạn.</p><p>Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, san hô, hổ phách, trân châu các báu vào biển lớn, giả sử gió bão thổi thuyền bè của kia trôi tắp cõi la sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời đều được thoát khỏi nạn la sát. Do nhân duyên đó mà tên Quán Thế Âm.</p><p>Nếu lại có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời dao gậy của kẻ kia liền gãy từng khúc, mà được thoát khỏi.</p><p>Nếu có đại thiên quốc độ đầy dẫy oán tặc, có thương nhân lãnh đạo nhiều thương nhân mang các vật trân bảo, trải qua nơi hiểm đạo, trong đó có một người xướng rằng: &#34;Các thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát. Vị Bồ tát đó hay đem pháp vô úy thí cho chúng sanh. Các ông nếu xưng danh hiệu thời sẽ được thoát khỏi oán tặc này.&#34; Các thương nhân nghe rồi đều chung tiếng xưng rằng: &#34;Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.&#34; Vì xưng danh hiệu nên liền được thoát khỏi.</p><p>Vô Tận Ý! Sức oai thần của Quán Thế Âm Bồ tát Ma ha tát lớn như thế đó.</p><p>Nếu có chúng sanh nhiều tham dục thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát liền được ly tham.</p><p>Nếu nhiều sân nhuế thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát liền được ly sân.</p><p>Nếu nhiều ngu si thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát liền được ly si.</p><p>Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường nên một lòng niệm.</p><p>Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát liền sanh con trai phước đức trí huệ. Giả sử muốn cầu con gái liền sanh con gái dung mạo đoan chánh, đời trước trồng căn lành, mọi người đều kính mến.</p><p>Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế. Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều nên thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát.</p><p>Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh hiệu sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ tát, lại trọn đời cúng dường đồ uống ăn, y phục, giường nằm, thuốc men, thời ông nghĩ sao? Công đức người đó có nhiều chăng?</p><p><br></p><p>Vô Tận Ý thưa:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Rất nhiều.</p><p><br></p><p>Phật nói:</p><p><br></p><p>Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phước hai người đó đồng nhau không khác, ở trong trăm nghìn muôn ức kiếp chẳng hết được.</p><p>Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế.</p><p><br></p><p>Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ tát dạo ở cõi Ta Bà này thế nào? Dùng cách nào nói kinh điển này? Sức phương tiện của vị đó thế nào?</p><p><br></p><p>Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát:</p><p><br></p><p>Thiện nam tử! Nếu có cõi nước nào nên dùng thân Phật được độ thoát thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Bích chi Phật được độ thoát liền hiện thân Bích chi Phật mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Thanh văn được độ thoát liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Phạm vương được độ thoát liền hiện thân Phạm vương mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Đế Thích được độ thoát liền hiện thân Đế Thích mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Tự Tại Thiên được độ thoát liền hiện thân Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Đại Tự Tại Thiên được độ thoát liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Thiên Đại Tướng Quân được độ thoát liền hiện thân Thiên Đại Tướng Quân mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Tỳ Sa Môn được độ thoát liền hiện thân Tỳ Sa Môn mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân tiểu vương được độ thoát liền hiện thân tiểu vương mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân trưởng giả được độ thoát liền hiện thân trưởng giả mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân cư sĩ được độ thoát liền hiện thân cư sĩ mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân tể quan được độ thoát liền hiện thân tể quan mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Bà la môn được độ thoát liền hiện thân Bà la môn mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di được độ thoát liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân nữ trưởng giả, cư sĩ, tể quan, Bà la môn được độ thoát liền hiện thân nữ mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân đồng nam, đồng nữ được độ thoát liền hiện thân đồng nam, đồng nữ mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn v.v... được độ thoát liền hiện thân đó mà vì đó nói pháp.</p><p>Nên dùng thân chấp kim cang thần được độ thoát liền hiện thân chấp kim cang thần mà vì đó nói pháp.</p><p>Vô Tận Ý! Vị Quán Thế Âm Bồ tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình dạo các cõi nước độ thoát chúng sanh. Cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát. Vị Quán Thế Âm Bồ tát đó ở trong chốn khổ não kinh sợ hay ban sự vô úy. Vì vậy cõi Ta Bà này đều gọi đó là vị Thi Vô Úy.</p><p><br></p><p>Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Nay con vì cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát, xin dâng chuỗi anh lạc bách thiên kim.</p><p><br></p><p>Tức thời cởi chuỗi anh lạc giá trị trăm nghìn lạng vàng dâng Quán Thế Âm Bồ tát mà nói rằng:</p><p><br></p><p>Nhân giả! Thọ chuỗi pháp thí trân bảo này.</p><p><br></p><p>Khi ấy Quán Thế Âm Bồ tát chẳng khứng thọ. Vô Tận Ý lại bạch Quán Thế Âm Bồ tát rằng:</p><p><br></p><p>Nhân giả! Thương chúng con mà thọ chuỗi này.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ tát:</p><p><br></p><p>Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ tát này và hàng tứ chúng, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn v.v... mà thọ chuỗi này.</p><p><br></p><p>Tức thời Quán Thế Âm Bồ tát thương hàng tứ chúng và thiên long bát bộ, nhơn cùng phi nhơn v.v... mà thọ chuỗi đó, chia làm hai phần: một phần dâng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa Bảo.</p><p><br></p><p>Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần thông tự tại như thế dạo ở cõi Ta Bà.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ tát dùng kệ hỏi rằng:</p><p>Thế Tôn đủ diệu tướng</p><p>Con nay lại hỏi đó</p><p>Phật tử do nhân gì</p><p>Tên là Quán Thế Âm?</p><p>Đấng đủ diệu tướng tôn</p><p>Dùng kệ đáp rằng:</p><p>Ông nghe hạnh Quán Âm</p><p>Khéo ứng các nơi chỗ</p><p>Thệ sâu như biển lớn</p><p>Trải kiếp bất tư nghì</p><p>Thường nói pháp thanh tịnh</p><p>Cho vô lượng vô biên</p><p>Trăm nghìn muôn ức Phật</p><p>Phát ý lớn thanh tịnh</p><p>Ta vì ông lược nói</p><p>Nghe tên cùng thấy thân</p><p>Lòng niệm chẳng luống qua</p><p>Hay diệt các hữu khổ</p><p>Giả sử khởi hại tâm</p><p>Xô trong hố lửa lớn</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Lửa hố biến thành ao</p><p>Hoặc trôi nổi biển lớn</p><p>Rồng cá các quỷ dữ</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Sóng chẳng thể nhận chìm</p><p>Hoặc ở Tu Di đỉnh</p><p>Bị người xô lăn xuống</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Như mặt trời hư không</p><p>Hoặc bị ác nhân đuổi</p><p>Rơi nơi núi Kim Cang</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Chẳng tổn một chơn lông</p><p>Hoặc oán tặc vây quanh</p><p>Đều cầm dao lăm le</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Thảy đều sanh từ tâm</p><p>Hoặc khổ nơi vương nạn</p><p>Hình mạng sắp chấm dứt</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Dao liền gãy từng khúc</p><p>Hoặc bị tù gông xiềng</p><p>Tay chân bị thương tổn</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Thảy đều được giải thoát</p><p>Nếu bị lời nguyền rủa</p><p>Các độc muốn hại thân</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Trở hại nơi bổn nhơn</p><p>Hoặc gặp nạn la sát</p><p>Độc long các quỷ đẳng</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Thảy đều chẳng dám hại</p><p>Nếu ác thú vây quanh</p><p>Nanh vuốt nhọn đáng sợ</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Chạy mau không kịp hại</p><p>Rắn độc cùng bò cạp</p><p>Hơi độc khói lửa đốt</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Theo tiếng thảy tự lui</p><p>Mây sấm vang sét đánh</p><p>Mưa lớn trút nước to</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Thảy tiêu tan hết sạch</p><p>Chúng sanh bị khổ bức</p><p>Vô lượng khổ ép thân</p><p>Quán Âm sức trí diệu</p><p>Hay cứu khổ thế gian</p><p>Đầy đủ sức thần thông</p><p>Rộng tu trí phương tiện</p><p>Mười phương các cõi nước</p><p>Chẳng cõi nào không hiện</p><p>Các ác thú địa ngục</p><p>Quỷ đói việc sanh tử</p><p>Dần dần các khổ đó</p><p>Quán Âm đều cứu được</p><p>Chân quán thanh tịnh quán</p><p>Trí huệ rộng quán sát</p><p>Từ quán cùng bi quán</p><p>Thường nguyện thường chiêm ngưỡng</p><p>Tịnh quang không cấu nhiễm</p><p>Nhật huệ phá các tối</p><p>Phục nạn diệt hỏa tai</p><p>Chiếu thế như mặt trời</p><p>Bi thể chấn ác sự</p><p>Từ âm diệu đại lôi</p><p>Từ vân rưới cam lồ</p><p>Diệt trừ焰 phiền não</p><p>Tranh tụng qua chỗ quan</p><p>Sợ hãi nơi trận chiến</p><p>Niệm sức Quán Âm đó</p><p>Chúng oán thảy tan chạy</p><p>Diệu âm quán thế âm</p><p>Phạm âm hải triều âm</p><p>Hơn âm thanh thế gian</p><p>Vì vậy nên thường niệm</p><p>Niệm niệm chớ sanh nghi</p><p>Quán Âm tịnh thánh tôn</p><p>Nơi khổ não tử ương</p><p>Hay vì làm chỗ tựa</p><p>Đầy đủ các công đức</p><p>Mắt từ xem chúng sanh</p><p>Phước tụ biển vô lượng</p><p>Vì vậy nên lễ bái.</p><p>Bấy giờ, Ngài Trì Địa Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật bạch rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ tát phổ môn, sự tự tại của thần thông lực, nên biết người đó công đức chẳng ít.</p><p><br></p><p>Khi Phật nói phẩm Phổ Môn này rồi, trong hội có tám muôn bốn nghìn chúng sanh đều phát tâm Vô đẳng đẳng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 25 Kinh Pháp Hoa (Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn là phần quan trọng, mô tả công đức và thần lực của Bồ tát Quán Thế Âm, vị luôn lắng nghe tiếng kêu cứu khổ của chúng sinh, hiện thân đa dạng để cứu độ. Phẩm này nhấn mạnh lòng từ bi vô hạn, khả năng ứng hiện tự tại để giải trừ tai nạn, bệnh tật, ác duyên, giúp chúng sinh thoát khổ, đạt an lạc và giác ngộ. Nó khuyến khích niệm danh hiệu Quán Thế Âm để được hộ trì, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp môn phổ độ, mang lại phước lành và trí huệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 25: Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai hữu, chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Vị Quán Thế Âm Bồ tát do nhân duyên gì mà tên là Quán Thế Âm?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm nghìn muôn ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe Quán Thế Âm Bồ tát này một lòng xưng danh. Quán Thế Âm Bồ tát tức thời xem xét tiếng tăm kia, đều được giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, dầu vào trong lửa lớn, lửa chẳng đốt được, vì sức oai thần của Bồ tát đó được vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu đó liền được đến chỗ cạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có trăm nghìn muôn ức chúng sanh vì tìm vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, san hô, hổ phách, trân châu các báu vào biển lớn, giả sử gió bão thổi thuyền bè của kia trôi tắp cõi la sát, trong ấy nếu có nhẫn đến một người xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời đều được thoát khỏi nạn la sát. Do nhân duyên đó mà tên Quán Thế Âm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại có người sắp bị hại, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, thời dao gậy của kẻ kia liền gãy từng khúc, mà được thoát khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có đại thiên quốc độ đầy dẫy oán tặc, có thương nhân lãnh đạo nhiều thương nhân mang các vật trân bảo, trải qua nơi hiểm đạo, trong đó có một người xướng rằng: &amp;#34;Các thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát. Vị Bồ tát đó hay đem pháp vô úy thí cho chúng sanh. Các ông nếu xưng danh hiệu thời sẽ được thoát khỏi oán tặc này.&amp;#34; Các thương nhân nghe rồi đều chung tiếng xưng rằng: &amp;#34;Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát.&amp;#34; Vì xưng danh hiệu nên liền được thoát khỏi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý! Sức oai thần của Quán Thế Âm Bồ tát Ma ha tát lớn như thế đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có chúng sanh nhiều tham dục thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát liền được ly tham.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nhiều sân nhuế thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát liền được ly sân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nhiều ngu si thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát liền được ly si.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có những sức oai thần lớn, nhiều lợi ích như thế, cho nên chúng sanh thường nên một lòng niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát liền sanh con trai phước đức trí huệ. Giả sử muốn cầu con gái liền sanh con gái dung mạo đoan chánh, đời trước trồng căn lành, mọi người đều kính mến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần như thế. Nếu có chúng sanh cung kính lễ lạy Quán Thế Âm Bồ tát, phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh đều nên thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh hiệu sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ tát, lại trọn đời cúng dường đồ uống ăn, y phục, giường nằm, thuốc men, thời ông nghĩ sao? Công đức người đó có nhiều chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý thưa:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Rất nhiều.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, nhẫn đến một thời lễ lạy cúng dường, thời phước hai người đó đồng nhau không khác, ở trong trăm nghìn muôn ức kiếp chẳng hết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ tát dạo ở cõi Ta Bà này thế nào? Dùng cách nào nói kinh điển này? Sức phương tiện của vị đó thế nào?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Vô Tận Ý Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện nam tử! Nếu có cõi nước nào nên dùng thân Phật được độ thoát thời Quán Thế Âm Bồ tát liền hiện thân Phật mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Bích chi Phật được độ thoát liền hiện thân Bích chi Phật mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Thanh văn được độ thoát liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Phạm vương được độ thoát liền hiện thân Phạm vương mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Đế Thích được độ thoát liền hiện thân Đế Thích mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Tự Tại Thiên được độ thoát liền hiện thân Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Đại Tự Tại Thiên được độ thoát liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Thiên Đại Tướng Quân được độ thoát liền hiện thân Thiên Đại Tướng Quân mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Tỳ Sa Môn được độ thoát liền hiện thân Tỳ Sa Môn mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân tiểu vương được độ thoát liền hiện thân tiểu vương mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân trưởng giả được độ thoát liền hiện thân trưởng giả mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân cư sĩ được độ thoát liền hiện thân cư sĩ mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân tể quan được độ thoát liền hiện thân tể quan mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Bà la môn được độ thoát liền hiện thân Bà la môn mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di được độ thoát liền hiện thân Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân nữ trưởng giả, cư sĩ, tể quan, Bà la môn được độ thoát liền hiện thân nữ mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân đồng nam, đồng nữ được độ thoát liền hiện thân đồng nam, đồng nữ mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn v.v... được độ thoát liền hiện thân đó mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dùng thân chấp kim cang thần được độ thoát liền hiện thân chấp kim cang thần mà vì đó nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý! Vị Quán Thế Âm Bồ tát đó thành tựu công đức như thế, dùng các thân hình dạo các cõi nước độ thoát chúng sanh. Cho nên các ông phải một lòng cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát. Vị Quán Thế Âm Bồ tát đó ở trong chốn khổ não kinh sợ hay ban sự vô úy. Vì vậy cõi Ta Bà này đều gọi đó là vị Thi Vô Úy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Vô Tận Ý Bồ tát bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Nay con vì cúng dường Quán Thế Âm Bồ tát, xin dâng chuỗi anh lạc bách thiên kim.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức thời cởi chuỗi anh lạc giá trị trăm nghìn lạng vàng dâng Quán Thế Âm Bồ tát mà nói rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân giả! Thọ chuỗi pháp thí trân bảo này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Quán Thế Âm Bồ tát chẳng khứng thọ. Vô Tận Ý lại bạch Quán Thế Âm Bồ tát rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân giả! Thương chúng con mà thọ chuỗi này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nên thương Vô Tận Ý Bồ tát này và hàng tứ chúng, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn v.v... mà thọ chuỗi này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức thời Quán Thế Âm Bồ tát thương hàng tứ chúng và thiên long bát bộ, nhơn cùng phi nhơn v.v... mà thọ chuỗi đó, chia làm hai phần: một phần dâng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, một phần dâng tháp của Phật Đa Bảo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ tát có sức thần thông tự tại như thế dạo ở cõi Ta Bà.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Vô Tận Ý Bồ tát dùng kệ hỏi rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn đủ diệu tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nay lại hỏi đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tử do nhân gì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tên là Quán Thế Âm?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đấng đủ diệu tướng tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng kệ đáp rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nghe hạnh Quán Âm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo ứng các nơi chỗ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thệ sâu như biển lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải kiếp bất tư nghì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nói pháp thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho vô lượng vô biên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trăm nghìn muôn ức Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phát ý lớn thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta vì ông lược nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe tên cùng thấy thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng niệm chẳng luống qua&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay diệt các hữu khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả sử khởi hại tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xô trong hố lửa lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lửa hố biến thành ao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc trôi nổi biển lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồng cá các quỷ dữ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sóng chẳng thể nhận chìm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ở Tu Di đỉnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị người xô lăn xuống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như mặt trời hư không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc bị ác nhân đuổi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rơi nơi núi Kim Cang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng tổn một chơn lông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc oán tặc vây quanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều cầm dao lăm le&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều sanh từ tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khổ nơi vương nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hình mạng sắp chấm dứt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dao liền gãy từng khúc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc bị tù gông xiềng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tay chân bị thương tổn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều được giải thoát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu bị lời nguyền rủa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các độc muốn hại thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trở hại nơi bổn nhơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc gặp nạn la sát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độc long các quỷ đẳng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều chẳng dám hại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ác thú vây quanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nanh vuốt nhọn đáng sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chạy mau không kịp hại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rắn độc cùng bò cạp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hơi độc khói lửa đốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo tiếng thảy tự lui&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mây sấm vang sét đánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mưa lớn trút nước to&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy tiêu tan hết sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh bị khổ bức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng khổ ép thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán Âm sức trí diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay cứu khổ thế gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ sức thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng tu trí phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười phương các cõi nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng cõi nào không hiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ác thú địa ngục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỷ đói việc sanh tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dần dần các khổ đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán Âm đều cứu được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chân quán thanh tịnh quán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ rộng quán sát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ quán cùng bi quán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nguyện thường chiêm ngưỡng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tịnh quang không cấu nhiễm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhật huệ phá các tối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phục nạn diệt hỏa tai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chiếu thế như mặt trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bi thể chấn ác sự&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ âm diệu đại lôi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ vân rưới cam lồ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệt trừ焰 phiền não&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tranh tụng qua chỗ quan&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sợ hãi nơi trận chiến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm sức Quán Âm đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng oán thảy tan chạy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệu âm quán thế âm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phạm âm hải triều âm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hơn âm thanh thế gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì vậy nên thường niệm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm niệm chớ sanh nghi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán Âm tịnh thánh tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nơi khổ não tử ương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay vì làm chỗ tựa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ các công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mắt từ xem chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phước tụ biển vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì vậy nên lễ bái.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Trì Địa Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật bạch rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sanh nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ tát phổ môn, sự tự tại của thần thông lực, nên biết người đó công đức chẳng ít.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi Phật nói phẩm Phổ Môn này rồi, trong hội có tám muôn bốn nghìn chúng sanh đều phát tâm Vô đẳng đẳng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="12849319" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/083abd91-f9c6-4c1d-95f9-dcd37eccd8c3/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">4f043ece-3613-4de7-89d4-7d57de7d4aa4</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/083abd91-f9c6-4c1d-95f9-dcd37eccd8c3</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 06:27:42 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/6/e22a2d81-dad3-432a-a3a7-aaade1d6c125_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>803</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 24_Diệu Âm Bồ Tát</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 24_Diệu Âm Bồ Tát</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 24 Kinh Pháp Hoa (Diệu Âm Bồ Tát Phẩm)</p><p>Phẩm Diệu Âm Bồ Tát kể về vị Bồ tát từ cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm đến cõi Ta Bà để cúng dường Phật Thích Ca và nghe Kinh Pháp Hoa, thể hiện sức thần thông biến hóa tự tại, phóng quang minh chiếu soi chúng hội. Phẩm này nhấn mạnh công đức vô lượng của việc nghe, trì tụng kinh, giúp chúng sinh tăng trưởng thiện căn, vượt qua chướng ngại, và thành tựu đạo Bồ đề, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp âm diệu妙, mang lại lợi ích cho tất cả loài.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 24: Diệu Âm Bồ Tát</p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ tát Ma ha tát:</p><p><br></p><p>Văn Thù Sư Lợi! Ở cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm có Phật hiệu Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai, vị Bồ tát Diệu Âm thường cúng dường gần gũi. Văn Thù Sư Lợi! Vị Diệu Âm Bồ tát Ma ha tát đó ở chỗ Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí, cùng tám muôn bốn nghìn Bồ tát đều được tam muội Hiện nhứt thiết sắc thân, thường du hành các nước để lợi ích chúng sanh. Nay đến cõi Ta Bà này để cúng dường gần gũi ta, cùng cúng dường nghe kinh Pháp Hoa.</p><p><br></p><p>Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Vị Bồ tát đó trồng căn lành gì, tu công đức gì mà được sức thần thông lớn như thế?</p><p><br></p><p>Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:</p><p><br></p><p>Về đời quá khứ xa xưa vô lượng bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp có Phật hiệu Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai, cõi nước tên Hiện Nhứt Thiết Thế Gian Quang, kiếp tên Khả Ý. Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí ở đời chín mươi lăm nghìn năm vì hàng nhân thiên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Thời đó có vị vương tên Vân Lôi Âm Bích Xoa Tú Vương Hoa, vương hậu tên Tịnh Đức, hai con trai: một tên Diệu Âm, hai tên Dược Vương. Hai vị vương tử đó có đại thần thông phúc đức lực, tu các hạnh lành, đầy đủ các Ba la mật. Hai vị vương tử thương cha mẹ bị ngoại đạo mê hoặc, xin xuất gia, được vương cho phép.</p><p>Hai vị dùng thần thông hiện các biến hóa để khai hóa phụ vương, khiến phát tâm Bồ đề. Vương cùng quyến thuộc xuất gia, Phật thọ ký cho vương đời vị lai thành Phật hiệu Tịnh Hoa Tú Vương Trí. Hai vị vương tử: Diệu Âm nay chính là Diệu Âm Bồ tát, Dược Vương nay chính là Dược Vương Bồ tát.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Diệu Âm Bồ tát từ cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm đến, hiện tám muôn bốn nghìn thân sen báu, đến núi Kỳ Xà Quật, cùng tám muôn bốn nghìn Bồ tát quyến thuộc vây quanh, đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, dâng chuỗi anh lạc trăm nghìn giá trị để cúng dường.</p><p>Bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi thấy Diệu Âm Bồ tát liền hỏi:</p><p><br></p><p>Ông đến đây làm gì?</p><p><br></p><p>Diệu Âm đáp:</p><p><br></p><p>Tôi đến để cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và nghe kinh Pháp Hoa.</p><p><br></p><p>Ngài Văn Thù nói:</p><p><br></p><p>Kinh này sâu xa vi diệu, là tạng bí mật của chư Phật, trong đời ít có. Ông có thể tin hành chăng?</p><p><br></p><p>Diệu Âm nói:</p><p><br></p><p>Thưa Pháp Vương Tử! Tôi tự có sức thần thông tam muội, có thể biến hóa đến đây để cúng dường Phật và kinh Pháp Hoa.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Diệu Âm Bồ tát nhập tam muội Hiện nhứt thiết sắc thân, từ đỉnh đầu phóng tám mươi bốn nghìn quang minh, trong quang minh hiện vô lượng Bồ tát chúng, mưa các hoa báu, tấu kỹ nhạc trời, đi nhiễu Phật bảy vòng, rồi biến mất trở về cõi nước mình.</p><p>Đến cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm, Diệu Âm kể lại việc cho Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí nghe. Phật Tịnh Hoa khen ngợi và nói Diệu Âm đã trồng căn lành sâu dày.</p><p>Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Tú Vương Hoa:</p><p><br></p><p>Diệu Âm Bồ tát trồng căn lành ở vô lượng trăm nghìn muôn ức chư Phật, hay hiện các thứ thân để độ chúng sanh.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Phật nói kệ tán thán công đức Diệu Âm Bồ tát.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 24 Kinh Pháp Hoa (Diệu Âm Bồ Tát Phẩm)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Diệu Âm Bồ Tát kể về vị Bồ tát từ cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm đến cõi Ta Bà để cúng dường Phật Thích Ca và nghe Kinh Pháp Hoa, thể hiện sức thần thông biến hóa tự tại, phóng quang minh chiếu soi chúng hội. Phẩm này nhấn mạnh công đức vô lượng của việc nghe, trì tụng kinh, giúp chúng sinh tăng trưởng thiện căn, vượt qua chướng ngại, và thành tựu đạo Bồ đề, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp âm diệu妙, mang lại lợi ích cho tất cả loài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 24: Diệu Âm Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử Bồ tát Ma ha tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Ở cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm có Phật hiệu Tịnh Hoa Tú Vương Trí Như Lai, vị Bồ tát Diệu Âm thường cúng dường gần gũi. Văn Thù Sư Lợi! Vị Diệu Âm Bồ tát Ma ha tát đó ở chỗ Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí, cùng tám muôn bốn nghìn Bồ tát đều được tam muội Hiện nhứt thiết sắc thân, thường du hành các nước để lợi ích chúng sanh. Nay đến cõi Ta Bà này để cúng dường gần gũi ta, cùng cúng dường nghe kinh Pháp Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù Sư Lợi bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Vị Bồ tát đó trồng căn lành gì, tu công đức gì mà được sức thần thông lớn như thế?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Văn Thù Sư Lợi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Về đời quá khứ xa xưa vô lượng bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp có Phật hiệu Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí Như Lai, cõi nước tên Hiện Nhứt Thiết Thế Gian Quang, kiếp tên Khả Ý. Phật Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí ở đời chín mươi lăm nghìn năm vì hàng nhân thiên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Thời đó có vị vương tên Vân Lôi Âm Bích Xoa Tú Vương Hoa, vương hậu tên Tịnh Đức, hai con trai: một tên Diệu Âm, hai tên Dược Vương. Hai vị vương tử đó có đại thần thông phúc đức lực, tu các hạnh lành, đầy đủ các Ba la mật. Hai vị vương tử thương cha mẹ bị ngoại đạo mê hoặc, xin xuất gia, được vương cho phép.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai vị dùng thần thông hiện các biến hóa để khai hóa phụ vương, khiến phát tâm Bồ đề. Vương cùng quyến thuộc xuất gia, Phật thọ ký cho vương đời vị lai thành Phật hiệu Tịnh Hoa Tú Vương Trí. Hai vị vương tử: Diệu Âm nay chính là Diệu Âm Bồ tát, Dược Vương nay chính là Dược Vương Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Diệu Âm Bồ tát từ cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm đến, hiện tám muôn bốn nghìn thân sen báu, đến núi Kỳ Xà Quật, cùng tám muôn bốn nghìn Bồ tát quyến thuộc vây quanh, đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, dâng chuỗi anh lạc trăm nghìn giá trị để cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi thấy Diệu Âm Bồ tát liền hỏi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông đến đây làm gì?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệu Âm đáp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi đến để cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và nghe kinh Pháp Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này sâu xa vi diệu, là tạng bí mật của chư Phật, trong đời ít có. Ông có thể tin hành chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệu Âm nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Pháp Vương Tử! Tôi tự có sức thần thông tam muội, có thể biến hóa đến đây để cúng dường Phật và kinh Pháp Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Diệu Âm Bồ tát nhập tam muội Hiện nhứt thiết sắc thân, từ đỉnh đầu phóng tám mươi bốn nghìn quang minh, trong quang minh hiện vô lượng Bồ tát chúng, mưa các hoa báu, tấu kỹ nhạc trời, đi nhiễu Phật bảy vòng, rồi biến mất trở về cõi nước mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm, Diệu Âm kể lại việc cho Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí nghe. Phật Tịnh Hoa khen ngợi và nói Diệu Âm đã trồng căn lành sâu dày.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Tú Vương Hoa:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệu Âm Bồ tát trồng căn lành ở vô lượng trăm nghìn muôn ức chư Phật, hay hiện các thứ thân để độ chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật nói kệ tán thán công đức Diệu Âm Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="4397348" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/cf46a9bd-ad9a-45ea-a7e7-6a0a75711bae/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">2e6a771f-5704-4d2a-8ef1-6fb216184eeb</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/cf46a9bd-ad9a-45ea-a7e7-6a0a75711bae</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 06:16:46 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/6/e3fe2cd3-9c93-4133-9541-57bb2d4f0d22_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>274</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 23_Dược Sư Vương Bồ Tát</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 23_Dược Sư Vương Bồ Tát</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 23 Kinh Pháp Hoa (Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự)</p><p>Phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự kể về bổn sự (chuyện xưa) của Dược Vương Bồ tát, vị đã đốt thân cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và Kinh Pháp Hoa, thể hiện hạnh bố thí ba la mật tối thượng. Phật dạy rằng công đức từ việc thọ trì, đọc tụng Kinh Pháp Hoa vượt xa các hình thức cúng dường thân mạng hay vật chất khác, giúp tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, và thành tựu Phật quả. Phẩm này nhấn mạnh sức mạnh của kinh trong việc chuyển hóa khổ đau, khuyến khích niềm tin và thực hành để phổ độ chúng sinh.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 23: Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự</p><p>Bấy giờ, Ngài Tú Vương Hoa Bồ tát bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Dược Vương Bồ tát vân hà du hành ở cõi Ta Bà? Thế Tôn! Vị Dược Vương Bồ tát này có bao nhiêu nghìn muôn ức na do tha khổ hạnh khó làm? Lành thay Thế Tôn! Cúi mong lược nói. Các vị trời, rồng, thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn, và các vị Bồ tát từ cõi khác đến, cùng các hàng Thanh văn nghe sẽ hoan hỷ.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo Tú Vương Hoa Bồ tát:</p><p><br></p><p>Thuở quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp về trước có Phật hiệu Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Phật đó có tám mươi ức Đại Bồ tát Ma ha tát và bảy mươi hai hằng hà sa đại Thanh văn chúng. Phật thọ mạng bốn muôn hai nghìn kiếp, Bồ tát thọ mạng cũng đồng. Cõi nước đó không có người nữ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la cùng các nạn khổ, đất bằng như lòng bàn tay, dùng lưu ly làm, cây báu trang nghiêm, màn báu trùm trên, rũ các phan hoa báu, lọ hương báu khắp ở trong nước, bảy báu làm đài, cây báu cách đài không xa, các cây báu đó đều có Bồ tát và Thanh văn ngồi dưới. Trên mỗi cây báu có trăm ức chư thiên tấu nhạc trời, ca ngợi Phật để cúng dường.</p><p>Lúc bấy giờ, Phật đó vì Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát cùng các Bồ tát chúng và Thanh văn chúng mà nói kinh Pháp Hoa. Vị Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát ưa hành khổ hạnh, ở trong pháp của Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật siêng năng tinh tấn kinh hành, một lòng cầu Phật, đầy đủ mười hai năm được Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội. Được tam muội này rồi, lòng rất vui mừng liền nghĩ rằng: &#34;Ta được Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội này đều là nhờ sức kinh Pháp Hoa. Ta nay phải cúng dường Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật và kinh Pháp Hoa.&#34;</p><p>Tức thời nhập tam muội đó, ở giữa hư không mưa hoa mạn đà la, ma ha mạn đà la, hoa mịn chiên đàn, ma ha chiên đàn để cúng dường, cũng mưa hương hải vân tập chiên đàn, ma ha hải vân tập chiên đàn, giá trị đầy trăm tiểu thế giới. Mưa các thứ hương như thế để cúng dường Phật và Bồ tát cùng Thanh văn chúng. Cúng dường rồi, từ tam muội dậy mà tự nghĩ: &#34;Ta tuy dùng sức thần thông cúng dường Phật, chẳng bằng dùng thân cúng dường.&#34; Liền uống các thứ hương chiên đàn, hải vân tập chiên đàn, tu lưu hương, quất câu lô hương, phấn hương, chiên đàn hương, trầm thủy hương, kiết nhược hương, đầy đủ mười hai năm rồi, sau dùng lửa đốt thân mà cúng dường Phật.</p><p>Đốt rồi, trải qua tám trăm kiếp, dùng cánh tay đó cúng dường chư Phật, cũng cúng dường người thọ trì kinh Pháp Hoa, khiến được an trụ nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.</p><p>Tú Vương Hoa! Nếu có người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hay đốt một ngón tay hay một ngón chân cúng dường Phật tháp, người đó hơn người cúng dường quốc thành vợ con, trân bảo cùng núi sông rừng đất. Nếu lại có người dùng bảy báu đầy tam thiên đại thiên thế giới để cúng dường Phật và Đại Bồ tát, Bích chi Phật, A la hán, công đức người đó được nhiều, chẳng bằng người thọ trì kinh Pháp Hoa này, nhẫn đến một bài kệ bốn câu, công đức tối thượng.</p><p>Tú Vương Hoa! Ví như trong các sông ngòi là biển lớn làm vua, trong các sao là mặt trăng làm vua, trong các chúng trời là Đế Thích làm vua, trong nhân dân là Chuyển luân vương làm vua, trong các pháp là kinh Pháp Hoa làm vua. Vì kinh này là chỗ tu hành của Đại thừa Bồ tát đạo, Bồ tát vì kinh này mà được ra khỏi sanh lão bệnh tử, các khổ não. Vì vậy kinh Pháp Hoa được tôn trọng nhất trong các kinh.</p><p>Người hay thọ trì thời thường được thấy Phật, là con của Phật. Nếu có người thọ trì kinh Pháp Hoa, người đó là tay phải của Phật, là sứ giả của Phật, là người mặc áo Như Lai, là sứ giả của Như Lai.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Người này ưa khổ hạnh</p><p>Đầy đủ mười hai năm</p><p>Uống các thứ hương thơm</p><p>Sau đốt thân cúng Phật</p><p>Vì cầu trí huệ Phật</p><p>Nên đốt thân như thế</p><p>Trước các Phật nói rằng</p><p>Con nay đốt thân này</p><p>Nếu là pháp thật vậy</p><p>Nguyện hiện thân kim sắc</p><p>Sau khi nói lời rồi</p><p>Tức được thân kim sắc</p><p>Tướng tốt đẹp trang nghiêm</p><p>Tóc xoắn ốc ánh xanh</p><p>Mắt dài rộng sáng sạch</p><p>Lông trắng giữa chặn mày</p><p>Âm vật tròn đầy đủ</p><p>Răng trắng khít thứ lớp</p><p>Môi đỏ như trái đam</p><p>Sau đốt thân như thế</p><p>Trải tám trăm kiếp số</p><p>Thường dùng cánh tay đó</p><p>Cúng dường các Phật thảy</p><p>Cũng cúng dường thọ trì</p><p>Kinh Pháp Hoa người vậy</p><p>Khiến được an trụ nơi</p><p>Vô thượng Bồ đề đạo</p><p>Tú Vương Hoa nên biết</p><p>Công đức người như thế</p><p>Hơn người cúng dường quốc</p><p>Thành vợ con trân bảo</p><p>Núi sông và rừng đất</p><p>Nếu sau khi ta diệt</p><p>Thọ trì kinh Pháp Hoa</p><p>Nhẫn đến một kệ nhỏ</p><p>Công đức vô lượng vậy</p><p>Huống người hay thọ trì</p><p>Cúng dường các thứ vật</p><p>Dược Vương nay ta nói</p><p>Trong các kinh ta nói</p><p>Kinh Pháp Hoa tối thượng</p><p>Nếu có người thọ trì</p><p>Thường được thấy chư Phật</p><p>Là Phật tử Phật sanh</p><p>Hay vì chúng sanh nói</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa</p><p>Người hay trì kinh này</p><p>Chính là sứ Phật vậy</p><p>Vâng theo Phật mà làm</p><p>Thương xót các chúng sanh</p><p>Người hay trì kinh này</p><p>Tức là mặc áo Phật</p><p>Như Lai nay phó chúc</p><p>Kinh điển này cho ông</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Rộng nói cho chúng sanh</p><p>Ông và các sứ giả</p><p>Cùng người thọ trì kinh</p><p>Đều nên khiến pháp này</p><p>Lâu dài ở đời sau</p><p>Không khiến diệt mất vậy</p><p>Thường được quốc vương thần</p><p>Rồng thần Dạ xoa thần</p><p>Càn thát A tu la</p><p>Ca lâu Khẩn na la</p><p>Ma hầu la thần thảy</p><p>Cúng dường và hộ trì</p><p>Không để bị não hại</p><p>Khiến pháp này rộng hành</p><p>Được mau thành Phật đạo.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 23 Kinh Pháp Hoa (Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự kể về bổn sự (chuyện xưa) của Dược Vương Bồ tát, vị đã đốt thân cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và Kinh Pháp Hoa, thể hiện hạnh bố thí ba la mật tối thượng. Phật dạy rằng công đức từ việc thọ trì, đọc tụng Kinh Pháp Hoa vượt xa các hình thức cúng dường thân mạng hay vật chất khác, giúp tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, và thành tựu Phật quả. Phẩm này nhấn mạnh sức mạnh của kinh trong việc chuyển hóa khổ đau, khuyến khích niềm tin và thực hành để phổ độ chúng sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 23: Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Tú Vương Hoa Bồ tát bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Dược Vương Bồ tát vân hà du hành ở cõi Ta Bà? Thế Tôn! Vị Dược Vương Bồ tát này có bao nhiêu nghìn muôn ức na do tha khổ hạnh khó làm? Lành thay Thế Tôn! Cúi mong lược nói. Các vị trời, rồng, thần, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn, và các vị Bồ tát từ cõi khác đến, cùng các hàng Thanh văn nghe sẽ hoan hỷ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo Tú Vương Hoa Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuở quá khứ vô lượng hằng hà sa kiếp về trước có Phật hiệu Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Phật đó có tám mươi ức Đại Bồ tát Ma ha tát và bảy mươi hai hằng hà sa đại Thanh văn chúng. Phật thọ mạng bốn muôn hai nghìn kiếp, Bồ tát thọ mạng cũng đồng. Cõi nước đó không có người nữ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, A tu la cùng các nạn khổ, đất bằng như lòng bàn tay, dùng lưu ly làm, cây báu trang nghiêm, màn báu trùm trên, rũ các phan hoa báu, lọ hương báu khắp ở trong nước, bảy báu làm đài, cây báu cách đài không xa, các cây báu đó đều có Bồ tát và Thanh văn ngồi dưới. Trên mỗi cây báu có trăm ức chư thiên tấu nhạc trời, ca ngợi Phật để cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Phật đó vì Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát cùng các Bồ tát chúng và Thanh văn chúng mà nói kinh Pháp Hoa. Vị Nhứt Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Bồ tát ưa hành khổ hạnh, ở trong pháp của Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật siêng năng tinh tấn kinh hành, một lòng cầu Phật, đầy đủ mười hai năm được Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội. Được tam muội này rồi, lòng rất vui mừng liền nghĩ rằng: &amp;#34;Ta được Hiện nhứt thiết sắc thân tam muội này đều là nhờ sức kinh Pháp Hoa. Ta nay phải cúng dường Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức Phật và kinh Pháp Hoa.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức thời nhập tam muội đó, ở giữa hư không mưa hoa mạn đà la, ma ha mạn đà la, hoa mịn chiên đàn, ma ha chiên đàn để cúng dường, cũng mưa hương hải vân tập chiên đàn, ma ha hải vân tập chiên đàn, giá trị đầy trăm tiểu thế giới. Mưa các thứ hương như thế để cúng dường Phật và Bồ tát cùng Thanh văn chúng. Cúng dường rồi, từ tam muội dậy mà tự nghĩ: &amp;#34;Ta tuy dùng sức thần thông cúng dường Phật, chẳng bằng dùng thân cúng dường.&amp;#34; Liền uống các thứ hương chiên đàn, hải vân tập chiên đàn, tu lưu hương, quất câu lô hương, phấn hương, chiên đàn hương, trầm thủy hương, kiết nhược hương, đầy đủ mười hai năm rồi, sau dùng lửa đốt thân mà cúng dường Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đốt rồi, trải qua tám trăm kiếp, dùng cánh tay đó cúng dường chư Phật, cũng cúng dường người thọ trì kinh Pháp Hoa, khiến được an trụ nơi A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tú Vương Hoa! Nếu có người phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, hay đốt một ngón tay hay một ngón chân cúng dường Phật tháp, người đó hơn người cúng dường quốc thành vợ con, trân bảo cùng núi sông rừng đất. Nếu lại có người dùng bảy báu đầy tam thiên đại thiên thế giới để cúng dường Phật và Đại Bồ tát, Bích chi Phật, A la hán, công đức người đó được nhiều, chẳng bằng người thọ trì kinh Pháp Hoa này, nhẫn đến một bài kệ bốn câu, công đức tối thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tú Vương Hoa! Ví như trong các sông ngòi là biển lớn làm vua, trong các sao là mặt trăng làm vua, trong các chúng trời là Đế Thích làm vua, trong nhân dân là Chuyển luân vương làm vua, trong các pháp là kinh Pháp Hoa làm vua. Vì kinh này là chỗ tu hành của Đại thừa Bồ tát đạo, Bồ tát vì kinh này mà được ra khỏi sanh lão bệnh tử, các khổ não. Vì vậy kinh Pháp Hoa được tôn trọng nhất trong các kinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay thọ trì thời thường được thấy Phật, là con của Phật. Nếu có người thọ trì kinh Pháp Hoa, người đó là tay phải của Phật, là sứ giả của Phật, là người mặc áo Như Lai, là sứ giả của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người này ưa khổ hạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ mười hai năm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Uống các thứ hương thơm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau đốt thân cúng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cầu trí huệ Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên đốt thân như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trước các Phật nói rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nay đốt thân này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu là pháp thật vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguyện hiện thân kim sắc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi nói lời rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức được thân kim sắc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tướng tốt đẹp trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tóc xoắn ốc ánh xanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mắt dài rộng sáng sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lông trắng giữa chặn mày&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Âm vật tròn đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Răng trắng khít thứ lớp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Môi đỏ như trái đam&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau đốt thân như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải tám trăm kiếp số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường dùng cánh tay đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường các Phật thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng cúng dường thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa người vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến được an trụ nơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô thượng Bồ đề đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tú Vương Hoa nên biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hơn người cúng dường quốc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành vợ con trân bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Núi sông và rừng đất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu sau khi ta diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ trì kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn đến một kệ nhỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống người hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường các thứ vật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương nay ta nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong các kinh ta nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa tối thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường được thấy chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là Phật tử Phật sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay vì chúng sanh nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chính là sứ Phật vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vâng theo Phật mà làm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thương xót các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức là mặc áo Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai nay phó chúc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh điển này cho ông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng nói cho chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông và các sứ giả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng người thọ trì kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều nên khiến pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lâu dài ở đời sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không khiến diệt mất vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường được quốc vương thần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồng thần Dạ xoa thần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Càn thát A tu la&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca lâu Khẩn na la&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma hầu la thần thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường và hộ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không để bị não hại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến pháp này rộng hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được mau thành Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7702151" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/089dd1e9-6a7c-4733-8d46-ff14c2fdfe39/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">7c1e8277-3569-44eb-9b28-7a9cc2e3fbbf</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/089dd1e9-6a7c-4733-8d46-ff14c2fdfe39</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 06:13:34 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/6/4da4049a-76aa-4da8-8ccb-90148380029f_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>481</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 22_Chúc Lụy</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 22_Chúc Lụy</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 22 Kinh Pháp Hoa (Chúc Lụy)</p><p>Phẩm Chúc Lụy (Phó Chúc) là phần Phật phó chúc Kinh Pháp Hoa cho các Bồ tát địa dũng và đại chúng, nhấn mạnh việc hộ trì, truyền bá kinh trong đời mạt pháp đầy ác trược. Phật khuyến khích các Bồ tát dùng thần lực bảo vệ người trì kinh, tránh ác ma quấy nhiễu, và khẳng định công đức vô lượng của việc thọ trì. Phẩm này củng cố sứ mệnh phổ độ chúng sinh qua Kinh Pháp Hoa, khuyến khích niềm tin kiên cố, thực hành nhẫn nhục, dẫn đến thành Phật và cứu độ muôn loài.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 22: Chúc Lụy</p><p>Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ pháp tòa dậy, hiện sức thần thông lớn, dùng tay phải xoa đầu vô lượng các vị Bồ tát Ma ha tát mà làm lời nói này:</p><p><br></p><p>Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ kiếp tu hành đạo Bồ đề khó được này, nay phó chúc cho các ông. Các ông phải một lòng thọ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này cho người khác, khiến tất cả chúng sanh khắp đều nghe biết.</p><p>Vì sao? Vì Như Lai có lòng từ bi lớn, chẳng keo tiếc, cũng không khiếp nhược, hay đem Phật trí, Phật nhãn, Phật lực cho chúng sanh. Các ông ở đời vị lai phải dùng sức thần thông lớn của Như Lai mà trang nghiêm đó, hộ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này, chớ để thiếu sót. Vì sao? Vì kinh Pháp Hoa này là thuốc hay tốt của chư Phật Như Lai, dùng đó tự trị cùng trị người khác. Nếu có chúng sanh nghe kinh này thời được xa lìa già bệnh chết khổ, được giải thoát.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, các vị Bồ tát nghe Phật nói đó, đều rất vui mừng khắp thân sung sướng, càng thêm cung kính, cúi đầu chấp tay nhìn Phật mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Chúng con sẽ vâng lời Phật dạy, cúi mong Phật chớ lo.</p><p><br></p><p>Các vị Bồ tát Ma ha tát ba lần đồng thanh bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Chúng con sẽ vâng lời Phật dạy, cúi mong Phật chớ lo.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khiến các phân thân Phật ở mười phương đều trở về bổn quốc mà bảo rằng:</p><p><br></p><p>Các Phật an ổn trở về bổn độ, tháp của Phật Đa Bảo cũng như cũ.</p><p><br></p><p>Nói lời đó rồi, mười phương phân thân chư Phật đều trở về bổn quốc, tháp Đa Bảo cũng như cũ.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 22 Kinh Pháp Hoa (Chúc Lụy)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Chúc Lụy (Phó Chúc) là phần Phật phó chúc Kinh Pháp Hoa cho các Bồ tát địa dũng và đại chúng, nhấn mạnh việc hộ trì, truyền bá kinh trong đời mạt pháp đầy ác trược. Phật khuyến khích các Bồ tát dùng thần lực bảo vệ người trì kinh, tránh ác ma quấy nhiễu, và khẳng định công đức vô lượng của việc thọ trì. Phẩm này củng cố sứ mệnh phổ độ chúng sinh qua Kinh Pháp Hoa, khuyến khích niềm tin kiên cố, thực hành nhẫn nhục, dẫn đến thành Phật và cứu độ muôn loài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 22: Chúc Lụy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật từ pháp tòa dậy, hiện sức thần thông lớn, dùng tay phải xoa đầu vô lượng các vị Bồ tát Ma ha tát mà làm lời nói này:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ kiếp tu hành đạo Bồ đề khó được này, nay phó chúc cho các ông. Các ông phải một lòng thọ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này cho người khác, khiến tất cả chúng sanh khắp đều nghe biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì Như Lai có lòng từ bi lớn, chẳng keo tiếc, cũng không khiếp nhược, hay đem Phật trí, Phật nhãn, Phật lực cho chúng sanh. Các ông ở đời vị lai phải dùng sức thần thông lớn của Như Lai mà trang nghiêm đó, hộ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này, chớ để thiếu sót. Vì sao? Vì kinh Pháp Hoa này là thuốc hay tốt của chư Phật Như Lai, dùng đó tự trị cùng trị người khác. Nếu có chúng sanh nghe kinh này thời được xa lìa già bệnh chết khổ, được giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, các vị Bồ tát nghe Phật nói đó, đều rất vui mừng khắp thân sung sướng, càng thêm cung kính, cúi đầu chấp tay nhìn Phật mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con sẽ vâng lời Phật dạy, cúi mong Phật chớ lo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Bồ tát Ma ha tát ba lần đồng thanh bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con sẽ vâng lời Phật dạy, cúi mong Phật chớ lo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khiến các phân thân Phật ở mười phương đều trở về bổn quốc mà bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Phật an ổn trở về bổn độ, tháp của Phật Đa Bảo cũng như cũ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói lời đó rồi, mười phương phân thân chư Phật đều trở về bổn quốc, tháp Đa Bảo cũng như cũ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2730527" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/8c99bf82-ea59-43a0-a7e2-5227efcf8da7/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">94a37298-9204-4ba7-b209-cfa37d201ffd</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/8c99bf82-ea59-43a0-a7e2-5227efcf8da7</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 05:03:34 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/4/172a1774-add7-477a-ab5f-94c3d6223d1b_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>170</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 21_Như Lai Thần Lực</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 21_Như Lai Thần Lực</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 21 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thần Lực)</p><p>Phẩm Như Lai Thần Lực mô tả sức thần thông của chư Phật, khi Phật và các phân thân Phật dùng lưỡi rộng dài che phủ tam thiên đại thiên thế giới, phóng quang minh, và các hiện tượng kỳ diệu để chứng thực Kinh Pháp Hoa. Phật phó chúc kinh cho các Bồ tát địa dũng, nhấn mạnh việc hộ trì và truyền bá kinh trong đời mạt pháp, mang lại công đức vô lượng, giúp chúng sinh thành Phật. Phẩm này khẳng định uy lực của kinh, khuyến khích niềm tin và thực hành, dẫn đến giác ngộ.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 21: Như Lai Thần Lực</p><p>Lúc bấy giờ, các vị Bồ tát Ma ha tát từ dưới đất vọt ra đông hơn số cát tám sông Hằng, ở giữa hư không chấp tay làm lễ mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Cúi mong Phật thọ ký cho chúng con được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ở cõi khác.</p><p><br></p><p>Lúc đó, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo các vị Bồ tát Ma ha tát:</p><p><br></p><p>Lành thay! Lành thay! Các thiện nam tử! Nay chính phải lúc các ông phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.</p><p><br></p><p>Tức thời các vị Bồ tát Ma ha tát đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay một lòng nhìn dung nhan Phật mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Sau khi Phật diệt độ, chúng con sẽ ở cõi nước phương khác rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, ở trước các vị Bồ tát, Đức Thế Tôn tự nói tên mình mà bảo rằng:</p><p><br></p><p>Các thiện nam tử! Có Bồ tát Ma ha tát tên Di Lặc, cũng thọ ký của Phật: Đời vị lai sẽ thành Phật hiệu Di Lặc.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Chúng con cũng sau khi Phật diệt độ ở cõi nước phương khác rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, các vị Bồ tát Ma ha tát đồng thanh nói kệ rằng:</p><p>Chớ lo chúng con sẽ</p><p>Thọ trì kinh điển này</p><p>Sau khi Phật diệt độ</p><p>Ở cõi nước phương khác</p><p>Vì sao? Vì chúng con</p><p>Cũng tự nguyện ở đó</p><p>Thọ trì đọc tụng kinh</p><p>Giải nói kinh Pháp Hoa</p><p>Chúng con được sức mạnh</p><p>Trí huệ lớn của Phật</p><p>Nếu biết chúng sanh kia</p><p>Có lòng tin thanh tịnh</p><p>Dùng sức trí huệ Phật</p><p>Phân biệt biết lòng tin</p><p>Theo sức mà vì nói</p><p>Kinh này trọn đầy đủ</p><p>Như hư không vô biên</p><p>Công đức chẳng lường được</p><p>Vì vậy chúng con nguyện</p><p>Ở cõi nước phương khác</p><p>Đồng thời được cúng dường</p><p>Vô lượng chư Phật thảy</p><p>Cúi mong Phật chứng tri</p><p>Chớ nghi lòng chúng con.</p><p>Bấy giờ, Đức Phật biết lòng niệm sâu xa của các vị Đại Bồ tát mà bảo đại chúng:</p><p><br></p><p>Các ông thấy chăng? Các vị Đại Bồ tát này vô lượng vô biên bất khả tư nghì ở cõi Ta Bà này mà thọ trì kinh Pháp Hoa.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Phật phóng bạch hào tướng quang minh, chiếu khắp phương Đông mười tám nghìn cõi nước, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Sắc Cứu Cánh. Ở trong cõi này thấy sáu nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các vị Bồ tát Ma ha tát, mỗi mỗi vị tự hóa độ chúng sanh, cũng thấy sáu nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các vị Bồ tát Ma ha tát thọ trì kinh Pháp Hoa mà diễn nói cho người.</p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo đại chúng:</p><p><br></p><p>Các ông thấy cõi Ta Bà các vị Đại Bồ tát đông nhiều như thế chăng? Nếu có người đếm trải qua nghìn muôn ức kiếp cũng chẳng hết được. Những vị Đại Bồ tát này đã ở chỗ ta lâu dài trồng căn lành, tu hành đạo Bồ tát, thường khéo tu Phạm hạnh. Khéo hay ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức các nghĩa, tên họ cũng hay khéo hay, hay vào hay xuất, hay biết căn tánh của chúng sanh, hay hiểu ý người khác, thường nói pháp thậm thâm, diễn âm thanh vi diệu.</p><p>Các thiện nam tử! Các vị Đại Bồ tát này do ta giáo hóa thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nay ta thọ ký cho các ông, đời vị lai các ông sẽ thành Phật.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và phân thân chư Phật ở mười phương đều duỗi lưỡi dài rộng đến Phạm thiên cung, từ miệng phóng vô lượng vô số quang minh sắc, mỗi mỗi quang minh đều hiện trăm nghìn sắc. Các bảo tháp đều từ dưới đất vọt lên trụ giữa hư không, các tháp đó đều dùng vô lượng tràng phan, anh lạc, linh báu mà nghiêm sức. Các bảo tháp đều vang ra tiếng khen ngợi Phật rằng: &#34;Hay thay! Hay thay! Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni! Hay nói kinh Pháp Hoa đại thừa giáo Bồ tát pháp, Phật sở hộ niệm. Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói.&#34;</p><p>Lúc đó, các vị Đại Bồ tát vì kính trọng Phật mà phát nguyện: &#34;Chúng con sẽ rộng nói kinh này ở cõi khác, vì chúng con được sức thần của Phật.&#34;</p><p>Bấy giờ, Đức Phật biết lòng các vị Đại Bồ tát, bảo các Tỳ kheo:</p><p><br></p><p>Các vị Đại Bồ tát số đông vô lượng, ở cõi Ta Bà này mà thọ trì kinh Pháp Hoa. Sau khi ta diệt độ, các ông nếu thấy các vị Bồ tát thọ trì đọc tụng kinh này, nên biết đó là gần Phật vậy.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Nếu muốn nói kinh này</p><p>Nên bỏ lòng ghen ghét</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Nếu cầu Phật đạo vậy</p><p>Thường phát nguyện lớn này</p><p>Làm sứ giả của Phật</p><p>Gần gũi không dua nịnh</p><p>Chẳng ưa hàng Thanh văn</p><p>Cũng chẳng ghét ác nhân</p><p>Chuyên tu thiền định vậy</p><p>Dùng trí huệ phương tiện</p><p>Hộ trì tâm chư Phật</p><p>Ở trước vô lượng Phật</p><p>Được thọ ký tối thượng</p><p>Làm đại từ bi phụ</p><p>Khắp đầy các cõi nước</p><p>Phân biệt diễn nói pháp</p><p>Vì các chúng sanh vậy</p><p>Biết chúng sanh tánh dục</p><p>Dùng các nhân duyên nói</p><p>Các thứ thí dụ vậy</p><p>Khiến đều được hoan hỷ</p><p>Hoặc dùng kệ ngợi khen</p><p>Hoặc nói bổn sanh sự</p><p>Bổn sự cùng nhân duyên</p><p>Vô lượng các nghĩa dụ</p><p>Khai ngộ các chúng sanh</p><p>Suốt ngày lẫn suốt đêm</p><p>Thường dùng pháp tu hành</p><p>Thường ở trong tam muội</p><p>Tu vô lượng trí huệ</p><p>Nghe pháp từ chư Phật</p><p>Cúng dường các vật báu</p><p>Thiên kim và bách dược</p><p>Thiên y cùng các thực</p><p>Vô lượng các bảo cụ</p><p>Đầy dẫy các kho tàng</p><p>Cúng dường các Đức Phật</p><p>An trụ diệu pháp địa</p><p>Mà nói kinh Pháp Hoa</p><p>Công đức chẳng lường được.</p><p>Nếu có người ác tâm</p><p>Dùng拳 đánh hoặc mắng</p><p>Dao gậy mà não hại</p><p>Thường ôm lòng nhẫn nhục</p><p>Lại nếu thấy người được</p><p>Đạo quả A la hán</p><p>Sanh lòng tin thanh tịnh</p><p>Làm các việc cúng dường</p><p>Ở trong tám mươi ức</p><p>Kiếp số đẹp trang nghiêm</p><p>Dùng đó cúng dường rồi</p><p>Mà được thấy chư Phật</p><p>Công đức người như thế</p><p>Chẳng bằng Bồ tát mới</p><p>Phát tâm ở đời mạt</p><p>Thọ trì kinh Pháp Hoa</p><p>Công đức hơn trên kia</p><p>Vô lượng vô biên vậy</p><p>Huống lại người thọ trì</p><p>Đọc tụng hiểu nghĩa kinh</p><p>Công đức rất vô thượng</p><p>Dùng tay mà sờ đến</p><p>Cũng chẳng kịp được vậy</p><p>Nếu biên chép cúng dường</p><p>Rải hoa hương trang nghiêm</p><p>Dùng chiên đàn trầm thủy</p><p>Hương bột mà đốt thắp</p><p>Nếu cúng dường như thế</p><p>Cũng chẳng kịp được vậy</p><p>Dầu ở đời ác trược</p><p>Thọ trì kinh này vậy</p><p>Nhẫn nhục không sân hận</p><p>Công đức rất lớn lao</p><p>Như ta nói ở trên</p><p>Dùng lưỡi rộng dài đó</p><p>Phóng vô lượng quang minh</p><p>Trải trăm nghìn năm vậy</p><p>Nếu có người ở trước</p><p>Đức Phật mà nói kinh</p><p>Nghe rồi được hoan hỷ</p><p>Đó là tướng thứ nhất</p><p>Ở chỗ ở tôn trọng</p><p>Thường ưa ngồi thiền định</p><p>Cùng với người hiền lành</p><p>Phân biệt nghĩa kinh vậy</p><p>Đó là tướng thứ hai</p><p>Ra khỏi pháp hội rồi</p><p>Đến chỗ khác nói kinh</p><p>Dù chỉ chốc lát nghe</p><p>Cũng được hoan hỷ vậy</p><p>Đó là tướng thứ ba</p><p>Có người hay thọ trì</p><p>Phân loại các kinh điển</p><p>Sau khi Phật diệt độ</p><p>Vì bốn chúng mà nói</p><p>Đó là tướng thứ tư</p><p>Thường một lòng nghĩ Phật</p><p>Vì vậy được cúng dường</p><p>Nghe kinh Pháp Hoa này</p><p>Mà sanh lòng hoan hỷ</p><p>Đó là tướng thứ năm</p><p>Ở đời mạt pháp sau</p><p>Hay nói kinh Pháp Hoa</p><p>Vì nói cho người khác</p><p>Khiến tin hiểu thọ trì</p><p>Đó là tướng thứ sáu.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 21 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thần Lực)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Như Lai Thần Lực mô tả sức thần thông của chư Phật, khi Phật và các phân thân Phật dùng lưỡi rộng dài che phủ tam thiên đại thiên thế giới, phóng quang minh, và các hiện tượng kỳ diệu để chứng thực Kinh Pháp Hoa. Phật phó chúc kinh cho các Bồ tát địa dũng, nhấn mạnh việc hộ trì và truyền bá kinh trong đời mạt pháp, mang lại công đức vô lượng, giúp chúng sinh thành Phật. Phẩm này khẳng định uy lực của kinh, khuyến khích niềm tin và thực hành, dẫn đến giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 21: Như Lai Thần Lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, các vị Bồ tát Ma ha tát từ dưới đất vọt ra đông hơn số cát tám sông Hằng, ở giữa hư không chấp tay làm lễ mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Cúi mong Phật thọ ký cho chúng con được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ở cõi khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo các vị Bồ tát Ma ha tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lành thay! Lành thay! Các thiện nam tử! Nay chính phải lúc các ông phát tâm A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức thời các vị Bồ tát Ma ha tát đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay một lòng nhìn dung nhan Phật mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ, chúng con sẽ ở cõi nước phương khác rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, ở trước các vị Bồ tát, Đức Thế Tôn tự nói tên mình mà bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Có Bồ tát Ma ha tát tên Di Lặc, cũng thọ ký của Phật: Đời vị lai sẽ thành Phật hiệu Di Lặc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Chúng con cũng sau khi Phật diệt độ ở cõi nước phương khác rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, các vị Bồ tát Ma ha tát đồng thanh nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ lo chúng con sẽ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ trì kinh điển này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở cõi nước phương khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng tự nguyện ở đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ trì đọc tụng kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải nói kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con được sức mạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ lớn của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu biết chúng sanh kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có lòng tin thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng sức trí huệ Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân biệt biết lòng tin&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo sức mà vì nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này trọn đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hư không vô biên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức chẳng lường được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì vậy chúng con nguyện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở cõi nước phương khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng thời được cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng chư Phật thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong Phật chứng tri&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ nghi lòng chúng con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật biết lòng niệm sâu xa của các vị Đại Bồ tát mà bảo đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông thấy chăng? Các vị Đại Bồ tát này vô lượng vô biên bất khả tư nghì ở cõi Ta Bà này mà thọ trì kinh Pháp Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật phóng bạch hào tướng quang minh, chiếu khắp phương Đông mười tám nghìn cõi nước, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Sắc Cứu Cánh. Ở trong cõi này thấy sáu nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các vị Bồ tát Ma ha tát, mỗi mỗi vị tự hóa độ chúng sanh, cũng thấy sáu nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa các vị Bồ tát Ma ha tát thọ trì kinh Pháp Hoa mà diễn nói cho người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông thấy cõi Ta Bà các vị Đại Bồ tát đông nhiều như thế chăng? Nếu có người đếm trải qua nghìn muôn ức kiếp cũng chẳng hết được. Những vị Đại Bồ tát này đã ở chỗ ta lâu dài trồng căn lành, tu hành đạo Bồ tát, thường khéo tu Phạm hạnh. Khéo hay ở trong vô lượng trăm nghìn muôn ức các nghĩa, tên họ cũng hay khéo hay, hay vào hay xuất, hay biết căn tánh của chúng sanh, hay hiểu ý người khác, thường nói pháp thậm thâm, diễn âm thanh vi diệu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Các vị Đại Bồ tát này do ta giáo hóa thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Nay ta thọ ký cho các ông, đời vị lai các ông sẽ thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và phân thân chư Phật ở mười phương đều duỗi lưỡi dài rộng đến Phạm thiên cung, từ miệng phóng vô lượng vô số quang minh sắc, mỗi mỗi quang minh đều hiện trăm nghìn sắc. Các bảo tháp đều từ dưới đất vọt lên trụ giữa hư không, các tháp đó đều dùng vô lượng tràng phan, anh lạc, linh báu mà nghiêm sức. Các bảo tháp đều vang ra tiếng khen ngợi Phật rằng: &amp;#34;Hay thay! Hay thay! Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni! Hay nói kinh Pháp Hoa đại thừa giáo Bồ tát pháp, Phật sở hộ niệm. Đúng vậy! Đúng vậy! Như lời Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, các vị Đại Bồ tát vì kính trọng Phật mà phát nguyện: &amp;#34;Chúng con sẽ rộng nói kinh này ở cõi khác, vì chúng con được sức thần của Phật.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật biết lòng các vị Đại Bồ tát, bảo các Tỳ kheo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Đại Bồ tát số đông vô lượng, ở cõi Ta Bà này mà thọ trì kinh Pháp Hoa. Sau khi ta diệt độ, các ông nếu thấy các vị Bồ tát thọ trì đọc tụng kinh này, nên biết đó là gần Phật vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu muốn nói kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên bỏ lòng ghen ghét&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cầu Phật đạo vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường phát nguyện lớn này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm sứ giả của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gần gũi không dua nịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng ưa hàng Thanh văn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng ghét ác nhân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyên tu thiền định vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng trí huệ phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì tâm chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trước vô lượng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được thọ ký tối thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm đại từ bi phụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp đầy các cõi nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân biệt diễn nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì các chúng sanh vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết chúng sanh tánh dục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các nhân duyên nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ thí dụ vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến đều được hoan hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc dùng kệ ngợi khen&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc nói bổn sanh sự&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bổn sự cùng nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng các nghĩa dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khai ngộ các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Suốt ngày lẫn suốt đêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường dùng pháp tu hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ở trong tam muội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu vô lượng trí huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp từ chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường các vật báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiên kim và bách dược&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiên y cùng các thực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng các bảo cụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy dẫy các kho tàng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường các Đức Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ diệu pháp địa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nói kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức chẳng lường được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người ác tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng拳 đánh hoặc mắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dao gậy mà não hại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ôm lòng nhẫn nhục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nếu thấy người được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạo quả A la hán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh lòng tin thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm các việc cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong tám mươi ức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp số đẹp trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng đó cúng dường rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà được thấy chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng bằng Bồ tát mới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phát tâm ở đời mạt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ trì kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức hơn trên kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô biên vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống lại người thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng hiểu nghĩa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức rất vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng tay mà sờ đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng kịp được vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu biên chép cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rải hoa hương trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng chiên đàn trầm thủy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương bột mà đốt thắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cúng dường như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng kịp được vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu ở đời ác trược&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ trì kinh này vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn nhục không sân hận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức rất lớn lao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ta nói ở trên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng lưỡi rộng dài đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phóng vô lượng quang minh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải trăm nghìn năm vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người ở trước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật mà nói kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe rồi được hoan hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là tướng thứ nhất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở chỗ ở tôn trọng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ưa ngồi thiền định&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng với người hiền lành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân biệt nghĩa kinh vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là tướng thứ hai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ra khỏi pháp hội rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến chỗ khác nói kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù chỉ chốc lát nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng được hoan hỷ vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là tướng thứ ba&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có người hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân loại các kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì bốn chúng mà nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là tướng thứ tư&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường một lòng nghĩ Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì vậy được cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh Pháp Hoa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà sanh lòng hoan hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là tướng thứ năm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở đời mạt pháp sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay nói kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nói cho người khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến tin hiểu thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là tướng thứ sáu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="9381511" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3d3bcb2b-26e5-45d7-ab66-74412645a645/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">e985f32d-c546-403e-883b-16ff8ad7f01e</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3d3bcb2b-26e5-45d7-ab66-74412645a645</link>
                <pubDate>Fri, 07 Nov 2025 04:59:07 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>586</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 20</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 20</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 20 Kinh Pháp Hoa (Thường Bất Khinh Bồ Tát)</p><p>Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát kể về vị Bồ tát trong quá khứ luôn lễ lạy và nói với mọi người: &#34;Tôi không dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật&#34;, dù bị mắng nhiếc, đánh đập. Qua đó, Phật dạy về hạnh nhẫn nhục, tôn trọng Phật tánh bình đẳng trong mọi chúng sinh, và công đức của việc tin nhận Kinh Pháp Hoa sẽ dẫn đến thành Phật, khuyến khích hành giả thực hành từ bi, không khinh khi ai, vì tất cả đều có tiềm năng giác ngộ.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 20: Thường Bất Khinh Bồ Tát</p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Bồ tát và đại chúng:</p><p><br></p><p>Các ông có nghe vô lượng công đức của Bồ tát Ma ha tát chăng? Nếu có người thọ trì kinh Pháp Hoa, dù chỉ một kệ bốn câu, đọc tụng thông lợi, tư duy nghĩa thú, thời đồng thời được sáu căn thanh tịnh. Các thiện nam tử! Sáu căn thanh tịnh đó có công đức lớn.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Phật vì muốn khiến đại chúng được lợi ích, liền nói phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát.</p><p><br></p><p>Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp, có Phật hiệu Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cõi nước tên Quang Minh Trang Nghiêm Kiếp, kiếp tên Hỷ Kiến.</p><p>Trong pháp của Vân Lôi Âm Vương Phật, có vị Tỳ kheo tên Thường Bất Khinh. Vì sao tên Thường Bất Khinh? Vì vị Tỳ kheo đó phàm gặp Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, liền lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: &#34;Tôi sâu kính các ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì các ngài đều hành Bồ tát đạo, sẽ được thành Phật.&#34;</p><p>Vị Tỳ kheo đó chẳng chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ hành lễ lạy, nhẫn đến ở xa thấy hàng tứ chúng, cũng đặc biệt đến lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: &#34;Tôi chẳng dám khinh các ngài, vì các ngài sẽ thành Phật.&#34;</p><p>Trong hàng tứ chúng có kẻ sanh lòng giận sân, ý chẳng sạch, mắng nhiếc rằng: &#34;Ông Tỳ kheo vô trí này từ đâu đến, tự nói tôi chẳng khinh ông, mà lại thọ ký chúng ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chúng ta đâu cần thọ ký như thế.&#34;</p><p>Trải qua nhiều năm thường bị mắng nhiếc, chẳng sanh lòng giận, thường nói lời đó: &#34;Các ngài sẽ thành Phật.&#34; Khi nói lời đó, những kẻ đó hoặc dùng gậy cây đánh đập, hoặc dùng ngói đá ném ném, bèn tránh xa mà vẫn cao tiếng nói: &#34;Tôi chẳng dám khinh các ngài.&#34;</p><p>Mạng chung đến lúc, ở giữa hư không được nghe Vân Lôi Âm Vương Phật trước nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cùng hàng tứ chúng đồng được nghe, liền được sáu căn thanh tịnh, hoan hỷ được sức thần thông, thọ mạng dài lâu, lại vì chúng sanh phân biệt diễn nói kinh điển này.</p><p>Những kẻ mắng nhiếc vị Bồ tát đó, được gặp nghìn Phật, rộng nói kinh này, công đức đầy đủ, cũng được sáu căn thanh tịnh. Các ông nên biết vị Tỳ kheo đó thời là thân ta, còn những kẻ mắng nhiếc thời là các ông trong hội này.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Ta nhớ đời quá khứ</p><p>Vô lượng vô số kiếp</p><p>Có Phật hiệu Vân Lôi</p><p>Âm Vương ra ở đời</p><p>Vì người trời nói pháp</p><p>Bốn đế cùng mười hai</p><p>Nhân duyên sáu Ba la</p><p>Mật cùng Đại thừa kinh</p><p>Vì cầu Phật đạo nên</p><p>Ta ở trong pháp đó</p><p>Thường hành lễ lạy nói</p><p>Các ngài đều thành Phật</p><p>Lúc đó có kẻ giận</p><p>Mắng nhiếc cùng đánh đập</p><p>Ta nhẫn chẳng sanh sân</p><p>Trải nhiều năm như thế</p><p>Mạng chung được nghe kinh</p><p>Pháp Hoa sáu căn sạch</p><p>Vì lòng từ bi lớn</p><p>Nhẫn những việc khó nhẫn</p><p>Những kẻ mắng ta đó</p><p>Nay ở trong hội này</p><p>Chính là Bồ tát chúng</p><p>Năm trăm vị ở đây</p><p>Và các tứ chúng khác</p><p>Nam nữ đồng nghe pháp</p><p>Ở đời vị lai thảy</p><p>Được sáu căn thanh tịnh</p><p>Vì người mà diễn nói</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.</p><p>Bấy giờ, năm trăm vị Bồ tát trong hội được thọ ký, hoan hỷ nhảy nhót, từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Chúng con ở đời quá khứ thường bị mắng nhiếc, nay được nghe kinh Pháp Hoa, mỗi mỗi chúng con được công đức vô lượng.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết lòng các Bồ tát đó, liền bảo rằng:</p><p><br></p><p>Lành thay! Các ông nay được lợi ích lớn, được sáu căn thanh tịnh.</p><p><br></p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 20 Kinh Pháp Hoa (Thường Bất Khinh Bồ Tát)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát kể về vị Bồ tát trong quá khứ luôn lễ lạy và nói với mọi người: &amp;#34;Tôi không dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật&amp;#34;, dù bị mắng nhiếc, đánh đập. Qua đó, Phật dạy về hạnh nhẫn nhục, tôn trọng Phật tánh bình đẳng trong mọi chúng sinh, và công đức của việc tin nhận Kinh Pháp Hoa sẽ dẫn đến thành Phật, khuyến khích hành giả thực hành từ bi, không khinh khi ai, vì tất cả đều có tiềm năng giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 20: Thường Bất Khinh Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Bồ tát và đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông có nghe vô lượng công đức của Bồ tát Ma ha tát chăng? Nếu có người thọ trì kinh Pháp Hoa, dù chỉ một kệ bốn câu, đọc tụng thông lợi, tư duy nghĩa thú, thời đồng thời được sáu căn thanh tịnh. Các thiện nam tử! Sáu căn thanh tịnh đó có công đức lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật vì muốn khiến đại chúng được lợi ích, liền nói phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuở quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì a tăng kỳ kiếp, có Phật hiệu Vân Lôi Âm Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Cõi nước tên Quang Minh Trang Nghiêm Kiếp, kiếp tên Hỷ Kiến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong pháp của Vân Lôi Âm Vương Phật, có vị Tỳ kheo tên Thường Bất Khinh. Vì sao tên Thường Bất Khinh? Vì vị Tỳ kheo đó phàm gặp Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, liền lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: &amp;#34;Tôi sâu kính các ngài, chẳng dám khinh mạn. Vì sao? Vì các ngài đều hành Bồ tát đạo, sẽ được thành Phật.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị Tỳ kheo đó chẳng chuyên đọc tụng kinh điển, chỉ hành lễ lạy, nhẫn đến ở xa thấy hàng tứ chúng, cũng đặc biệt đến lễ lạy khen ngợi mà nói rằng: &amp;#34;Tôi chẳng dám khinh các ngài, vì các ngài sẽ thành Phật.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong hàng tứ chúng có kẻ sanh lòng giận sân, ý chẳng sạch, mắng nhiếc rằng: &amp;#34;Ông Tỳ kheo vô trí này từ đâu đến, tự nói tôi chẳng khinh ông, mà lại thọ ký chúng ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chúng ta đâu cần thọ ký như thế.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải qua nhiều năm thường bị mắng nhiếc, chẳng sanh lòng giận, thường nói lời đó: &amp;#34;Các ngài sẽ thành Phật.&amp;#34; Khi nói lời đó, những kẻ đó hoặc dùng gậy cây đánh đập, hoặc dùng ngói đá ném ném, bèn tránh xa mà vẫn cao tiếng nói: &amp;#34;Tôi chẳng dám khinh các ngài.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mạng chung đến lúc, ở giữa hư không được nghe Vân Lôi Âm Vương Phật trước nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, cùng hàng tứ chúng đồng được nghe, liền được sáu căn thanh tịnh, hoan hỷ được sức thần thông, thọ mạng dài lâu, lại vì chúng sanh phân biệt diễn nói kinh điển này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những kẻ mắng nhiếc vị Bồ tát đó, được gặp nghìn Phật, rộng nói kinh này, công đức đầy đủ, cũng được sáu căn thanh tịnh. Các ông nên biết vị Tỳ kheo đó thời là thân ta, còn những kẻ mắng nhiếc thời là các ông trong hội này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nhớ đời quá khứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô số kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có Phật hiệu Vân Lôi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Âm Vương ra ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì người trời nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn đế cùng mười hai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân duyên sáu Ba la&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mật cùng Đại thừa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cầu Phật đạo nên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong pháp đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường hành lễ lạy nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ngài đều thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó có kẻ giận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mắng nhiếc cùng đánh đập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nhẫn chẳng sanh sân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải nhiều năm như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mạng chung được nghe kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp Hoa sáu căn sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lòng từ bi lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn những việc khó nhẫn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những kẻ mắng ta đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ở trong hội này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chính là Bồ tát chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm trăm vị ở đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các tứ chúng khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam nữ đồng nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở đời vị lai thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được sáu căn thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì người mà diễn nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, năm trăm vị Bồ tát trong hội được thọ ký, hoan hỷ nhảy nhót, từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lễ chân Phật mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con ở đời quá khứ thường bị mắng nhiếc, nay được nghe kinh Pháp Hoa, mỗi mỗi chúng con được công đức vô lượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết lòng các Bồ tát đó, liền bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lành thay! Các ông nay được lợi ích lớn, được sáu căn thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5058142" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/214e7128-38bc-469c-b4a1-ec43392111dd/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">dddc3c54-6de4-4aa9-8c1f-d5cfb6402c2e</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/214e7128-38bc-469c-b4a1-ec43392111dd</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:30:31 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/5ee31b5c-a704-4646-a559-145ab4c2f1b2_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>316</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 19</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 19</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 19 Kinh Pháp Hoa (Pháp Sư Công Đức)</p><p>Phẩm Pháp Sư Công Đức mô tả công đức vô lượng của những người thọ trì, đọc tụng, giảng nói Kinh Pháp Hoa, được gọi là Pháp sư. Phật dạy rằng người Pháp sư sẽ được sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) thanh tịnh, tăng trưởng trí huệ, thấy biết xa rộng, vượt qua phàm tình, và được chư Phật hộ niệm. Phẩm này khuyến khích hành giả trở thành Pháp sư, nhấn mạnh lợi ích của việc truyền bá kinh, giúp chúng sinh giác ngộ, và khẳng định Kinh Pháp Hoa mang lại phúc lợi hiện tại lẫn vị lai.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 19: Pháp Sư Công Đức</p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Thường Tinh Tấn Bồ tát Ma ha tát:</p><p><br></p><p>Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ được tám trăm công đức mắt, một nghìn hai trăm công đức tai, tám trăm công đức mũi, một nghìn hai trăm công đức lưỡi, tám trăm công đức thân, một nghìn hai trăm công đức ý.</p><p>Những công đức đó trang nghiêm sáu căn, đều khiến thanh tịnh. Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó dùng nhục nhãn cha mẹ sanh thanh tịnh, thấy trong tam thiên đại thiên thế giới, trong ngoài núi Tu Di, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, cùng các núi khác, rừng lớn, sông lớn, biển lớn, cho đến dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh. Các chúng sanh trong đó cùng nghiệp báo chỗ thọ sanh thảy đều thấy biết. Dầu chưa được thiên nhãn mà nhục nhãn thế lực như thế.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Nếu ở trong đại chúng</p><p>Dùng lòng không sợ sệt</p><p>Có thể vì nói được</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa</p><p>Ông nghe công đức đó</p><p>Như ta nay sẽ nói</p><p>Người đó được tám trăm</p><p>Công đức mắt thù thắng</p><p>Do công đức trang nghiêm</p><p>Nhục nhãn rất thanh tịnh</p><p>Dùng nhục nhãn cha mẹ</p><p>Sanh mà thấy khắp nơi</p><p>Núi rừng sông biển cả</p><p>Dưới đến A tỳ ngục</p><p>Trên đến Hữu Đảnh trời</p><p>Trong đó các chúng sanh</p><p>Thảy đều thấy hết thảy</p><p>Dầu chưa được thiên nhãn</p><p>Nhục nhãn lực như thế.</p><p>Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm công đức tai. Dùng tai thanh tịnh đó nghe tất cả các thứ tiếng trong tam thiên đại thiên thế giới, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh, trong đó các thứ tiếng: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trâu, tiếng khóc, tiếng buồn, tiếng trống, tiếng chuông, tiếng ốc, tiếng tù và, tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng tiêu, tiếng hát, tiếng ca, tiếng nam, tiếng nữ, tiếng đồng tử, tiếng đồng nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng Thánh nhân, tiếng khả ý, tiếng bất khả ý, thảy đều được nghe hết. Dầu chưa được thiên nhĩ mà dùng sức tai cha mẹ sanh tự nhiên nghe như thế.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Tai cha mẹ sanh ra</p><p>Thanh tịnh chẳng ô nhiễm</p><p>Dùng tai thường nghe biết</p><p>Ba nghìn thế giới tiếng</p><p>Tiếng trời, người, địa ngục</p><p>Ngạ quỷ, súc sanh thảy</p><p>Voi ngựa xe trâu dê</p><p>Tiếng bán buôn kỹ nhạc</p><p>Tiếng trống tù và chuông</p><p>Tiếng cười tiếng nói thảy</p><p>Tiếng nam nữ đại tiểu</p><p>Tiếng pháp phi pháp thảy</p><p>Tiếng khổ tiếng vui mừng</p><p>Tiếng phàm tiếng Thánh thảy</p><p>Hoặc khả hoặc bất khả</p><p>Thảy đều nghe hết thảy</p><p>Lại nghe các trời tiếng</p><p>Ca hát âm thanh vang</p><p>Cùng nghe nam nữ trời</p><p>Ca hát tiếng âm nhạc</p><p>Hoặc ở trên núi non</p><p>Ca hát tiếng âm thanh</p><p>Các loài chim như ca</p><p>Lăng già, mạng mạng thảy</p><p>Các thứ tiếng như thế</p><p>Thảy đều nghe hết thảy</p><p>Dưới địa ngục khổ đau</p><p>Vô lượng các thứ tiếng</p><p>Ngạ quỷ đói khát bức</p><p>Cầu thực phát tiếng lớn</p><p>A tu la các loại</p><p>Ở biển nói tiếng lớn</p><p>Các thứ tiếng như thế</p><p>Người hay trì kinh này</p><p>Ở gần mà nghe thảy</p><p>Dầu chưa được thiên nhĩ</p><p>Nhưng dùng tai tự nhiên</p><p>Nghe biết như thế đó</p><p>Tai công đức thù thắng.</p><p>Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được tám trăm công đức mũi. Dùng mũi thanh tịnh đó ngửi tất cả các mùi trong tam thiên đại thiên thế giới, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh: mùi chiên đàn, mùi đa ma la bạt, mùi hương hoa sen, mùi hoa ưu bát la, mùi hoa bà sư, mùi hoa mạn đà la, mùi hương bột, mùi hương xoa, mùi hương đốt, mùi hương hoa, mùi hương trái, mùi nhân sinh, mùi nam nữ, mùi cỏ cây rừng rú, mùi voi, mùi ngựa, mùi trâu, mùi dê, mùi xe, mùi thuốc, mùi dầu, thảy đều ngửi biết, không lầm lẫn. Dầu chưa được Bồ tát pháp tánh mũi mà mũi có thế lực như thế.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Mũi người đó thanh tịnh</p><p>Trong thế giới này đây</p><p>Tất cả các thứ mùi</p><p>Thơm thối thảy đều ngửi</p><p>Chiên đàn đa ma la</p><p>Đa ma diệp hương thảy</p><p>Các thứ hoa quả mùi</p><p>Và các mùi chúng sanh</p><p>Mùi nam nữ đại tiểu</p><p>Người nói pháp xa ngửi</p><p>Biết chỗ ở của đó</p><p>Chuyển luân đại đế vương</p><p>Tiểu vương cùng quyến thuộc</p><p>Ngửi mùi biết chỗ ở</p><p>Các thứ trân bảo tốt</p><p>Như châu báu Như ý</p><p>Voi ngựa bảy báu thảy</p><p>Ngửi mùi biết chỗ ở</p><p>Trên thân Phật trang nghiêm</p><p>Chuỗi anh lạc ngửi mùi</p><p>Biết chỗ ở của đó</p><p>Các trời ở trên đỉnh</p><p>Cung điện cùng vườn cây</p><p>Ngửi mùi biết chỗ ở</p><p>Hoặc ngửi các hương thơm</p><p>Hoặc ngửi các hoa đẹp</p><p>Hoặc ngửi các trái cây</p><p>Hoặc ngửi các thuốc hay</p><p>Hoặc ngửi mùi chúng sanh</p><p>Thảy đều biết chỗ ở</p><p>Như Lai ở mười phương</p><p>Nói pháp độ chúng sanh</p><p>Ngửi mùi biết chỗ ở</p><p>Dầu chưa được Bồ tát</p><p>Pháp tánh mũi thanh tịnh</p><p>Mà mũi có thế lực</p><p>Thường ngửi biết như thế.</p><p>Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm công đức lưỡi. Nếu có ngon xấu, khả ý bất khả ý, hoặc đắng hoặc chát, hoặc mặn hoặc lạt, hoặc ngọt hoặc cay, hoặc thô hoặc tế, thảy ở trên lưỡi đều hóa thành vị cam lồ thượng diệu. Nếu ở trong chúng dùng lưỡi diễn nói, thảy đều hoan hỷ tín thọ. Dầu chưa được Bồ tát vô ngại biện tài mà lưỡi có thế lực như thế.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Người đó lưỡi công đức</p><p>Hay phát tiếng vi diệu</p><p>Khiến trong đại chúng sanh</p><p>Lòng đều nhu nhuyễn vui</p><p>Dùng lời nhu nhuyễn hay</p><p>Giải thích các kinh điển</p><p>Diễn nói nghĩa sâu xa</p><p>Khiến thảy đều hoan hỷ</p><p>Các trời rồng thần thảy</p><p>A tu la ca lầu</p><p>La khẩn na la thảy</p><p>Cũng cung kính nghe theo</p><p>Lại nếu dùng lưỡi nói</p><p>Khiến các chúng sanh thảy</p><p>Đều được vui mừng lớn</p><p>Trời mưa hoa mạn đà</p><p>La cùng chiên đàn hương</p><p>Và các thứ hương bột</p><p>Cùng các thứ trân bảo</p><p>Đẹp đẽ để cúng dường</p><p>Người nói pháp cùng Tăng</p><p>Và các trời đại lực</p><p>Cung điện cùng vườn cây</p><p>Thảy đều đến nghe pháp</p><p>Phật biết lòng sâu đó</p><p>Nên hộ trì ủng hộ</p><p>Mưa pháp khiến vui mừng</p><p>Một phen người đó nói</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa</p><p>Dù chỉ trong giây lát</p><p>Công đức như thế đó</p><p>Huống người rộng nói hết.</p><p>Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được tám trăm công đức thân. Thân đó thanh tịnh như lưu ly sạch, chúng sanh ưa nhìn. Do thân thanh tịnh nên trong tam thiên đại thiên thế giới chúng sanh sanh tử, hoặc xấu hoặc đẹp, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc khổ hoặc vui, thảy hiện trong thân, cùng núi Thiết Vi, Đại Thiết Vi, Tu Di, các núi, thảy đều hiện trong đó, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh, các chúng sanh và nghiệp nhân quả thảy hiện trong đó. Dầu chưa được thân kim cương mà thân thanh tịnh như thế.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Người trì kinh Pháp Hoa</p><p>Thân rất là thanh tịnh</p><p>Như lưu ly sạch trong</p><p>Chúng sanh ưa nhìn ngắm</p><p>Lại trong thân thanh tịnh</p><p>Hay hiện tất cả việc</p><p>Chỉ dùng thân sạch đó</p><p>Vì chúng mà thị hiện</p><p>Các việc trong ba cõi</p><p>Hoặc khổ hoặc vui mừng</p><p>Như Lai biết rõ hết</p><p>Mà vì chúng thị hiện</p><p>Người trì kinh Pháp Hoa</p><p>Công đức thân như thế</p><p>Dầu chưa được pháp thân</p><p>Vô lậu kim cương sắc</p><p>Mà thân có thế lực</p><p>Thanh tịnh sáng sạch vậy.</p><p>Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó sau khi Như Lai diệt độ, thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm ý công đức. Dùng ý căn thanh tịnh như thế, dù nghe một kệ, một câu thảy thâm nhập vô lượng vô biên nghĩa lý. Hiểu nghĩa lý như thế rồi, có thể diễn nói một câu, một kệ đến tháng, bốn tháng, nhẫn đến một năm. Các pháp trong ngoài mà ý căn nghe thảy không trái không sai.</p><p>Nếu nói thế tục sách vở, trị thế ngôn từ, các việc nuôi sống, cũng đều thuận theo chánh pháp. Trong tam thiên đại thiên thế giới sáu loài chúng sanh, tâm hành như thế nào, tâm tướng như thế nào, tâm tưởng như thế nào, dùng ý căn thanh tịnh đó thảy biết hết. Dầu chưa được vô lậu trí mà ý căn thanh tịnh có thế lực như thế.</p><p>Thường Tinh Tấn! Người Pháp sư này dùng ý căn thanh tịnh nghe các pháp, thảy đều không trái không sai, tùy chỗ nghi mà vì đó phân biệt.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Ý căn người đó sạch</p><p>Sáng sạch không cấu uế</p><p>Dùng ý biết các pháp</p><p>Từ sơ đến rốt ráo</p><p>Thảy đều biết hết thảy</p><p>Phân biệt không sai lầm</p><p>Tùy nghi mà diễn nói</p><p>Đều thuận chánh pháp vậy</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Nếu có người hay nói</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa</p><p>Ý căn người đó sạch</p><p>Dù chỉ nghe một câu</p><p>Thâm nhập vô biên nghĩa</p><p>Diễn nói trong một tháng</p><p>Bốn tháng một năm thảy</p><p>Trong thế giới này đây</p><p>Tất cả các chúng sanh</p><p>Trời rồng quỷ thần thảy</p><p>Người cùng phi nhân loại</p><p>Ở trong sáu đường đó</p><p>Tâm tưởng như thế nào</p><p>Do công đức ý căn</p><p>Đều khiến biết hết thảy</p><p>Vô lượng chư Phật mười phương</p><p>Trang nghiêm công đức thành</p><p>Nghe kinh mà tùy hỷ</p><p>Cũng biết hết thảy đó</p><p>Lại nghe một kệ kinh</p><p>Phân biệt vô biên nghĩa</p><p>Thuận pháp thứ lớp nói</p><p>Một tháng bốn tháng năm</p><p>Khi nói pháp như thế</p><p>Trong thế giới này đây</p><p>Trong ngoài các chúng sanh</p><p>Trời rồng người quỷ thần</p><p>Số đông bao nhiêu đó</p><p>Tâm hành như thế nào</p><p>Đều khiến biết hết thảy</p><p>Vì thọ trì kinh này</p><p>Được ý căn thanh tịnh</p><p>Dầu chưa được vô lậu</p><p>Mà hay biết như thế</p><p>Người trì kinh này được</p><p>Công đức ý căn đó</p><p>Dùng đó rộng phân biệt</p><p>Không có chút sợ sệt</p><p>Như sư tử rống vang</p><p>Nói kinh Pháp Hoa này</p><p>Như gió thổi mây nhỏ</p><p>Mà hay tan hết thảy</p><p>Khéo biết các pháp tướng</p><p>Biết thứ lớp Niết bàn</p><p>Mười phương đất chấn động</p><p>Ma chúng lòng sợ hãi</p><p>Vô lượng chư Như Lai</p><p>Nói kinh Pháp Hoa này</p><p>Người hay kính thọ trì</p><p>Ở đời mạt pháp sau</p><p>Được công đức như thế</p><p>Như trên đã nói rồi.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 19 Kinh Pháp Hoa (Pháp Sư Công Đức)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Pháp Sư Công Đức mô tả công đức vô lượng của những người thọ trì, đọc tụng, giảng nói Kinh Pháp Hoa, được gọi là Pháp sư. Phật dạy rằng người Pháp sư sẽ được sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) thanh tịnh, tăng trưởng trí huệ, thấy biết xa rộng, vượt qua phàm tình, và được chư Phật hộ niệm. Phẩm này khuyến khích hành giả trở thành Pháp sư, nhấn mạnh lợi ích của việc truyền bá kinh, giúp chúng sinh giác ngộ, và khẳng định Kinh Pháp Hoa mang lại phúc lợi hiện tại lẫn vị lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 19: Pháp Sư Công Đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Thường Tinh Tấn Bồ tát Ma ha tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, người đó sẽ được tám trăm công đức mắt, một nghìn hai trăm công đức tai, tám trăm công đức mũi, một nghìn hai trăm công đức lưỡi, tám trăm công đức thân, một nghìn hai trăm công đức ý.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những công đức đó trang nghiêm sáu căn, đều khiến thanh tịnh. Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó dùng nhục nhãn cha mẹ sanh thanh tịnh, thấy trong tam thiên đại thiên thế giới, trong ngoài núi Tu Di, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, cùng các núi khác, rừng lớn, sông lớn, biển lớn, cho đến dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh. Các chúng sanh trong đó cùng nghiệp báo chỗ thọ sanh thảy đều thấy biết. Dầu chưa được thiên nhãn mà nhục nhãn thế lực như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ở trong đại chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng lòng không sợ sệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có thể vì nói được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nghe công đức đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ta nay sẽ nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó được tám trăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức mắt thù thắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do công đức trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhục nhãn rất thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng nhục nhãn cha mẹ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh mà thấy khắp nơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Núi rừng sông biển cả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dưới đến A tỳ ngục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trên đến Hữu Đảnh trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đó các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều thấy hết thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu chưa được thiên nhãn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhục nhãn lực như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân thọ trì kinh này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm công đức tai. Dùng tai thanh tịnh đó nghe tất cả các thứ tiếng trong tam thiên đại thiên thế giới, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh, trong đó các thứ tiếng: tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trâu, tiếng khóc, tiếng buồn, tiếng trống, tiếng chuông, tiếng ốc, tiếng tù và, tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng tiêu, tiếng hát, tiếng ca, tiếng nam, tiếng nữ, tiếng đồng tử, tiếng đồng nữ, tiếng pháp, tiếng phi pháp, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phàm phu, tiếng Thánh nhân, tiếng khả ý, tiếng bất khả ý, thảy đều được nghe hết. Dầu chưa được thiên nhĩ mà dùng sức tai cha mẹ sanh tự nhiên nghe như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tai cha mẹ sanh ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thanh tịnh chẳng ô nhiễm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng tai thường nghe biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba nghìn thế giới tiếng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng trời, người, địa ngục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngạ quỷ, súc sanh thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Voi ngựa xe trâu dê&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng bán buôn kỹ nhạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng trống tù và chuông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng cười tiếng nói thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng nam nữ đại tiểu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng pháp phi pháp thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng khổ tiếng vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng phàm tiếng Thánh thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khả hoặc bất khả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều nghe hết thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nghe các trời tiếng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca hát âm thanh vang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng nghe nam nữ trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca hát tiếng âm nhạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ở trên núi non&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ca hát tiếng âm thanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các loài chim như ca&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lăng già, mạng mạng thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ tiếng như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều nghe hết thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dưới địa ngục khổ đau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng các thứ tiếng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngạ quỷ đói khát bức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu thực phát tiếng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A tu la các loại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở biển nói tiếng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ tiếng như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở gần mà nghe thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu chưa được thiên nhĩ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng dùng tai tự nhiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe biết như thế đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tai công đức thù thắng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được tám trăm công đức mũi. Dùng mũi thanh tịnh đó ngửi tất cả các mùi trong tam thiên đại thiên thế giới, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh: mùi chiên đàn, mùi đa ma la bạt, mùi hương hoa sen, mùi hoa ưu bát la, mùi hoa bà sư, mùi hoa mạn đà la, mùi hương bột, mùi hương xoa, mùi hương đốt, mùi hương hoa, mùi hương trái, mùi nhân sinh, mùi nam nữ, mùi cỏ cây rừng rú, mùi voi, mùi ngựa, mùi trâu, mùi dê, mùi xe, mùi thuốc, mùi dầu, thảy đều ngửi biết, không lầm lẫn. Dầu chưa được Bồ tát pháp tánh mũi mà mũi có thế lực như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mũi người đó thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong thế giới này đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả các thứ mùi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thơm thối thảy đều ngửi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chiên đàn đa ma la&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đa ma diệp hương thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ hoa quả mùi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các mùi chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mùi nam nữ đại tiểu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nói pháp xa ngửi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết chỗ ở của đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyển luân đại đế vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiểu vương cùng quyến thuộc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngửi mùi biết chỗ ở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ trân bảo tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như châu báu Như ý&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Voi ngựa bảy báu thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngửi mùi biết chỗ ở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trên thân Phật trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuỗi anh lạc ngửi mùi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết chỗ ở của đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các trời ở trên đỉnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cung điện cùng vườn cây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngửi mùi biết chỗ ở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngửi các hương thơm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngửi các hoa đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngửi các trái cây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngửi các thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngửi mùi chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều biết chỗ ở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai ở mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp độ chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngửi mùi biết chỗ ở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu chưa được Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp tánh mũi thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà mũi có thế lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ngửi biết như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm công đức lưỡi. Nếu có ngon xấu, khả ý bất khả ý, hoặc đắng hoặc chát, hoặc mặn hoặc lạt, hoặc ngọt hoặc cay, hoặc thô hoặc tế, thảy ở trên lưỡi đều hóa thành vị cam lồ thượng diệu. Nếu ở trong chúng dùng lưỡi diễn nói, thảy đều hoan hỷ tín thọ. Dầu chưa được Bồ tát vô ngại biện tài mà lưỡi có thế lực như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó lưỡi công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay phát tiếng vi diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến trong đại chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng đều nhu nhuyễn vui&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng lời nhu nhuyễn hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải thích các kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diễn nói nghĩa sâu xa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến thảy đều hoan hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các trời rồng thần thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A tu la ca lầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;La khẩn na la thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng cung kính nghe theo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nếu dùng lưỡi nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến các chúng sanh thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều được vui mừng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời mưa hoa mạn đà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;La cùng chiên đàn hương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các thứ hương bột&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng các thứ trân bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đẹp đẽ để cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nói pháp cùng Tăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các trời đại lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cung điện cùng vườn cây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều đến nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật biết lòng sâu đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên hộ trì ủng hộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mưa pháp khiến vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một phen người đó nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù chỉ trong giây lát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức như thế đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống người rộng nói hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được tám trăm công đức thân. Thân đó thanh tịnh như lưu ly sạch, chúng sanh ưa nhìn. Do thân thanh tịnh nên trong tam thiên đại thiên thế giới chúng sanh sanh tử, hoặc xấu hoặc đẹp, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc khổ hoặc vui, thảy hiện trong thân, cùng núi Thiết Vi, Đại Thiết Vi, Tu Di, các núi, thảy đều hiện trong đó, dưới đến địa ngục A tỳ, trên đến trời Hữu Đảnh, các chúng sanh và nghiệp nhân quả thảy hiện trong đó. Dầu chưa được thân kim cương mà thân thanh tịnh như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trì kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân rất là thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như lưu ly sạch trong&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh ưa nhìn ngắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại trong thân thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay hiện tất cả việc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ dùng thân sạch đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì chúng mà thị hiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các việc trong ba cõi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khổ hoặc vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai biết rõ hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà vì chúng thị hiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trì kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức thân như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu chưa được pháp thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu kim cương sắc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà thân có thế lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thanh tịnh sáng sạch vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, Thường Tinh Tấn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đó sau khi Như Lai diệt độ, thọ trì kinh Pháp Hoa này, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc giải nói, hoặc biên chép, được một nghìn hai trăm ý công đức. Dùng ý căn thanh tịnh như thế, dù nghe một kệ, một câu thảy thâm nhập vô lượng vô biên nghĩa lý. Hiểu nghĩa lý như thế rồi, có thể diễn nói một câu, một kệ đến tháng, bốn tháng, nhẫn đến một năm. Các pháp trong ngoài mà ý căn nghe thảy không trái không sai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nói thế tục sách vở, trị thế ngôn từ, các việc nuôi sống, cũng đều thuận theo chánh pháp. Trong tam thiên đại thiên thế giới sáu loài chúng sanh, tâm hành như thế nào, tâm tướng như thế nào, tâm tưởng như thế nào, dùng ý căn thanh tịnh đó thảy biết hết. Dầu chưa được vô lậu trí mà ý căn thanh tịnh có thế lực như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường Tinh Tấn! Người Pháp sư này dùng ý căn thanh tịnh nghe các pháp, thảy đều không trái không sai, tùy chỗ nghi mà vì đó phân biệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý căn người đó sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáng sạch không cấu uế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng ý biết các pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ sơ đến rốt ráo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều biết hết thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân biệt không sai lầm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy nghi mà diễn nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều thuận chánh pháp vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người hay nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý căn người đó sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù chỉ nghe một câu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thâm nhập vô biên nghĩa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diễn nói trong một tháng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn tháng một năm thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong thế giới này đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời rồng quỷ thần thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người cùng phi nhân loại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong sáu đường đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm tưởng như thế nào&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do công đức ý căn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều khiến biết hết thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng chư Phật mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trang nghiêm công đức thành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh mà tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng biết hết thảy đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nghe một kệ kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân biệt vô biên nghĩa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuận pháp thứ lớp nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một tháng bốn tháng năm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi nói pháp như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong thế giới này đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong ngoài các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời rồng người quỷ thần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông bao nhiêu đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm hành như thế nào&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều khiến biết hết thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được ý căn thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu chưa được vô lậu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà hay biết như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trì kinh này được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức ý căn đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng đó rộng phân biệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có chút sợ sệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như sư tử rống vang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói kinh Pháp Hoa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như gió thổi mây nhỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà hay tan hết thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo biết các pháp tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết thứ lớp Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười phương đất chấn động&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma chúng lòng sợ hãi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng chư Như Lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói kinh Pháp Hoa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay kính thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở đời mạt pháp sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được công đức như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trên đã nói rồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="13418997" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/e4adb6c2-9fe8-4446-a072-4c6570ea42ce/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">b9381f0d-c408-4c59-ad78-5e9f2c2a91f0</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/e4adb6c2-9fe8-4446-a072-4c6570ea42ce</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:28:38 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/421454ed-d35c-4cd5-98c0-664dee1c9309_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>838</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 18</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 18</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 18 Kinh Pháp Hoa (Tùy Hỷ Công Đức)</p><p>Phẩm Tùy Hỷ Công Đức nhấn mạnh công đức vô lượng của những người nghe Kinh Pháp Hoa và sanh lòng tùy hỷ (vui theo), dù chỉ nghe một phần nhỏ. Phật dùng các ví dụ để minh họa rằng công đức từ việc tùy hỷ, truyền bá kinh cho người khác vượt trội hơn bố thí vật chất hay cúng dường. Phẩm này khuyến khích hành giả không chỉ nghe mà còn chia sẻ kinh với người khác, tạo chuỗi công đức liên tục, dẫn đến thành tựu Phật quả, khẳng định sức mạnh của niềm vui và lòng tin trong việc tu hành.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 18: Tùy Hỷ Công Đức</p><p>Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh Pháp Hoa này mà tùy hỷ, được bao nhiêu phước?</p><p><br></p><p>Liền nói kệ hỏi rằng:</p><p>Sau khi Thế Tôn diệt</p><p>Nếu có người nghe kinh</p><p>Mà sanh lòng tùy hỷ</p><p>Được phước đức bao nhiêu?</p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ tát:</p><p><br></p><p>Di Lặc! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc người trí khác, hoặc lớn hoặc nhỏ, nghe kinh này mà tùy hỷ, ra khỏi pháp hội đến chỗ khác, hoặc ở trong Tăng già lam, hoặc chỗ vắng vẻ, hoặc trong thành phố, đường sá, làng xóm, hoặc nói cho cha mẹ, quyến thuộc, thiện hữu tri thức theo chỗ mình hiểu mà nói, những người đó nghe rồi đều tùy hỷ.</p><p><br></p><p>Lại có người nghe rồi lại đến chỗ khác nói, người kia nghe rồi cũng tùy hỷ, như thế truyền mãi đến người thứ năm mươi. Di Lặc! Công đức tùy hỷ của người thứ năm mươi nay ta sẽ nói, ông lắng nghe kỹ.</p><p>Ví như trong bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới sáu loài chúng sanh, hình sắc, hình tướng, hình lượng, hình mạo khác nhau, hoặc ưa sắc đẹp, hoặc ưa hình dáng, hoặc ưa thể chất, hoặc ưa oai nghi, những chúng sanh đó, nếu có người dùng các món vui để bố thí, thời người đó được phước rất nhiều.</p><p>Di Lặc! Nếu có người đem phước đó bố thí đầy bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới chúng sanh, được phước cũng nhiều, nhưng không bằng công đức tùy hỷ của người thứ năm mươi nghe kinh Pháp Hoa một bài kệ bốn câu mà tùy hỷ, phần trăm, phần nghìn, phần muôn ức, một phần nhỏ cũng không bằng kịp. Vì sao? Vì kinh Pháp Hoa này là chỗ chư Phật Như Lai bí mật, ở trong các kinh là bậc nhất, nếu có người nghe mà tùy hỷ ngợi khen, công đức vô lượng.</p><p>Di Lặc! Người thứ năm mươi nghe kinh Pháp Hoa tùy hỷ, công đức còn vô lượng, huống là người thứ nhất nghe mà tùy hỷ, công đức càng vô thượng vô lượng vô biên.</p><p>Di Lặc! Nếu có người vì kinh này đến Tăng già lam nghe kinh Pháp Hoa, trong khoảng giây lát nghe mà tùy hỷ ngợi khen, công đức người đó ở đời sau sẽ được sanh vào nhà giàu sang, hình dung đẹp đẽ, các căn thông lợi, trí huệ biện tài. Lại sanh chỗ nào cũng được mọi người kính trọng, chẳng bị khinh khi, miệng thường nói lời vui vẻ, nếu làm Tỳ kheo thời được A la hán quả, đủ tám giải thoát.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Nếu người ở pháp hội</p><p>Nghe thọ mạng Phật dài</p><p>Dù chỉ trong giây lát</p><p>Tùy hỷ công đức đó</p><p>Nay ta sẽ nói rõ</p><p>Ông nên lắng nghe kỹ</p><p>Giả sử có người dạy</p><p>Đầy dẫy khắp mười phương</p><p>Các loài sáu đường sanh</p><p>Hình tướng khác nhau thảy</p><p>Dùng các món vui đẹp</p><p>Bố thí đầy kiếp số</p><p>Được phước rất lớn lao</p><p>Nhưng không bằng người nghe</p><p>Kinh điển này tùy hỷ</p><p>Phần muôn một chẳng kịp</p><p>Huống người đầu tùy hỷ</p><p>Nếu người khuyên một người</p><p>Dẫn đến khiến nghe pháp</p><p>Mà nói kinh này hay</p><p>Nên nghe trong giây lát</p><p>Người đó được công đức</p><p>Ở đời sau được sanh</p><p>Vào nhà giàu sang tốt</p><p>Hình dung đẹp đẽ lạ</p><p>Các căn rất thông lợi</p><p>Trí huệ biện tài giỏi</p><p>Sinh chỗ nào cũng được</p><p>Mọi người đều kính trọng</p><p>Chẳng bị ai khinh khi</p><p>Miệng hay nói vui vẻ</p><p>Nếu có xuất gia tu</p><p>Được quả A la hán</p><p>Đủ tám giải thoát lớn</p><p>Công đức lớn như thế</p><p>Huống nhiều khuyên người nghe</p><p>Nếu người ở pháp hội</p><p>Nghe kinh Pháp Hoa này</p><p>Một kệ hay một câu</p><p>Hoặc một niệm tùy hỷ</p><p>Như thế đến người thứ</p><p>Năm mươi đều tùy hỷ</p><p>Công đức người thứ năm</p><p>Mươi vô lượng vô biên</p><p>Chẳng thể thí dụ kịp</p><p>Huống người đầu pháp hội</p><p>Nghe mà tùy hỷ vậy</p><p>Lại nếu có người nghe</p><p>Tùy hỷ mà nói cho</p><p>Quyến thuộc cùng thân hữu</p><p>Truyền mãi đến năm mươi</p><p>Công đức người sau cùng</p><p>Nay ta sẽ nói rõ</p><p>Ví như nạn đói lớn</p><p>Trải qua vô số năm</p><p>Lúa thóc rất khó được</p><p>Giá rất là đắt đỏ</p><p>Có người cầm vàng đến</p><p>Nước khác mua được gạo</p><p>Gạo lẫn cát sạn đất</p><p>Nửa ngon nửa xấu vậy</p><p>Lúc đó có quốc vương</p><p>Đến làm Chuyển luân vương</p><p>Người đó đem gạo xấu</p><p>Dâng vương được quả báo</p><p>Làm vương tử giàu sang</p><p>Huống đem gạo tốt dâng</p><p>Như Lai cũng như vậy</p><p>Là vua trong ba cõi</p><p>Tự tại chẳng bị chướng</p><p>Vì lòng đại bi thương</p><p>Hiện ở đời ác trược</p><p>Vì kẻ phước mỏng cạn</p><p>Mà nói kinh Pháp Hoa</p><p>Nếu người hay thọ trì</p><p>Đó là gạo tốt vậy</p><p>Người thứ nhất nghe kinh</p><p>Tùy hỷ mà truyền nói</p><p>Đó là vương tử vậy</p><p>Truyền mãi đến năm mươi</p><p>Công đức người sau cùng</p><p>Cũng hơn người bố thí</p><p>Vô lượng các trân bảo</p><p>Như trên đã nói rồi</p><p>Chẳng thể nghĩ bàn kịp</p><p>Huống người đầu pháp hội</p><p>Nghe mà tùy hỷ vậy</p><p>Nếu người khuyên nhiều người</p><p>Làm cho đều nghe kinh</p><p>Công đức người đó được</p><p>Sau khi mạng chung rồi</p><p>Đồng với Đà la ni</p><p>Sanh một chỗ với Phật</p><p>Trí huệ rất sáng suốt</p><p>Biện tài trăm nghìn muôn</p><p>Ức kiếp không thể kể</p><p>Hơi thở như hương chiên</p><p>Đàn từ miệng bay ra</p><p>Thường nói kinh Pháp Hoa</p><p>Công đức lớn như thế</p><p>Huống người đầu tùy hỷ.</p><p>Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát nói kệ khen rằng:</p><p>Thế Tôn nói pháp hay</p><p>Lâu nay chưa từng có</p><p>Công đức như trên nói</p><p>Rất lớn vô lượng vậy</p><p>Nếu có người nghe rồi</p><p>Tùy hỷ không nghi lầm</p><p>Ta nói người đó chắc</p><p>Thường gặp Phật không nghi.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 18 Kinh Pháp Hoa (Tùy Hỷ Công Đức)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Tùy Hỷ Công Đức nhấn mạnh công đức vô lượng của những người nghe Kinh Pháp Hoa và sanh lòng tùy hỷ (vui theo), dù chỉ nghe một phần nhỏ. Phật dùng các ví dụ để minh họa rằng công đức từ việc tùy hỷ, truyền bá kinh cho người khác vượt trội hơn bố thí vật chất hay cúng dường. Phẩm này khuyến khích hành giả không chỉ nghe mà còn chia sẻ kinh với người khác, tạo chuỗi công đức liên tục, dẫn đến thành tựu Phật quả, khẳng định sức mạnh của niềm vui và lòng tin trong việc tu hành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 18: Tùy Hỷ Công Đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh Pháp Hoa này mà tùy hỷ, được bao nhiêu phước?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền nói kệ hỏi rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Thế Tôn diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người nghe kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà sanh lòng tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được phước đức bao nhiêu?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc! Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc người trí khác, hoặc lớn hoặc nhỏ, nghe kinh này mà tùy hỷ, ra khỏi pháp hội đến chỗ khác, hoặc ở trong Tăng già lam, hoặc chỗ vắng vẻ, hoặc trong thành phố, đường sá, làng xóm, hoặc nói cho cha mẹ, quyến thuộc, thiện hữu tri thức theo chỗ mình hiểu mà nói, những người đó nghe rồi đều tùy hỷ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có người nghe rồi lại đến chỗ khác nói, người kia nghe rồi cũng tùy hỷ, như thế truyền mãi đến người thứ năm mươi. Di Lặc! Công đức tùy hỷ của người thứ năm mươi nay ta sẽ nói, ông lắng nghe kỹ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như trong bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới sáu loài chúng sanh, hình sắc, hình tướng, hình lượng, hình mạo khác nhau, hoặc ưa sắc đẹp, hoặc ưa hình dáng, hoặc ưa thể chất, hoặc ưa oai nghi, những chúng sanh đó, nếu có người dùng các món vui để bố thí, thời người đó được phước rất nhiều.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc! Nếu có người đem phước đó bố thí đầy bốn trăm muôn ức a tăng kỳ thế giới chúng sanh, được phước cũng nhiều, nhưng không bằng công đức tùy hỷ của người thứ năm mươi nghe kinh Pháp Hoa một bài kệ bốn câu mà tùy hỷ, phần trăm, phần nghìn, phần muôn ức, một phần nhỏ cũng không bằng kịp. Vì sao? Vì kinh Pháp Hoa này là chỗ chư Phật Như Lai bí mật, ở trong các kinh là bậc nhất, nếu có người nghe mà tùy hỷ ngợi khen, công đức vô lượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc! Người thứ năm mươi nghe kinh Pháp Hoa tùy hỷ, công đức còn vô lượng, huống là người thứ nhất nghe mà tùy hỷ, công đức càng vô thượng vô lượng vô biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc! Nếu có người vì kinh này đến Tăng già lam nghe kinh Pháp Hoa, trong khoảng giây lát nghe mà tùy hỷ ngợi khen, công đức người đó ở đời sau sẽ được sanh vào nhà giàu sang, hình dung đẹp đẽ, các căn thông lợi, trí huệ biện tài. Lại sanh chỗ nào cũng được mọi người kính trọng, chẳng bị khinh khi, miệng thường nói lời vui vẻ, nếu làm Tỳ kheo thời được A la hán quả, đủ tám giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người ở pháp hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe thọ mạng Phật dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù chỉ trong giây lát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy hỷ công đức đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta sẽ nói rõ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nên lắng nghe kỹ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả sử có người dạy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy dẫy khắp mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các loài sáu đường sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hình tướng khác nhau thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các món vui đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bố thí đầy kiếp số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được phước rất lớn lao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng không bằng người nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh điển này tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phần muôn một chẳng kịp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống người đầu tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người khuyên một người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn đến khiến nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nói kinh này hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên nghe trong giây lát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó được công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở đời sau được sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vào nhà giàu sang tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hình dung đẹp đẽ lạ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các căn rất thông lợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ biện tài giỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sinh chỗ nào cũng được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mọi người đều kính trọng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng bị ai khinh khi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Miệng hay nói vui vẻ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có xuất gia tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được quả A la hán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ tám giải thoát lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức lớn như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống nhiều khuyên người nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người ở pháp hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe kinh Pháp Hoa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một kệ hay một câu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc một niệm tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như thế đến người thứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm mươi đều tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người thứ năm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mươi vô lượng vô biên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng thể thí dụ kịp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống người đầu pháp hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe mà tùy hỷ vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nếu có người nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy hỷ mà nói cho&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc cùng thân hữu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Truyền mãi đến năm mươi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người sau cùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta sẽ nói rõ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như nạn đói lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải qua vô số năm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúa thóc rất khó được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giá rất là đắt đỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có người cầm vàng đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nước khác mua được gạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gạo lẫn cát sạn đất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nửa ngon nửa xấu vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó có quốc vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến làm Chuyển luân vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó đem gạo xấu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dâng vương được quả báo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm vương tử giàu sang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống đem gạo tốt dâng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai cũng như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là vua trong ba cõi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự tại chẳng bị chướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lòng đại bi thương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện ở đời ác trược&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì kẻ phước mỏng cạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nói kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là gạo tốt vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thứ nhất nghe kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy hỷ mà truyền nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là vương tử vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Truyền mãi đến năm mươi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người sau cùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng hơn người bố thí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng các trân bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trên đã nói rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng thể nghĩ bàn kịp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống người đầu pháp hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe mà tùy hỷ vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người khuyên nhiều người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm cho đều nghe kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người đó được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng với Đà la ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh một chỗ với Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ rất sáng suốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biện tài trăm nghìn muôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ức kiếp không thể kể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hơi thở như hương chiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đàn từ miệng bay ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nói kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức lớn như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống người đầu tùy hỷ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát nói kệ khen rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn nói pháp hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lâu nay chưa từng có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức như trên nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất lớn vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người nghe rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy hỷ không nghi lầm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nói người đó chắc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường gặp Phật không nghi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7427970" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/8e747888-26fd-4ebf-8cc5-602677b9e13b/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ac391603-eeb6-48df-8fb1-9f899483bb6f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/8e747888-26fd-4ebf-8cc5-602677b9e13b</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:27:37 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/184abf38-ce5c-4fcd-957c-7ce108f532b2_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>464</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 17</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 17</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 17 Kinh Pháp Hoa (Phân Biệt Công Đức)</p><p>Phẩm Phân Biệt Công Đức mô tả công đức vô lượng của những ai nghe Phật thọ mạng dài lâu trong phẩm trước và phát tâm hoan hỷ, tin nhận Kinh Pháp Hoa. Phật dùng các ví dụ về số lượng kiếp, chúng sinh để minh họa công đức từ việc nghe, tin, nói, viết kinh, thậm chí chỉ một niệm hoan hỷ cũng mang lại phước báo lớn lao, dẫn đến thành Phật. Phẩm này khuyến khích hành giả siêng năng tu tập, khẳng định giá trị tối thượng của Kinh Pháp Hoa trong việc tích lũy công đức và giác ngộ.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 17: Phân Biệt Công Đức</p><p>Bấy giờ, đại hội nghe Phật nói thọ mạng kiếp số lâu xa như thế, được lợi ích lớn chưa từng có. Đức Thế Tôn biết lòng đại chúng đều sanh lòng hoan hỷ sâu xa, liền bảo Ngài Di Lặc Bồ tát rằng:</p><p><br></p><p>Di Lặc! Khi ta nói thọ mạng của Như Lai lâu xa như thế, có sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh được Vô sanh pháp nhẫn.</p><p><br></p><p>Lại có nghìn lần Bồ tát Ma ha tát được Vô sanh pháp nhẫn, được nghe pháp tổng trì. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được nhạc thuyết vô ngại biện. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ đà la ni môn.</p><p>Lại có bốn thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô ngại trí. Lại có ba thế giới vi trần số Đại Bồ tát được ba vô ngại trí. Lại có hai thế giới vi trần số Đại Bồ tát được hai vô ngại trí. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được một vô ngại trí. Lại có bốn tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát đầy đủ tám bộ Đại thừa pháp tạng. Lại có bốn tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô lượng tâm. Lại có ba tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa A duy việt chí. Lại có hai tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa Bất thối chuyển. Lại có tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa Hoan hỷ. Lại có tám thế giới vi trần số Đại Bồ tát được Đà la ni môn. Lại có bốn thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô ngại biện.</p><p>Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu đi nhiễu ba vòng, chấp tay mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Lời nói sâu xa đó chưa từng có, khiến chúng sanh được công đức lớn. Bạch Thế Tôn! Như Lai thọ mạng dài lâu như thế, các chúng sanh nghe rồi, hoặc tin hoặc chẳng tin, được công đức bao nhiêu?</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ tát:</p><p><br></p><p>Di Lặc! Khi ta nói thọ mạng Như Lai lâu xa, có sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh được Vô sanh pháp nhẫn. Lại có nghìn lần Bồ tát Ma ha tát được nghe pháp tổng trì. Lại có một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát được lạc thuyết vô ngại biện. Lại có một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ các đà la ni môn.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Ta nhớ kiếp quá khứ</p><p>Vô lượng vô số kiếp</p><p>Có Phật ra ở đời</p><p>Hiệu Đại Thông Trí Thắng</p><p>Trước khi Phật xuất gia</p><p>Đã có mười sáu con</p><p>Vì Phật ra ở đời</p><p>Cùng thầy đi nghe pháp</p><p>Vì cầu Phật đạo nên</p><p>Đều theo Phật xuất gia</p><p>Những đồng tử thuở trước</p><p>Siêng tu hành Phật đạo</p><p>Nay đều được hiện tiền</p><p>Và được thọ ký rồi</p><p>Ta ở các cõi xấu</p><p>Nói pháp cho chúng sanh</p><p>Dùng các việc nhân duyên</p><p>Dẫn dắt khiến vào đạo</p><p>Từ ta thành Phật rồi</p><p>Thường ở cõi Ta Bà</p><p>Thọ mạng vô lượng kiếp</p><p>Thường trụ chẳng diệt độ</p><p>Các ông chớ tin vậy</p><p>Vì chưa hết khổ gốc</p><p>Từ lâu phát nguyện rằng</p><p>Nguyện khiến các chúng sanh</p><p>Đầy đủ khắp mười phương</p><p>Đều được vui như ta</p><p>Ta hiện thần thông lực</p><p>Trong a tăng kỳ kiếp</p><p>Thường ở núi Kỳ Xà</p><p>Và các trụ xứ khác</p><p>Chúng nghe ta nói pháp</p><p>Thấy thời kiếp thiêu đốt</p><p>Các khổ đầy dẫy khắp</p><p>Chư thiên và nhân loại</p><p>Cùng các loài bần khổ</p><p>Vì đó ta phương tiện</p><p>Hiện tướng Niết bàn đây</p><p>Mà nói các pháp thật</p><p>Các ông nay đã thấy</p><p>Ta thường trụ nơi này</p><p>Dùng sức thần thông vậy</p><p>Khiến chúng điên đảo kia</p><p>Dầu gần mà chẳng thấy</p><p>Tất cả thấy thân ta</p><p>Nghe pháp tin thọ vậy</p><p>Vì những kẻ hạ căn</p><p>Hiện thân diệt độ đây</p><p>Nếu chưa trừ được dục</p><p>Chẳng nói thọ mạng thật</p><p>Đến lúc dục hết rồi</p><p>Mới hiện thọ mạng thật.</p><p>Phật nói lời như thế</p><p>Công đức chẳng lường được</p><p>Ví như có người nói</p><p>Phật nay nhập Niết bàn</p><p>Nghe rồi chẳng kinh sợ</p><p>Mà sanh lòng hy hữu</p><p>Được công đức vô lượng</p><p>Như trên đã nói rồi</p><p>Lại các thiện nam tử</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Người hay thọ trì kinh</p><p>Đọc tụng kinh Pháp Hoa</p><p>Công đức của người đó</p><p>Nay ta sẽ phân biệt</p><p>Ở trong năm mươi kiếp</p><p>Giả sử có chúng sanh</p><p>Hoan hỷ trong khoảng khảy</p><p>Móng tay mà tin kính</p><p>Công đức người đó nhiều</p><p>Hơn người thí cúng dường</p><p>Vô lượng cõi thế giới</p><p>Voi ngựa cùng thất bảo</p><p>Và các thứ xe cộ</p><p>Da dê và các tòa báu</p><p>Vợ con cùng tôi tớ</p><p>Bố thí cầu công đức</p><p>Công đức người hoan hỷ</p><p>Tin kính trong chốc lát</p><p>Nhiều hơn người bố thí</p><p>Gấp trăm nghìn muôn ức</p><p>Lần người kia công đức</p><p>Nếu lòng rất vui mừng</p><p>Tin Phật thọ mạng dài</p><p>Công đức chẳng lường được</p><p>Ví như hư không đông</p><p>Tây nam bắc bốn phía</p><p>Trên dưới không ngằn mé</p><p>Công đức cũng như thế</p><p>Vô lượng vô biên vậy</p><p>Huống lại người thọ trì</p><p>Đọc tụng hiểu nghĩa kinh</p><p>Và theo kinh tu hành</p><p>Kiêm khiến người khác tu</p><p>Công đức rất nhiều hơn</p><p>Nếu ở trước tháp miếu</p><p>Tượng vẽ và các hoa</p><p>Kỹ nhạc cùng hợp chưởng</p><p>Cung kính mà ngợi khen</p><p>Hoặc có người khuyến người</p><p>Làm nhạc hoặc vui cười</p><p>Vì cúng dường kinh điển</p><p>Chốc lát phát âm thanh</p><p>Người đó ở đời sau</p><p>Được thành Phật trí huệ</p><p>Nếu ở trong đời mạt</p><p>Có người hay thọ trì</p><p>Kinh điển này thời phước</p><p>Nhiều hơn người kia lắm</p><p>Nếu có người thọ trì</p><p>Kinh điển này rồi đem</p><p>Tặng cho người khác nữa</p><p>Hoặc khiến người sao chép</p><p>Công đức chẳng lường được</p><p>Huống lại người cúng dường</p><p>Kinh điển bằng hoa hương</p><p>Chuỗi ngọc cùng hương bột</p><p>Hương xoa hương đốt thảy</p><p>Lọng phan cùng tàn cái</p><p>Các thứ âm nhạc hay</p><p>Hoặc đốt các đèn dầu</p><p>Đèn mỡ đèn hương thắp</p><p>Cúng dường kinh điển này</p><p>Công đức vô lượng vậy</p><p>Đời ác có kinh này</p><p>Nếu người hay thọ trì</p><p>Hoặc Bồ tát hoặc Phật</p><p>Ta sanh lòng vui mừng</p><p>Những người như thế đó</p><p>Biết là sứ giả Phật</p><p>Vì lợi ích chúng sanh</p><p>Đến ở cõi Ta Bà</p><p>Để nghe kinh Pháp Hoa</p><p>Một phen nghe rồi vui</p><p>Công đức vô lượng vậy</p><p>Huống ở trong đại chúng</p><p>Vì người phân biệt nói</p><p>Theo đó mà thọ trì</p><p>Công đức hơn trên nữa</p><p>Nếu người vì kinh này</p><p>Khuyên một người khiến nghe</p><p>Mà nói kinh vương này</p><p>Mãi mãi được thù thắng</p><p>Người đó được nghe rồi</p><p>Lần lần cũng được nghe</p><p>Công đức người đó được</p><p>Sau khi mạng chung rồi</p><p>Sanh lên trời Đao Lợi</p><p>Ba mươi hai tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh chỗ trời Diệm Ma</p><p>Ba mươi bốn tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh chỗ trời Đâu Suất</p><p>Ba mươi sáu tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh chỗ trời Hóa Lạc</p><p>Ba mươi tám tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh chỗ trời Tha Hóa</p><p>Bốn mươi tướng tốt đẹp</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Lại người đó công đức</p><p>Sanh Phạm Chúng thiên vương</p><p>Bốn mươi hai tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh Phạm Phụ thiên vương</p><p>Bốn mươi bốn tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh Đại Phạm thiên vương</p><p>Bốn mươi sáu tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Lại người đó công đức</p><p>Sanh Quang Âm thiên vương</p><p>Bốn mươi tám tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh Biến Tịnh thiên vương</p><p>Năm mươi tướng tốt đẹp</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh Quảng Quả thiên vương</p><p>Năm mươi hai tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Từ đó mạng chung rồi</p><p>Sanh Tịnh Cư thiên vương</p><p>Năm mươi bốn tướng tốt</p><p>Quyến thuộc hai mươi lăm</p><p>Như thế lần tăng lên</p><p>Cho đến diệt kiếp không</p><p>Sanh chỗ Sắc Cứu Cánh</p><p>Đầy đủ trăm nghìn công</p><p>Đức trí huệ biện tài</p><p>Vì trời nói pháp vậy</p><p>Nếu có người phân biệt</p><p>Khuyến phát các chúng sanh</p><p>Vào trong pháp tạng này</p><p>Công đức vô lượng vậy</p><p>Nếu người đọc tụng kinh</p><p>Giải nói nghĩa thú kinh</p><p>Công đức rất nhiều hơn</p><p>Không thể tính kể được</p><p>Nếu người ở trong tháp</p><p>Xây bằng thất bảo đẹp</p><p>Cao rộng rất trang nghiêm</p><p>Mà cúng dường kinh điển</p><p>Công đức vô lượng vậy</p><p>Huống lại người siêng năng</p><p>Xây tháp cùng Tăng phòng</p><p>Dùng các thứ trang nghiêm</p><p>Xá lợi Phật cúng dường</p><p>Hoặc khiến người khác làm</p><p>Hoặc sanh lòng tùy hỷ</p><p>Ngợi khen mà ca tụng</p><p>Công đức người đó được</p><p>Trong trăm nghìn muôn ức</p><p>Kiếp số không thể nói</p><p>Công đức người như thế</p><p>Như hư không mười phương</p><p>Vô lượng vô biên vậy</p><p>Nếu người tin sâu nhân</p><p>Quả thọ mạng Phật dài</p><p>Thấy Phật thường ở núi</p><p>Kỳ Xà cùng Tăng chúng</p><p>Nói kinh Pháp Hoa đây</p><p>Lại thấy nghìn muôn ức</p><p>Cõi nước nhiều như cát</p><p>Sông Hằng các chúng sanh</p><p>Có Phật đạo sáu thông</p><p>Công đức người đó được</p><p>Vô lượng rất lớn lao</p><p>Vô số a tăng kỳ</p><p>Kiếp vẫn làm Phạm vương</p><p>Huống lại người tin nhận</p><p>Thọ trì kinh điển này</p><p>Bỏ pháp lệnh quốc vương</p><p>Quyên thuộc cùng ngũ dục</p><p>Tùy sức mình có thể</p><p>Làm các việc cúng dường</p><p>Công đức người đó được</p><p>Nếu ở đời mạt pháp</p><p>Có người hay nói kinh</p><p>Một phen nghe như thế</p><p>Hoan hỷ mà tin nhận</p><p>Công đức hơn người kia</p><p>Trừ Phật không ai kể</p><p>Huống lại người thọ trì</p><p>Đọc tụng hiểu nghĩa kinh</p><p>Người đó ở trên đầu</p><p>Mang Phật chẳng ai hơn</p><p>Nếu dùng miệng vì nói</p><p>Hoặc khiến người khác nghe</p><p>Hoặc tự tay sao chép</p><p>Hoặc khiến người sao chép</p><p>Dùng hoa hương chuỗi ngọc</p><p>Hương đốt hương bột thảy</p><p>Lọng phan tàn cái tốt</p><p>Cúng dường sách kinh điển</p><p>Hoặc sanh lòng tùy hỷ</p><p>Dùng các việc ngợi khen</p><p>Trong chốc lát như thế</p><p>Công đức vô lượng vậy</p><p>Nếu có người nghe kinh</p><p>Hoan hỷ mà tin nhận</p><p>Công đức vô lượng vậy</p><p>Như trên đã phân biệt</p><p>Huống lại ở đời mạt</p><p>Thọ trì đọc tụng kinh</p><p>Và vì người diễn nói.</p><p>Bấy giờ, Đức Phật lại bảo Ngài Di Lặc Bồ tát rằng:</p><p><br></p><p>Di Lặc! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe Phật thọ mạng dài lâu mà sanh một niệm tin hiểu, công đức chẳng hạn lượng.</p><p><br></p><p>Ví như có người trồng một hạt giống, từ hạt giống đó sanh cây đại thọ, cành lá sum suê, công đức người đó cũng lại như thế, vô lượng vô biên.</p><p>Nếu có người tin Phật thọ mạng chẳng phải pháp sanh diệt, thấy như hư không thường trụ, thấy Phật thường ở núi Kỳ Xà Quật cùng các Đại Bồ tát và Thanh văn chúng vây quanh nói kinh Pháp Hoa, lại thấy cõi Ta Bà đất bằng lưu ly trong ngoài sáng sạch, công đức người đó cũng vô lượng.</p><p>Như thế, người ở đời mạt pháp nghe kinh này mà sanh lòng tin hiểu, công đức chẳng thể kể xiết.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 17 Kinh Pháp Hoa (Phân Biệt Công Đức)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Phân Biệt Công Đức mô tả công đức vô lượng của những ai nghe Phật thọ mạng dài lâu trong phẩm trước và phát tâm hoan hỷ, tin nhận Kinh Pháp Hoa. Phật dùng các ví dụ về số lượng kiếp, chúng sinh để minh họa công đức từ việc nghe, tin, nói, viết kinh, thậm chí chỉ một niệm hoan hỷ cũng mang lại phước báo lớn lao, dẫn đến thành Phật. Phẩm này khuyến khích hành giả siêng năng tu tập, khẳng định giá trị tối thượng của Kinh Pháp Hoa trong việc tích lũy công đức và giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 17: Phân Biệt Công Đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, đại hội nghe Phật nói thọ mạng kiếp số lâu xa như thế, được lợi ích lớn chưa từng có. Đức Thế Tôn biết lòng đại chúng đều sanh lòng hoan hỷ sâu xa, liền bảo Ngài Di Lặc Bồ tát rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc! Khi ta nói thọ mạng của Như Lai lâu xa như thế, có sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh được Vô sanh pháp nhẫn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có nghìn lần Bồ tát Ma ha tát được Vô sanh pháp nhẫn, được nghe pháp tổng trì. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được nhạc thuyết vô ngại biện. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ đà la ni môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có bốn thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô ngại trí. Lại có ba thế giới vi trần số Đại Bồ tát được ba vô ngại trí. Lại có hai thế giới vi trần số Đại Bồ tát được hai vô ngại trí. Lại có một thế giới vi trần số Đại Bồ tát được một vô ngại trí. Lại có bốn tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát đầy đủ tám bộ Đại thừa pháp tạng. Lại có bốn tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô lượng tâm. Lại có ba tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa A duy việt chí. Lại có hai tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa Bất thối chuyển. Lại có tiểu thế giới vi trần số Đại Bồ tát trụ địa Hoan hỷ. Lại có tám thế giới vi trần số Đại Bồ tát được Đà la ni môn. Lại có bốn thế giới vi trần số Đại Bồ tát được bốn vô ngại biện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ tát từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu đi nhiễu ba vòng, chấp tay mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Lời nói sâu xa đó chưa từng có, khiến chúng sanh được công đức lớn. Bạch Thế Tôn! Như Lai thọ mạng dài lâu như thế, các chúng sanh nghe rồi, hoặc tin hoặc chẳng tin, được công đức bao nhiêu?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc! Khi ta nói thọ mạng Như Lai lâu xa, có sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh được Vô sanh pháp nhẫn. Lại có nghìn lần Bồ tát Ma ha tát được nghe pháp tổng trì. Lại có một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát được lạc thuyết vô ngại biện. Lại có một thế giới vi trần số Bồ tát Ma ha tát được trăm nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ các đà la ni môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nhớ kiếp quá khứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô số kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có Phật ra ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiệu Đại Thông Trí Thắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trước khi Phật xuất gia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã có mười sáu con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì Phật ra ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng thầy đi nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cầu Phật đạo nên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều theo Phật xuất gia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những đồng tử thuở trước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Siêng tu hành Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay đều được hiện tiền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và được thọ ký rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở các cõi xấu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp cho chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các việc nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn dắt khiến vào đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ ta thành Phật rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ở cõi Ta Bà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ mạng vô lượng kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ chẳng diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông chớ tin vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì chưa hết khổ gốc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ lâu phát nguyện rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguyện khiến các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ khắp mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều được vui như ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta hiện thần thông lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong a tăng kỳ kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ở núi Kỳ Xà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các trụ xứ khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng nghe ta nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy thời kiếp thiêu đốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các khổ đầy dẫy khắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư thiên và nhân loại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng các loài bần khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì đó ta phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện tướng Niết bàn đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nói các pháp thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông nay đã thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta thường trụ nơi này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng sức thần thông vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến chúng điên đảo kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu gần mà chẳng thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả thấy thân ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp tin thọ vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì những kẻ hạ căn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện thân diệt độ đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu chưa trừ được dục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng nói thọ mạng thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến lúc dục hết rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới hiện thọ mạng thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói lời như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức chẳng lường được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như có người nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nay nhập Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe rồi chẳng kinh sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà sanh lòng hy hữu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được công đức vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trên đã nói rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại các thiện nam tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay thọ trì kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức của người đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta sẽ phân biệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong năm mươi kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả sử có chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoan hỷ trong khoảng khảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Móng tay mà tin kính&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người đó nhiều&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hơn người thí cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng cõi thế giới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Voi ngựa cùng thất bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các thứ xe cộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Da dê và các tòa báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vợ con cùng tôi tớ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bố thí cầu công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người hoan hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tin kính trong chốc lát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều hơn người bố thí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gấp trăm nghìn muôn ức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần người kia công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lòng rất vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tin Phật thọ mạng dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức chẳng lường được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như hư không đông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tây nam bắc bốn phía&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trên dưới không ngằn mé&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức cũng như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô biên vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống lại người thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng hiểu nghĩa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và theo kinh tu hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiêm khiến người khác tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức rất nhiều hơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ở trước tháp miếu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tượng vẽ và các hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kỹ nhạc cùng hợp chưởng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cung kính mà ngợi khen&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc có người khuyến người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm nhạc hoặc vui cười&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cúng dường kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chốc lát phát âm thanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó ở đời sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được thành Phật trí huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ở trong đời mạt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có người hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh điển này thời phước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều hơn người kia lắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh điển này rồi đem&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tặng cho người khác nữa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khiến người sao chép&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức chẳng lường được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống lại người cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh điển bằng hoa hương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuỗi ngọc cùng hương bột&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương xoa hương đốt thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lọng phan cùng tàn cái&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ âm nhạc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc đốt các đèn dầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đèn mỡ đèn hương thắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường kinh điển này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đời ác có kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc Bồ tát hoặc Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sanh lòng vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những người như thế đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết là sứ giả Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lợi ích chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến ở cõi Ta Bà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để nghe kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một phen nghe rồi vui&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống ở trong đại chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì người phân biệt nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo đó mà thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức hơn trên nữa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người vì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khuyên một người khiến nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nói kinh vương này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mãi mãi được thù thắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó được nghe rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần lần cũng được nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người đó được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh lên trời Đao Lợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba mươi hai tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh chỗ trời Diệm Ma&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba mươi bốn tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh chỗ trời Đâu Suất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba mươi sáu tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh chỗ trời Hóa Lạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba mươi tám tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh chỗ trời Tha Hóa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn mươi tướng tốt đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại người đó công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh Phạm Chúng thiên vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn mươi hai tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh Phạm Phụ thiên vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn mươi bốn tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh Đại Phạm thiên vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn mươi sáu tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại người đó công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh Quang Âm thiên vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn mươi tám tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh Biến Tịnh thiên vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm mươi tướng tốt đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh Quảng Quả thiên vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm mươi hai tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh Tịnh Cư thiên vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm mươi bốn tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyến thuộc hai mươi lăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như thế lần tăng lên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho đến diệt kiếp không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh chỗ Sắc Cứu Cánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ trăm nghìn công&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức trí huệ biện tài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì trời nói pháp vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người phân biệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khuyến phát các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vào trong pháp tạng này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người đọc tụng kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải nói nghĩa thú kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức rất nhiều hơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thể tính kể được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người ở trong tháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xây bằng thất bảo đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cao rộng rất trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà cúng dường kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống lại người siêng năng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xây tháp cùng Tăng phòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các thứ trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá lợi Phật cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khiến người khác làm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc sanh lòng tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngợi khen mà ca tụng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người đó được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong trăm nghìn muôn ức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp số không thể nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hư không mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô biên vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người tin sâu nhân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quả thọ mạng Phật dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Phật thường ở núi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kỳ Xà cùng Tăng chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói kinh Pháp Hoa đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy nghìn muôn ức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước nhiều như cát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sông Hằng các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có Phật đạo sáu thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người đó được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng rất lớn lao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô số a tăng kỳ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp vẫn làm Phạm vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống lại người tin nhận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ trì kinh điển này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỏ pháp lệnh quốc vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyên thuộc cùng ngũ dục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy sức mình có thể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm các việc cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức người đó được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ở đời mạt pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có người hay nói kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một phen nghe như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoan hỷ mà tin nhận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức hơn người kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trừ Phật không ai kể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống lại người thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng hiểu nghĩa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó ở trên đầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mang Phật chẳng ai hơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu dùng miệng vì nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khiến người khác nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc tự tay sao chép&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc khiến người sao chép&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng hoa hương chuỗi ngọc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương đốt hương bột thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lọng phan tàn cái tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường sách kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc sanh lòng tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các việc ngợi khen&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong chốc lát như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người nghe kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoan hỷ mà tin nhận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức vô lượng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trên đã phân biệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huống lại ở đời mạt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ trì đọc tụng kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và vì người diễn nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật lại bảo Ngài Di Lặc Bồ tát rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe Phật thọ mạng dài lâu mà sanh một niệm tin hiểu, công đức chẳng hạn lượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như có người trồng một hạt giống, từ hạt giống đó sanh cây đại thọ, cành lá sum suê, công đức người đó cũng lại như thế, vô lượng vô biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người tin Phật thọ mạng chẳng phải pháp sanh diệt, thấy như hư không thường trụ, thấy Phật thường ở núi Kỳ Xà Quật cùng các Đại Bồ tát và Thanh văn chúng vây quanh nói kinh Pháp Hoa, lại thấy cõi Ta Bà đất bằng lưu ly trong ngoài sáng sạch, công đức người đó cũng vô lượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như thế, người ở đời mạt pháp nghe kinh này mà sanh lòng tin hiểu, công đức chẳng thể kể xiết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="13740408" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3c0ce1f9-da99-4296-b706-da1ef76cb1b5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">7c80d161-74d2-4247-8071-777b87293c60</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3c0ce1f9-da99-4296-b706-da1ef76cb1b5</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:25:55 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/ea521075-30eb-4ee8-8b10-784c81367cf8_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>858</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 16</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 16</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 16 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thọ Lượng)</p><p>Phẩm Như Lai Thọ Lượng là phần cốt lõi của Kinh Pháp Hoa, nơi Đức Phật tiết lộ thọ mạng của Ngài là vô lượng kiếp, không phải chỉ sinh ra và nhập diệt trong kiếp này. Việc Phật thị hiện sinh, thành đạo, thuyết pháp và nhập Niết bàn chỉ là phương tiện để giáo hóa chúng sinh, giúp họ tránh kiêu mạn và siêng năng tu hành. Phẩm này khẳng định tính vĩnh cửu của Phật tánh và pháp nhất thừa, khuyến khích niềm tin kiên cố vào Kinh Pháp Hoa, dẫn đến giác ngộ và giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 16: Như Lai Thọ Lượng</p><p>Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Đại Bồ tát và đại chúng:</p><p><br></p><p>Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.</p><p><br></p><p>Lại bảo đại chúng:</p><p><br></p><p>Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.</p><p><br></p><p>Lại bảo đại chúng rằng:</p><p><br></p><p>Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, đại chúng Bồ tát với Ngài Di Lặc làm thượng thủ chấp tay bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.</p><p><br></p><p>Như thế ba lần bạch rồi lại bạch rằng:</p><p><br></p><p>Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết các vị Bồ tát ba lần khôn thôi mà bảo rằng:</p><p><br></p><p>Các ông lắng nghe kỹ lời bí mật cùng thần thông của chư Phật. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời. Các ông cho rằng chư Phật Như Lai chỉ vì diệt độ chúng sanh mà hiện ra ở đời chăng? Chẳng phải vậy. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai vì khiến chúng sanh khai Phật tri kiến khiến cho thanh tịnh mà hiện ra ở đời; vì chỉ bày Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì ngộ Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì nhập Phật tri kiến đạo mà hiện ra ở đời. Các thiện nam tử! Đó là chư Phật Như Lai chỉ vì một việc nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời.</p><p>Các thiện nam tử! Ví như có thế giới Tam thiên Đại thiên nhiều như số cát sông Hằng, lấy đó làm hạt giống, có người nghiền nát làm vi trần, qua phương Đông trải qua nghìn thế giới mới rớt một hạt vi trần, cứ như thế qua phương Đông rớt hết số vi trần đó. Các ông nghĩ sao? Số thế giới đó có thể nghĩ bàn tính kể biết được chăng?</p><p><br></p><p>Di Lặc Bồ tát thảy đều bạch Phật:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Số thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải toán số hay thí dụ có thể biết được. Những thế giới đó đều là do Bồ tát thừa A duy việt chí mà cũng chẳng có thể biết được ngằn mé. Vì sao? Vì các vị Bồ tát đó còn chưa được Vô sanh pháp nhẫn.</p><p><br></p><p>Phật bảo các vị Bồ tát:</p><p><br></p><p>Các thiện nam tử! Nay ta nói rõ cho các ông: Số thế giới đó nếu nghiền nát làm vi trần, chẳng phải pháp vi trần, số đó như vi trần. Mỗi một vi trần là một kiếp, từ ta thành Phật đến nay lại hơn số đó trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó đến nay ta thường ở cõi Ta Bà này thuyết pháp giáo hóa, cùng ở nơi khác trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước dẫn dắt lợi ích chúng sanh.</p><p>Các thiện nam tử! Trong khoảng đó ta nói Phật Nhiên Đăng v.v... và nói trong đó có Phật nhập Niết bàn, đều là phương tiện phân biệt. Các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn xem căn tánh lợi độn của đó mà độ thoát, chỗ chỗ tự nói danh tự khác nhau, tuổi lớn nhỏ, cũng lại hiện nói ta sẽ nhập Niết bàn, lại dùng các phương tiện nói pháp vi diệu độ thoát chúng sanh khổ.</p><p>Các thiện nam tử! Như Lai thấy chúng sanh ưa pháp nhỏ, đức mỏng cấu nặng, vì những người đó mà nói: Ta lúc trẻ xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng thật từ ta thành Phật đến nay lâu xa như thế, chỉ dùng đó giáo hóa chúng sanh khiến vào Phật đạo, làm các phương tiện như thế.</p><p>Các thiện nam tử! Kinh điển của Như Lai nói ra đều là vì độ thoát chúng sanh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc thị hiện việc, hoặc biểu thị lời nói, hoặc thí dụ việc đã có, hoặc thí dụ việc chưa có. Các lời nói ra đều là chơn thật không hư dối.</p><p>Vì sao? Vì Như Lai biết rõ tướng của chúng sanh, tánh dục gì, chứa gì trong lòng, dùng các nhân duyên, thí dụ, lời lẽ, sức phương tiện mà theo nghi nói pháp như mục đích điều phục của Như Lai không hề sai lầm.</p><p>Các thiện nam tử! Như Lai làm việc lợi ích cho thế gian đều đã viên mãn. Chỗ thọ mạng của ta nay đã hết, lúc nhập Niết bàn đã đến, thời phải nên dặn bảo các Tỳ kheo: Thường siêng tu hành, theo Phật pháp mà tu hành, được thấy tánh chân thật, mau đến đạo tràng.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Từ ta thành Phật đạo</p><p>Trải qua số kiếp đông</p><p>Vô lượng trăm nghìn muôn</p><p>Ức a tăng kỳ số</p><p>Thường nói pháp giáo hóa</p><p>Vô số muôn ức chúng</p><p>Dẫn vào Phật đạo vậy</p><p>Từ đó vô số kiếp</p><p>Vì độ các chúng sanh</p><p>Phương tiện hiện Niết bàn</p><p>Mà thật chẳng diệt độ</p><p>Thường trụ đây nói pháp</p><p>Ta thường trụ cõi này</p><p>Dùng các sức thần thông</p><p>Khiến chúng sanh điên đảo</p><p>Dầu gần mà chẳng thấy</p><p>Chúng thấy ta diệt độ</p><p>Rộng cúng dường xá lợi</p><p>Tất đều sanh lòng nhớ</p><p>Mà sanh tâm khát ngưỡng</p><p>Chúng sanh đã thuần tin</p><p>Chất trực ý nhu nhuyễn</p><p>Một lòng muốn thấy Phật</p><p>Chẳng tiếc thân mạng mình</p><p>Thời ta và Tăng chúng</p><p>Đồng ra nơi Linh Thứu</p><p>Lúc đó ta vì chúng</p><p>Nói pháp thật bất diệt</p><p>Như hư không thường trụ</p><p>Chẳng sanh cũng chẳng diệt</p><p>Vì độ kẻ ít đức</p><p>Ta hiện sức thần thông</p><p>Trải qua a tăng kỳ</p><p>Kiếp số có chúng sanh</p><p>Nói Phật nhập Niết bàn</p><p>Mà chẳng nghe pháp này</p><p>Chẳng biết việc Phật làm</p><p>Nếu người tu thiện pháp</p><p>Ý nhu nhuyễn chất trực</p><p>Thời ta đều nói rằng</p><p>Thọ mạng Phật rất dài</p><p>Lâu xa mới gặp Phật</p><p>Vì độ chúng sanh vậy</p><p>Như vị lương y kia</p><p>Trí huệ thông đạt sáng</p><p>Khéo pha chế thuốc hay</p><p>Cứu trị các chứng bệnh</p><p>Người đó có nhiều con</p><p>Mười người hoặc trăm nghìn</p><p>Vì có việc nhân duyên</p><p>Qua nước khác xa xôi</p><p>Các con uống thuốc độc</p><p>Thuốc phát cuồng loạn ngã</p><p>Lúc đó cha trở về</p><p>Các con đều nghịch độc</p><p>Hoặc mất tâm bản tánh</p><p>Hoặc chưa mất tâm tánh</p><p>Xa thấy cha trở về</p><p>Đều rất vui mừng lớn</p><p>Quỳ lạy hỏi thăm rằng</p><p>Lành thay nay cha về</p><p>Chúng con ngu tự uống</p><p>Thuốc độc nay cầu xin</p><p>Cha cứu cho sống lại</p><p>Cha thấy các con khổ</p><p>Theo các sách phương thuốc</p><p>Tìm các vị thuốc hay</p><p>Sắc hương đều đầy đủ</p><p>Đem cho con mà bảo</p><p>Thuốc hay này sắc đẹp</p><p>Hương thơm vị ngon ngọt</p><p>Các con cầm mà uống</p><p>Mau trừ khổ chẳng còn</p><p>Những con chưa mất tâm</p><p>Thấy thuốc hay vui uống</p><p>Bệnh thảy đều trừ hết</p><p>Còn những kẻ mất tâm</p><p>Vui mừng cha trở về</p><p>Cũng cầu xin chữa trị</p><p>Mà chẳng chịu uống thuốc</p><p>Vì sao? Vì độc thấm</p><p>Sâu mất tâm bản tánh</p><p>Thuốc hay sắc hương tốt</p><p>Nói chẳng phải thuốc hay</p><p>Cha nghĩ những con này</p><p>Bị độc khổ sở nhiều</p><p>Thấy ta rất vui mừng</p><p>Cầu xin chữa mà lại</p><p>Chẳng chịu uống thuốc hay</p><p>Nay ta lập phương tiện</p><p>Khiến chúng uống thuốc này</p><p>Bèn nói rằng: Ta nay</p><p>Đã già nua suy yếu</p><p>Chết đây đã đến rồi</p><p>Thuốc hay tốt này đây</p><p>Nay để lại cho các con</p><p>Cầm lấy chớ lo không</p><p>Lành mạnh, nói rồi liền</p><p>Qua nước khác sai sứ</p><p>Về bảo các con rằng</p><p>Cha các ngươi đã mất</p><p>Các con nghe cha chết</p><p>Lòng rất buồn khổ lớn</p><p>Khóc lóc mà nghĩ rằng</p><p>Nếu cha chúng ta còn</p><p>Thương xót chỉ dạy ta</p><p>Nay ta mất cha rồi</p><p>Cô khổ nơi hoang vắng</p><p>Tự biết mồ côi khổ</p><p>Không nơi nương tựa nữa</p><p>Thường nghĩ nhớ cha già</p><p>Mới biết thuốc hay tốt</p><p>Sắc hương vị đều tốt</p><p>Liền cầm mà uống ngay</p><p>Bệnh thảy đều trừ hết</p><p>Cha nghe con lành bệnh</p><p>Liền trở về cho thấy</p><p>Các thiện nam tử nghĩ</p><p>Vị lương y như thế</p><p>Có tội hư vọng chăng?</p><p>Đại chúng đáp: Không vậy.</p><p>Phật nói: Ta cũng thế</p><p>Thành Phật đến nay vậy</p><p>Vô lượng vô biên trăm</p><p>Nghìn muôn ức na do</p><p>Tha a tăng kỳ kiếp</p><p>Vì lợi ích chúng sanh</p><p>Dùng sức phương tiện nói</p><p>Ta sẽ nhập Niết bàn</p><p>Cũng lại không ai nói</p><p>Phật nói lời hư vọng.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Từ ta được thành Phật</p><p>Trải qua các kiếp số</p><p>Vô lượng trăm nghìn muôn</p><p>Ức a tăng kỳ đông</p><p>Thường nói pháp giáo hóa</p><p>Vô lượng ức chúng sanh</p><p>Khiến vào đạo Phật vậy</p><p>Từ đó vô số kiếp</p><p>Vì độ chúng sanh nên</p><p>Phương tiện hiện Niết bàn</p><p>Mà thật chẳng diệt độ</p><p>Thường trụ đây nói pháp.</p><p>Ta thường trụ cõi này</p><p>Dùng sức thần thông vậy</p><p>Khiến chúng điên đảo kia</p><p>Dầu gần mà chẳng thấy.</p><p>Chúng thấy ta diệt độ</p><p>Rộng cúng dường xá lợi</p><p>Tất đều sanh lòng nhớ</p><p>Mà sanh tâm khát ngưỡng.</p><p>Chúng sanh đã thuần tín</p><p>Chất trực ý nhu nhuyễn</p><p>Một lòng muốn thấy Phật</p><p>Chẳng tiếc thân mạng mình.</p><p>Thời ta cùng Tăng chúng</p><p>Đồng ra nơi Linh Thứu.</p><p>Lúc đó ta vì chúng</p><p>Nói pháp thật bất diệt</p><p>Như hư không thường trụ</p><p>Chẳng sanh cũng chẳng diệt.</p><p>Vì độ kẻ ít đức</p><p>Hiện sức thần thông vậy</p><p>Trải qua a tăng kỳ</p><p>Kiếp số có chúng sanh</p><p>Nói Phật nhập Niết bàn</p><p>Mà chẳng nghe pháp này</p><p>Chẳng biết việc Phật làm.</p><p>Nếu người tu thiện pháp</p><p>Ý nhu nhuyễn chất trực</p><p>Thời ta đều nói rằng</p><p>Thọ mạng Phật rất dài.</p><p>Lâu xa mới gặp Phật</p><p>Vì độ chúng sanh vậy</p><p>Như vị lương y kia</p><p>Trí huệ thông đạt sáng</p><p>Khéo pha chế thuốc hay</p><p>Cứu trị các chứng bệnh.</p><p>Người đó có nhiều con</p><p>Mười người hoặc trăm nghìn</p><p>Vì có việc nhân duyên</p><p>Qua nước khác xa xôi.</p><p>Các con uống thuốc độc</p><p>Thuốc phát cuồng loạn ngã</p><p>Lúc đó cha trở về</p><p>Các con đều nghịch độc</p><p>Hoặc mất tâm bản tánh</p><p>Hoặc chưa mất tâm tánh</p><p>Xa thấy cha trở về</p><p>Đều rất vui mừng lớn</p><p>Quỳ lạy hỏi thăm rằng</p><p>Lành thay nay cha về</p><p>Chúng con ngu tự uống</p><p>Thuốc độc nay cầu xin</p><p>Cha cứu cho sống lại.</p><p>Cha thấy các con khổ</p><p>Theo các sách phương thuốc</p><p>Tìm các vị thuốc hay</p><p>Sắc hương đều đầy đủ</p><p>Đem cho con mà bảo</p><p>Thuốc hay này sắc đẹp</p><p>Hương thơm vị ngon ngọt</p><p>Các con cầm mà uống</p><p>Mau trừ khổ chẳng còn.</p><p>Những con chưa mất tâm</p><p>Thấy thuốc hay vui uống</p><p>Bệnh thảy đều trừ hết</p><p>Còn những kẻ mất tâm</p><p>Vui mừng cha trở về</p><p>Cũng cầu xin chữa trị</p><p>Mà chẳng chịu uống thuốc.</p><p>Vì sao? Vì độc thấm</p><p>Sâu mất tâm bản tánh</p><p>Thuốc hay sắc hương tốt</p><p>Nói chẳng phải thuốc hay.</p><p>Cha nghĩ những con này</p><p>Bị độc khổ sở nhiều</p><p>Thấy ta rất vui mừng</p><p>Cầu xin chữa mà lại</p><p>Chẳng chịu uống thuốc hay</p><p>Nay ta lập phương tiện</p><p>Khiến chúng uống thuốc này</p><p>Bèn nói rằng: Ta nay</p><p>Đã già nua suy yếu</p><p>Chết đây đã đến rồi</p><p>Thuốc hay tốt này đây</p><p>Nay để lại cho các con</p><p>Cầm lấy chớ lo không</p><p>Lành mạnh, nói rồi liền</p><p>Qua nước khác sai sứ</p><p>Về bảo các con rằng</p><p>Cha các ngươi đã mất.</p><p>Các con nghe cha chết</p><p>Lòng rất buồn khổ lớn</p><p>Khóc lóc mà nghĩ rằng</p><p>Nếu cha chúng ta còn</p><p>Thương xót chỉ dạy ta</p><p>Nay ta mất cha rồi</p><p>Cô khổ nơi hoang vắng.</p><p>Tự biết mồ côi khổ</p><p>Không nơi nương tựa nữa</p><p>Thường nghĩ nhớ cha già</p><p>Mới biết thuốc hay tốt</p><p>Sắc hương vị đều tốt</p><p>Liền cầm mà uống ngay</p><p>Bệnh thảy đều trừ hết.</p><p>Cha nghe con lành bệnh</p><p>Liền trở về cho thấy.</p><p>Các thiện nam tử nghĩ</p><p>Vị lương y như thế</p><p>Có tội hư vọng chăng?</p><p>Đáp: Không.</p><p>Phật nói: Ta cũng thế</p><p>Thành Phật đến nay vậy</p><p>Vô lượng vô biên trăm</p><p>Nghìn muôn ức na do</p><p>Tha a tăng kỳ kiếp</p><p>Vì lợi ích chúng sanh</p><p>Dùng sức phương tiện nói</p><p>Ta sẽ nhập Niết bàn</p><p>Cũng lại không ai nói</p><p>Phật nói lời hư vọng.</p><p>Như lương y khéo phương tiện</p><p>Vì chữa con cuồng loạn</p><p>Thật còn mà nói chết</p><p>Chẳng ai nói hư vọng</p><p>Ta cũng cha chúng sanh</p><p>Cứu khổ nạn vô cùng</p><p>Vì phàm phu điên đảo</p><p>Thật còn mà nói diệt</p><p>Vì thường thấy ta đây</p><p>Mà sanh lòng kiêu mạn</p><p>Buông lung đắm ngũ dục</p><p>Đọa vào các ác đạo</p><p>Ta thường biết chúng sanh</p><p>Hành đạo hay chẳng hành</p><p>Theo đó đáng được độ</p><p>Vì nói các pháp vậy</p><p>Tùy thời nên nói gì</p><p>Chỉ nghĩ một việc này</p><p>Làm sao khiến chúng sanh</p><p>Mau vào đạo vô thượng</p><p>Mà mau thành Phật thân.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 16 Kinh Pháp Hoa (Như Lai Thọ Lượng)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Như Lai Thọ Lượng là phần cốt lõi của Kinh Pháp Hoa, nơi Đức Phật tiết lộ thọ mạng của Ngài là vô lượng kiếp, không phải chỉ sinh ra và nhập diệt trong kiếp này. Việc Phật thị hiện sinh, thành đạo, thuyết pháp và nhập Niết bàn chỉ là phương tiện để giáo hóa chúng sinh, giúp họ tránh kiêu mạn và siêng năng tu hành. Phẩm này khẳng định tính vĩnh cửu của Phật tánh và pháp nhất thừa, khuyến khích niềm tin kiên cố vào Kinh Pháp Hoa, dẫn đến giác ngộ và giải thoát khỏi sinh tử luân hồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 16: Như Lai Thọ Lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Đại Bồ tát và đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại bảo đại chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại bảo đại chúng rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông phải tin hiểu lời nói chân thật của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, đại chúng Bồ tát với Ngài Di Lặc làm thượng thủ chấp tay bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như thế ba lần bạch rồi lại bạch rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong nói đó, chúng con sẽ tin lời Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn biết các vị Bồ tát ba lần khôn thôi mà bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông lắng nghe kỹ lời bí mật cùng thần thông của chư Phật. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai chỉ vì một nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời. Các ông cho rằng chư Phật Như Lai chỉ vì diệt độ chúng sanh mà hiện ra ở đời chăng? Chẳng phải vậy. Các thiện nam tử! Chư Phật Như Lai vì khiến chúng sanh khai Phật tri kiến khiến cho thanh tịnh mà hiện ra ở đời; vì chỉ bày Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì ngộ Phật tri kiến mà hiện ra ở đời; vì nhập Phật tri kiến đạo mà hiện ra ở đời. Các thiện nam tử! Đó là chư Phật Như Lai chỉ vì một việc nhân duyên lớn mà hiện ra ở đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Ví như có thế giới Tam thiên Đại thiên nhiều như số cát sông Hằng, lấy đó làm hạt giống, có người nghiền nát làm vi trần, qua phương Đông trải qua nghìn thế giới mới rớt một hạt vi trần, cứ như thế qua phương Đông rớt hết số vi trần đó. Các ông nghĩ sao? Số thế giới đó có thể nghĩ bàn tính kể biết được chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Di Lặc Bồ tát thảy đều bạch Phật:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Số thế giới đó vô lượng vô biên, chẳng phải toán số hay thí dụ có thể biết được. Những thế giới đó đều là do Bồ tát thừa A duy việt chí mà cũng chẳng có thể biết được ngằn mé. Vì sao? Vì các vị Bồ tát đó còn chưa được Vô sanh pháp nhẫn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo các vị Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Nay ta nói rõ cho các ông: Số thế giới đó nếu nghiền nát làm vi trần, chẳng phải pháp vi trần, số đó như vi trần. Mỗi một vi trần là một kiếp, từ ta thành Phật đến nay lại hơn số đó trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ kiếp. Từ đó đến nay ta thường ở cõi Ta Bà này thuyết pháp giáo hóa, cùng ở nơi khác trăm nghìn muôn ức na do tha a tăng kỳ cõi nước dẫn dắt lợi ích chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Trong khoảng đó ta nói Phật Nhiên Đăng v.v... và nói trong đó có Phật nhập Niết bàn, đều là phương tiện phân biệt. Các thiện nam tử! Nếu có chúng sanh đến chỗ ta, ta dùng Phật nhãn xem căn tánh lợi độn của đó mà độ thoát, chỗ chỗ tự nói danh tự khác nhau, tuổi lớn nhỏ, cũng lại hiện nói ta sẽ nhập Niết bàn, lại dùng các phương tiện nói pháp vi diệu độ thoát chúng sanh khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Như Lai thấy chúng sanh ưa pháp nhỏ, đức mỏng cấu nặng, vì những người đó mà nói: Ta lúc trẻ xuất gia được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng thật từ ta thành Phật đến nay lâu xa như thế, chỉ dùng đó giáo hóa chúng sanh khiến vào Phật đạo, làm các phương tiện như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Kinh điển của Như Lai nói ra đều là vì độ thoát chúng sanh, hoặc nói thân mình, hoặc nói thân người, hoặc thị hiện việc, hoặc biểu thị lời nói, hoặc thí dụ việc đã có, hoặc thí dụ việc chưa có. Các lời nói ra đều là chơn thật không hư dối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì Như Lai biết rõ tướng của chúng sanh, tánh dục gì, chứa gì trong lòng, dùng các nhân duyên, thí dụ, lời lẽ, sức phương tiện mà theo nghi nói pháp như mục đích điều phục của Như Lai không hề sai lầm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử! Như Lai làm việc lợi ích cho thế gian đều đã viên mãn. Chỗ thọ mạng của ta nay đã hết, lúc nhập Niết bàn đã đến, thời phải nên dặn bảo các Tỳ kheo: Thường siêng tu hành, theo Phật pháp mà tu hành, được thấy tánh chân thật, mau đến đạo tràng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ ta thành Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải qua số kiếp đông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng trăm nghìn muôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ức a tăng kỳ số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nói pháp giáo hóa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô số muôn ức chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn vào Phật đạo vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó vô số kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì độ các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương tiện hiện Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà thật chẳng diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ đây nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta thường trụ cõi này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các sức thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến chúng sanh điên đảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu gần mà chẳng thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng thấy ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng cúng dường xá lợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất đều sanh lòng nhớ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà sanh tâm khát ngưỡng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh đã thuần tin&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chất trực ý nhu nhuyễn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một lòng muốn thấy Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng tiếc thân mạng mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời ta và Tăng chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng ra nơi Linh Thứu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó ta vì chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp thật bất diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hư không thường trụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng sanh cũng chẳng diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì độ kẻ ít đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta hiện sức thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải qua a tăng kỳ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp số có chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Phật nhập Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà chẳng nghe pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng biết việc Phật làm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người tu thiện pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý nhu nhuyễn chất trực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời ta đều nói rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ mạng Phật rất dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lâu xa mới gặp Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì độ chúng sanh vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vị lương y kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ thông đạt sáng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo pha chế thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cứu trị các chứng bệnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó có nhiều con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười người hoặc trăm nghìn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì có việc nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Qua nước khác xa xôi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con uống thuốc độc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc phát cuồng loạn ngã&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó cha trở về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con đều nghịch độc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc mất tâm bản tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc chưa mất tâm tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa thấy cha trở về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều rất vui mừng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỳ lạy hỏi thăm rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lành thay nay cha về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con ngu tự uống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc độc nay cầu xin&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha cứu cho sống lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha thấy các con khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo các sách phương thuốc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tìm các vị thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc hương đều đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đem cho con mà bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc hay này sắc đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương thơm vị ngon ngọt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con cầm mà uống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mau trừ khổ chẳng còn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những con chưa mất tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy thuốc hay vui uống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bệnh thảy đều trừ hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn những kẻ mất tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng cha trở về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng cầu xin chữa trị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà chẳng chịu uống thuốc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì độc thấm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sâu mất tâm bản tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc hay sắc hương tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chẳng phải thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha nghĩ những con này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị độc khổ sở nhiều&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy ta rất vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu xin chữa mà lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng chịu uống thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta lập phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến chúng uống thuốc này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bèn nói rằng: Ta nay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã già nua suy yếu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chết đây đã đến rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc hay tốt này đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay để lại cho các con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầm lấy chớ lo không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lành mạnh, nói rồi liền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Qua nước khác sai sứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Về bảo các con rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha các ngươi đã mất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con nghe cha chết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất buồn khổ lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khóc lóc mà nghĩ rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cha chúng ta còn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thương xót chỉ dạy ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta mất cha rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cô khổ nơi hoang vắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự biết mồ côi khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nơi nương tựa nữa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nghĩ nhớ cha già&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới biết thuốc hay tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc hương vị đều tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền cầm mà uống ngay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bệnh thảy đều trừ hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha nghe con lành bệnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền trở về cho thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử nghĩ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị lương y như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có tội hư vọng chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng đáp: Không vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: Ta cũng thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành Phật đến nay vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô biên trăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghìn muôn ức na do&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tha a tăng kỳ kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lợi ích chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng sức phương tiện nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sẽ nhập Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng lại không ai nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói lời hư vọng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ ta được thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải qua các kiếp số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng trăm nghìn muôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ức a tăng kỳ đông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nói pháp giáo hóa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng ức chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến vào đạo Phật vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đó vô số kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì độ chúng sanh nên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương tiện hiện Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà thật chẳng diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ đây nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta thường trụ cõi này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng sức thần thông vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến chúng điên đảo kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu gần mà chẳng thấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng thấy ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng cúng dường xá lợi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất đều sanh lòng nhớ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà sanh tâm khát ngưỡng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh đã thuần tín&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chất trực ý nhu nhuyễn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một lòng muốn thấy Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng tiếc thân mạng mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời ta cùng Tăng chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng ra nơi Linh Thứu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó ta vì chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp thật bất diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hư không thường trụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng sanh cũng chẳng diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì độ kẻ ít đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện sức thần thông vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải qua a tăng kỳ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp số có chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Phật nhập Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà chẳng nghe pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng biết việc Phật làm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người tu thiện pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý nhu nhuyễn chất trực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời ta đều nói rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ mạng Phật rất dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lâu xa mới gặp Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì độ chúng sanh vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vị lương y kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ thông đạt sáng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo pha chế thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cứu trị các chứng bệnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đó có nhiều con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười người hoặc trăm nghìn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì có việc nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Qua nước khác xa xôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con uống thuốc độc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc phát cuồng loạn ngã&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó cha trở về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con đều nghịch độc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc mất tâm bản tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc chưa mất tâm tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa thấy cha trở về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều rất vui mừng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quỳ lạy hỏi thăm rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lành thay nay cha về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con ngu tự uống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc độc nay cầu xin&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha cứu cho sống lại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha thấy các con khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo các sách phương thuốc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tìm các vị thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc hương đều đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đem cho con mà bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc hay này sắc đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương thơm vị ngon ngọt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con cầm mà uống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mau trừ khổ chẳng còn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những con chưa mất tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy thuốc hay vui uống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bệnh thảy đều trừ hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn những kẻ mất tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng cha trở về&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng cầu xin chữa trị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà chẳng chịu uống thuốc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì độc thấm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sâu mất tâm bản tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc hay sắc hương tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chẳng phải thuốc hay.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha nghĩ những con này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị độc khổ sở nhiều&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy ta rất vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu xin chữa mà lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng chịu uống thuốc hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta lập phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến chúng uống thuốc này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bèn nói rằng: Ta nay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã già nua suy yếu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chết đây đã đến rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuốc hay tốt này đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay để lại cho các con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầm lấy chớ lo không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lành mạnh, nói rồi liền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Qua nước khác sai sứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Về bảo các con rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha các ngươi đã mất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con nghe cha chết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất buồn khổ lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khóc lóc mà nghĩ rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu cha chúng ta còn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thương xót chỉ dạy ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta mất cha rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cô khổ nơi hoang vắng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự biết mồ côi khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nơi nương tựa nữa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nghĩ nhớ cha già&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới biết thuốc hay tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc hương vị đều tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền cầm mà uống ngay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bệnh thảy đều trừ hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha nghe con lành bệnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền trở về cho thấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thiện nam tử nghĩ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị lương y như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có tội hư vọng chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đáp: Không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: Ta cũng thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành Phật đến nay vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô biên trăm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghìn muôn ức na do&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tha a tăng kỳ kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lợi ích chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng sức phương tiện nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sẽ nhập Niết bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng lại không ai nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói lời hư vọng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như lương y khéo phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì chữa con cuồng loạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thật còn mà nói chết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng ai nói hư vọng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta cũng cha chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cứu khổ nạn vô cùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì phàm phu điên đảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thật còn mà nói diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì thường thấy ta đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà sanh lòng kiêu mạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Buông lung đắm ngũ dục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọa vào các ác đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta thường biết chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành đạo hay chẳng hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo đó đáng được độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nói các pháp vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy thời nên nói gì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ nghĩ một việc này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm sao khiến chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mau vào đạo vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà mau thành Phật thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="15193234" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/a3c3f144-1c28-4d84-96d4-9df7fa000676/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">4693a42a-b0b7-4f2b-a276-18f4510f8f85</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/a3c3f144-1c28-4d84-96d4-9df7fa000676</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:24:16 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/6d500f02-8bf2-4bf9-8ed7-1db2c4168bc9_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>949</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 15</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 15</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 15 Kinh Pháp Hoa (Tùng Địa Dũng Xuất)</p><p>Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất kể về vô số Bồ tát từ dưới đất vọt ra, đại diện cho Phật tánh tiềm ẩn trong chúng sinh, sẵn sàng hộ trì Kinh Pháp Hoa sau khi Phật diệt độ. Phật tiết lộ rằng Ngài đã giáo hóa những vị Bồ tát này từ vô lượng kiếp, nhấn mạnh tính vĩnh cửu của Phật thọ mạng và pháp nhất thừa. Phẩm này khẳng định sứ mệnh của các Bồ tát địa dũng trong việc truyền bá kinh, khuyến khích niềm tin vào sức mạnh nội tại và sự bất diệt của Phật pháp, giúp chúng sinh nhận ra khả năng thành Phật.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 15: Tùng Địa Dũng Xuất</p><p>Lúc bấy giờ, các vị Đại Bồ tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám hằng hà sa, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, chúng con cũng nguyện ở cõi Ta Bà rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Phật bảo các vị Đại Bồ tát chúng:</p><p><br></p><p>Thôi đi các thiện nam tử! Chẳng cần các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta Bà của ta tự có sáu muôn hằng hà sa các vị Đại Bồ tát, một vị Đại Bồ tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những vị này có thể sau khi ta diệt độ mà hộ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này.</p><p><br></p><p>Phật nói lời đó rồi, ở cõi Ta Bà Tam thiên Đại thiên thế giới đất đều rúng nứt mà vô lượng nghìn muôn ức Đại Bồ tát đồng thời vọt ra. Các vị Bồ tát đó đều thân sắc vàng tía, đủ ba mươi hai tướng, vô lượng quang minh, trước kia đều trụ ở dưới hư không cõi Ta Bà này, các vị Bồ tát nghe tiếng nói của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà từ dưới đến.</p><p>Mỗi mỗi vị Bồ tát đều là bậc Đại sĩ chúng, đều đem quyến thuộc nghìn muôn ức số như số cát sáu sông Hằng, hoặc có vị đem năm sông Hằng, bốn sông Hằng, ba sông Hằng, hai sông Hằng, một sông Hằng quyến thuộc Bồ tát. Hoặc có vị đem số cát nửa sông Hằng, một phần ba, một phần bốn cho đến một phần muôn ức na do tha. Hoặc đem nghìn muôn ức na do tha quyến thuộc, hoặc đem muôn ức quyến thuộc, hoặc đem nghìn ức, muôn ức, muôn, nghìn quyến thuộc, hoặc đem năm trăm, bốn trăm, ba trăm, hai trăm, một trăm, năm mươi, bốn mươi, ba mươi, hai mươi, mười, năm, bốn, ba, hai, một đệ tử. Hoặc có vị Bồ tát riêng một thân không quyến thuộc ưa thích độc hành.</p><p>Các vị như thế thứ lớp mà tính số đông vô lượng vô biên, giả sử dùng toán số thí dụ cũng chẳng biết được. Các vị Bồ tát này từ dưới đất vọt ra rồi, đều đến chỗ tháp bảy báu ở giữa hư không của Đa Bảo Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, đến rồi đầu mặt lễ chân hai Đức Phật, lại đến chỗ các Đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu ở mười phương, đều làm lễ, đi nhiễu bên hữu ba vòng, chấp tay cung kính dùng các lời khen Bồ tát mà ngợi khen. Rồi đứng một bên chiêm ngưỡng dung nhan hai Đức Thế Tôn, trải qua năm mươi tiểu kiếp.</p><p>Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật im lặng thọ nhận, và các Phật ở mười phương cũng im lặng thọ nhận, trong năm mươi tiểu kiếp, hàng tứ chúng cho là như một ngày ăn cơm. Do sức thần của Phật khiến cho đại chúng đều thấy các vị Đại Bồ tát đầy dẫy trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi nước ở hư không mười phương.</p><p>Trong các vị Bồ tát này có bốn vị đạo sư: vị thượng thủ tên Thượng Hạnh, vị thứ hai tên Vô Biên Hạnh, vị thứ ba tên Tịnh Hạnh, vị thứ tư tên An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ tát này ở trong chúng làm bậc thượng thủ sang nhất, ở trước đại chúng đều chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Phật có được ít bệnh ít khổ, an ổn khoái lạc chăng? Những người đáng độ dễ độ chăng? Chẳng làm Phật mệt mỏi chăng?</p><p><br></p><p>Bấy giờ, bốn vị Đại Bồ tát mà nói kệ rằng:</p><p>Thế Tôn được an vui</p><p>Ít bệnh ít phiền não</p><p>Giáo hóa các chúng sanh</p><p>Được dễ không mệt mỏi</p><p>Và lại chúng sanh kia</p><p>Thọ giáo hóa dễ dàng</p><p>Chẳng làm Thế Tôn sanh</p><p>Lòng mệt mỏi vậy thay.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở trong đại chúng Bồ tát mà nói rằng:</p><p><br></p><p>Đúng vậy! Đúng vậy! Các thiện nam tử! Như Lai an ổn ít bệnh ít khổ, các chúng sanh dễ độ dễ hàng, chẳng làm ta mệt mỏi. Vì sao? Vì các chúng sanh đó đời đời thọ hóa của ta và chư Phật mười phương, cúng dường tôn trọng chưa từng gián đoạn. Lại các chúng sanh đó chẳng hành sáu pháp Ba la mật, đã ở trong sáu pháp Ba la mật có người đã thành tựu, có người chưa thành tựu, đối với pháp Đại thừa tự nhiên có lòng tin hiểu.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói lời đó rồi, đại chúng Bồ tát đồng thanh nói lớn rằng:</p><p><br></p><p>Hay thay! Hay thay! Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói lời chân thật.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, các vị Đại Bồ tát nói kệ khen rằng:</p><p>Hay thay! Hay thay!</p><p>Thế Tôn đại anh hùng</p><p>Các chúng sanh Ta Bà</p><p>Dễ độ chẳng làm mệt</p><p>Vì đời đời thọ hóa</p><p>Của Phật và mười phương</p><p>Tôn trọng và cúng dường</p><p>Chưa từng có gián đoạn</p><p>Đã ở trong sáu độ</p><p>Hoặc thành hoặc chưa thành</p><p>Đối với Đại thừa pháp</p><p>Tự nhiên lòng tin hiểu.</p><p>Bấy giờ, các vị Bồ tát nói kệ rồi, bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói chúng con an ổn, chúng con cũng an ổn.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, ở trong chúng có vị Đại Bồ tát tên Di Lặc cùng tám nghìn hằng hà sa các vị Bồ tát đều nghĩ rằng: Chúng ta từ xưa đến nay chưa từng nghe thấy hàng Đại Bồ tát chúng như thế từ dưới đất vọt ra đến trước Thế Tôn.</p><p>Lúc đó, Di Lặc Đại Bồ tát biết lòng nghĩ của tám nghìn hằng hà sa các vị Bồ tát, lại muốn tự giải lòng nghi của mình mà chấp tay hướng Phật bạch rằng:</p><p><br></p><p>Bạch Thế Tôn! Các vị Đại Bồ tát này vô lượng nghìn muôn ức số đông như thế, từ đâu mà đến?</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Di Lặc Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Vô lượng nghìn muôn ức</p><p>Đại chúng Bồ tát đây</p><p>Từ xưa chưa từng nghe</p><p>Từ đâu mà đến vậy</p><p>Không danh không họ tộc</p><p>Từ nước nào mà đến</p><p>Bạch Thế Tôn Đại Thánh</p><p>Cúi mong giải nghi chúng.</p><p>Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Di Lặc Bồ tát rằng:</p><p><br></p><p>Lành thay! Lành thay! A Dật Đa! Ông hay hỏi Phật việc nghĩa lợi lớn như thế. Các ông nên biết các vị Đại Bồ tát vô lượng vô số như thế từ dưới kẽ nứt đất cõi Ta Bà vọt ra, các ông chưa từng thấy biết. Vì sao? A Dật Đa! Các vị Đại Bồ tát này là do ta giáo hóa khiến phát lòng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ta ở cõi này hóa độ dạy bảo, các vị Bồ tát này lòng ưa pháp ta, theo ta tu hành, thường ở gần ta chưa từng ưa thích nói nhiều việc thế gian.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Các vị Bồ tát này</p><p>Vô lượng vô số đông</p><p>Các ông nay nên biết</p><p>Từ đâu mà đến vậy</p><p>Ta mới thành Phật đạo</p><p>Mà các vị Bồ tát</p><p>Đã từ lâu phát tâm</p><p>An trụ pháp bất tư</p><p>Ta dùng sức phương tiện</p><p>Giáo hóa khiến phát tâm</p><p>Những vị Đại Bồ tát</p><p>Là đệ tử của ta</p><p>Vì cõi này của ta</p><p>Tự có Bồ tát chúng</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Mới hộ trì kinh điển</p><p>Số đông như vậy đó</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Các vị Bồ tát thảy</p><p>Vì nói kinh Pháp Hoa</p><p>Mà du hành các nước</p><p>Số đông sáu muôn hằng</p><p>Vì cầu Phật đạo vậy</p><p>Những vị Bồ tát này</p><p>Thường ở dưới đất này</p><p>Đọc tụng các kinh điển</p><p>Vui thích phân biệt nghĩa</p><p>Chuyên tâm tư duy pháp</p><p>Dõng mãnh ý chí bền</p><p>Chẳng ưa nói nhiều việc</p><p>Ở trong hư không dưới</p><p>Siêng tu sức tinh tấn</p><p>Thường trì kinh Pháp Hoa</p><p>Vui nói pháp vô ngại</p><p>Ở nơi chỗ vắng vẻ</p><p>Siêng hành không lười mỏi</p><p>Trải vô lượng nghìn muôn</p><p>Ức kiếp trụ nơi đó</p><p>Hoặc ngồi hoặc kinh hành</p><p>Thường lạc pháp như thế</p><p>Siêng cầu Phật đạo vậy.</p><p>Bấy giờ, ở giữa hư không, Đức Đa Bảo Thế Tôn và vô lượng các vị Phật phân thân ở mười phương đến chứng minh, đều khen Phật rằng:</p><p><br></p><p>Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật! Mau nói kinh Pháp Hoa này khiến chúng tôi được nghe lâu.</p><p><br></p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 15 Kinh Pháp Hoa (Tùng Địa Dũng Xuất)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất kể về vô số Bồ tát từ dưới đất vọt ra, đại diện cho Phật tánh tiềm ẩn trong chúng sinh, sẵn sàng hộ trì Kinh Pháp Hoa sau khi Phật diệt độ. Phật tiết lộ rằng Ngài đã giáo hóa những vị Bồ tát này từ vô lượng kiếp, nhấn mạnh tính vĩnh cửu của Phật thọ mạng và pháp nhất thừa. Phẩm này khẳng định sứ mệnh của các Bồ tát địa dũng trong việc truyền bá kinh, khuyến khích niềm tin vào sức mạnh nội tại và sự bất diệt của Phật pháp, giúp chúng sinh nhận ra khả năng thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 15: Tùng Địa Dũng Xuất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, các vị Đại Bồ tát ở cõi nước phương khác đông hơn số cát của tám hằng hà sa, đều từ chỗ ngồi đứng dậy, chấp tay mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Sau khi Phật diệt độ, chúng con cũng nguyện ở cõi Ta Bà rộng nói kinh điển này, thọ trì đọc tụng giải nói viết chép.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Phật bảo các vị Đại Bồ tát chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thôi đi các thiện nam tử! Chẳng cần các ông hộ trì kinh này. Vì sao? Vì cõi Ta Bà của ta tự có sáu muôn hằng hà sa các vị Đại Bồ tát, một vị Đại Bồ tát có sáu muôn hằng hà sa quyến thuộc, những vị này có thể sau khi ta diệt độ mà hộ trì đọc tụng rộng nói kinh điển này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói lời đó rồi, ở cõi Ta Bà Tam thiên Đại thiên thế giới đất đều rúng nứt mà vô lượng nghìn muôn ức Đại Bồ tát đồng thời vọt ra. Các vị Bồ tát đó đều thân sắc vàng tía, đủ ba mươi hai tướng, vô lượng quang minh, trước kia đều trụ ở dưới hư không cõi Ta Bà này, các vị Bồ tát nghe tiếng nói của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà từ dưới đến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi mỗi vị Bồ tát đều là bậc Đại sĩ chúng, đều đem quyến thuộc nghìn muôn ức số như số cát sáu sông Hằng, hoặc có vị đem năm sông Hằng, bốn sông Hằng, ba sông Hằng, hai sông Hằng, một sông Hằng quyến thuộc Bồ tát. Hoặc có vị đem số cát nửa sông Hằng, một phần ba, một phần bốn cho đến một phần muôn ức na do tha. Hoặc đem nghìn muôn ức na do tha quyến thuộc, hoặc đem muôn ức quyến thuộc, hoặc đem nghìn ức, muôn ức, muôn, nghìn quyến thuộc, hoặc đem năm trăm, bốn trăm, ba trăm, hai trăm, một trăm, năm mươi, bốn mươi, ba mươi, hai mươi, mười, năm, bốn, ba, hai, một đệ tử. Hoặc có vị Bồ tát riêng một thân không quyến thuộc ưa thích độc hành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị như thế thứ lớp mà tính số đông vô lượng vô biên, giả sử dùng toán số thí dụ cũng chẳng biết được. Các vị Bồ tát này từ dưới đất vọt ra rồi, đều đến chỗ tháp bảy báu ở giữa hư không của Đa Bảo Như Lai và Thích Ca Mâu Ni Phật, đến rồi đầu mặt lễ chân hai Đức Phật, lại đến chỗ các Đức Phật ngồi trên tòa sư tử dưới cây báu ở mười phương, đều làm lễ, đi nhiễu bên hữu ba vòng, chấp tay cung kính dùng các lời khen Bồ tát mà ngợi khen. Rồi đứng một bên chiêm ngưỡng dung nhan hai Đức Thế Tôn, trải qua năm mươi tiểu kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật im lặng thọ nhận, và các Phật ở mười phương cũng im lặng thọ nhận, trong năm mươi tiểu kiếp, hàng tứ chúng cho là như một ngày ăn cơm. Do sức thần của Phật khiến cho đại chúng đều thấy các vị Đại Bồ tát đầy dẫy trong vô lượng trăm nghìn muôn ức cõi nước ở hư không mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong các vị Bồ tát này có bốn vị đạo sư: vị thượng thủ tên Thượng Hạnh, vị thứ hai tên Vô Biên Hạnh, vị thứ ba tên Tịnh Hạnh, vị thứ tư tên An Lập Hạnh. Bốn vị Bồ tát này ở trong chúng làm bậc thượng thủ sang nhất, ở trước đại chúng đều chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan Đức Thích Ca Mâu Ni Phật mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Phật có được ít bệnh ít khổ, an ổn khoái lạc chăng? Những người đáng độ dễ độ chăng? Chẳng làm Phật mệt mỏi chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, bốn vị Đại Bồ tát mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn được an vui&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ít bệnh ít phiền não&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giáo hóa các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được dễ không mệt mỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và lại chúng sanh kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ giáo hóa dễ dàng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng làm Thế Tôn sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng mệt mỏi vậy thay.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn ở trong đại chúng Bồ tát mà nói rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đúng vậy! Đúng vậy! Các thiện nam tử! Như Lai an ổn ít bệnh ít khổ, các chúng sanh dễ độ dễ hàng, chẳng làm ta mệt mỏi. Vì sao? Vì các chúng sanh đó đời đời thọ hóa của ta và chư Phật mười phương, cúng dường tôn trọng chưa từng gián đoạn. Lại các chúng sanh đó chẳng hành sáu pháp Ba la mật, đã ở trong sáu pháp Ba la mật có người đã thành tựu, có người chưa thành tựu, đối với pháp Đại thừa tự nhiên có lòng tin hiểu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói lời đó rồi, đại chúng Bồ tát đồng thanh nói lớn rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thay! Hay thay! Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói lời chân thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, các vị Đại Bồ tát nói kệ khen rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thay! Hay thay!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn đại anh hùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng sanh Ta Bà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dễ độ chẳng làm mệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì đời đời thọ hóa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của Phật và mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôn trọng và cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa từng có gián đoạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã ở trong sáu độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc thành hoặc chưa thành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đối với Đại thừa pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự nhiên lòng tin hiểu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, các vị Bồ tát nói kệ rồi, bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Thế Tôn nói chúng con an ổn, chúng con cũng an ổn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, ở trong chúng có vị Đại Bồ tát tên Di Lặc cùng tám nghìn hằng hà sa các vị Bồ tát đều nghĩ rằng: Chúng ta từ xưa đến nay chưa từng nghe thấy hàng Đại Bồ tát chúng như thế từ dưới đất vọt ra đến trước Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Di Lặc Đại Bồ tát biết lòng nghĩ của tám nghìn hằng hà sa các vị Bồ tát, lại muốn tự giải lòng nghi của mình mà chấp tay hướng Phật bạch rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Các vị Đại Bồ tát này vô lượng nghìn muôn ức số đông như thế, từ đâu mà đến?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Di Lặc Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng nghìn muôn ức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại chúng Bồ tát đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ xưa chưa từng nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đâu mà đến vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không danh không họ tộc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ nước nào mà đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn Đại Thánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúi mong giải nghi chúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Di Lặc Bồ tát rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lành thay! Lành thay! A Dật Đa! Ông hay hỏi Phật việc nghĩa lợi lớn như thế. Các ông nên biết các vị Đại Bồ tát vô lượng vô số như thế từ dưới kẽ nứt đất cõi Ta Bà vọt ra, các ông chưa từng thấy biết. Vì sao? A Dật Đa! Các vị Đại Bồ tát này là do ta giáo hóa khiến phát lòng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ta ở cõi này hóa độ dạy bảo, các vị Bồ tát này lòng ưa pháp ta, theo ta tu hành, thường ở gần ta chưa từng ưa thích nói nhiều việc thế gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Bồ tát này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng vô số đông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông nay nên biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ đâu mà đến vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta mới thành Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà các vị Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã từ lâu phát tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ pháp bất tư&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta dùng sức phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giáo hóa khiến phát tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những vị Đại Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là đệ tử của ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cõi này của ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự có Bồ tát chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới hộ trì kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông như vậy đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Bồ tát thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nói kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà du hành các nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông sáu muôn hằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cầu Phật đạo vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những vị Bồ tát này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ở dưới đất này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng các kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui thích phân biệt nghĩa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyên tâm tư duy pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dõng mãnh ý chí bền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng ưa nói nhiều việc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong hư không dưới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Siêng tu sức tinh tấn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trì kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui nói pháp vô ngại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở nơi chỗ vắng vẻ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Siêng hành không lười mỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải vô lượng nghìn muôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ức kiếp trụ nơi đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngồi hoặc kinh hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường lạc pháp như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Siêng cầu Phật đạo vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, ở giữa hư không, Đức Đa Bảo Thế Tôn và vô lượng các vị Phật phân thân ở mười phương đến chứng minh, đều khen Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật! Mau nói kinh Pháp Hoa này khiến chúng tôi được nghe lâu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="9389871" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/817f53ed-29d5-4335-acd8-b39c1f4e1e91/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ef230253-8750-44c6-8acd-cf1fa0002869</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/817f53ed-29d5-4335-acd8-b39c1f4e1e91</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:22:42 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/7d332599-b40d-41ea-936c-226f08a73d98_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>586</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 14</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 14</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 14 Kinh Pháp Hoa (An Lạc Hạnh)</p><p>Phẩm An Lạc Hạnh dạy về bốn pháp an lạc mà Bồ tát cần an trú để thuyết giảng Kinh Pháp Hoa trong đời ác trược sau khi Phật diệt độ: hành xứ (nơi hành đạo), thân cận xứ (nơi thân cận), khẩu hạnh (lời nói an lạc), và ý hạnh (tâm đại bi). Những pháp này giúp Bồ tát tránh chướng ngại, giữ tâm an ổn, từ bi, không phân biệt, không mong cầu, dẫn đến việc thuyết pháp hiệu quả, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp tối thượng.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 14: An Lạc Hạnh</p><p>Lúc bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ tát bạch Phật rằng:</p><p><br></p><p>Thế Tôn! Các vị Bồ tát này rất là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ nguyện lớn: ở nơi đời ác sau, hộ trì đọc nói kinh Pháp Hoa này.</p><p>Thế Tôn! Các vị Đại Bồ tát ở đời ác sau, thế nào mà có thể nói kinh này?</p><p><br></p><p>Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi:</p><p><br></p><p>Nếu vị Bồ tát ở đời ác sau muốn nói kinh này, phải an trụ trong bốn pháp.</p><p>Một, an trụ nơi Hành xứ và nơi Thân cận xứ của Bồ tát, thời có thể vì chúng sanh mà diễn nói kinh này.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Thế nào gọi là chỗ Hành xứ của Đại Bồ tát? Nếu vị Đại Bồ tát an trụ trong nhẫn nhục hòa dịu khéo thuận mà không vụt chạc lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tưởng như thực của các pháp cũng chẳng vin theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ Hành xứ của Bồ tát.</p><p>Thế nào gọi là chỗ Thân cận của Đại Bồ tát? Vị Đại Bồ tát chẳng gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng, chẳng gần gũi các ngoại đạo phạm chí, Ni kiền tử,... và chẳng gần những kẻ viết sách thế tục ca ngâm; sách ngoại đạo cùng với phái Lộ Già Da Đà, phái Nghịch Lộ Già Da Đà, cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi hung hiểm đâm nhau, đánh nhau, và bọn Na la,... bày các cuộc chơi biến hiện. Lại chẳng gần gũi bọn hàng thịt và kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, săn bắn chài lưới, hạng người sống với nghề ác, những người như thế hoặc có lúc lại đến thời.</p><p>Bồ tát vì nói pháp không có lòng mong cầu. Lại chẳng gần gũi những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng người cầu quả Thanh văn, hoặc ở trong phòng, hoặc chỗ kinh hành, hoặc ở trong giảng đường chẳng cùng ở chung, hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ tát theo cơ nghi nói pháp không lòng mong cầu.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Lại vị Đại Bồ tát chẳng nên ở nơi thân người nữ cho là tướng có thể sanh tư tưởng dục nhiễm mà vì nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng cùng với gái nhỏ, gái trinh, gái góa,... chung nói chuyện, cũng lại chẳng gần năm giống người bất nam để làm thân hậu. Chẳng riêng mình vào nhà người, nếu lúc có nhân duyên cần riêng mình vào thời chuyên một lòng niệm Phật. Nếu vì người nữ nói pháp thời chẳng hở răng cười, chẳng bày hông, ngực, nhẫn đến vì pháp mà còn chẳng thân hậu, huống lại là việc khác. Chẳng ưa nuôi đệ tử Sa di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng chẳng ưa cùng chúng nó đồng một thầy. Thường ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Đó gọi là Chỗ thân cận ban đầu.</p><p>Lại nữa, vị Đại Bồ tát quán sát Nhất thiết pháp không như thật tướng chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư không, không có thật tánh, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thực không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sanh cho nên nói, thường ưa quán sát pháp tướng như thế đó gọi là Chỗ thân cận thứ hai của vị Đại Bồ tát.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Nếu có vị Bồ tát</p><p>Ở trong đời ác sau</p><p>Lòng không hề sợ sệt</p><p>Muốn nói kinh pháp này</p><p>Nên trụ vào Hành xứ</p><p>Và trụ Thân cận xứ.</p><p>Thường xa rời quốc vương</p><p>Và con của quốc vương</p><p>Quan đại thần, quan lớn</p><p>Kẻ chơi việc hung hiểm</p><p>Cùng bọn Chiên đà la</p><p>Hàng ngoại đạo phạm chí</p><p>Cùng chẳng ưa gần gũi</p><p>Hạng người tăng thượng mạn</p><p>Hàng học giả tham chấp</p><p>Kinh, luật, luận Tiểu thừa</p><p>Những Tỳ kheo phá giới</p><p>Danh tự A la hán</p><p>Và những Tỳ kheo ni</p><p>Ưa thích chơi giỡn cười</p><p>Các vị Ưu bà di</p><p>Tham mê năm món dục</p><p>Cầu hiện tại diệt độ</p><p>Đều chớ có gần gũi.</p><p>Nếu những hạng người đó</p><p>Dùng tâm tốt mà đến</p><p>Tại chỗ của Bồ tát</p><p>Để vì nghe Phật đạo</p><p>Bồ tát thời nên dùng</p><p>Lòng không chút sợ sệt</p><p>Chẳng có niệm mong cầu</p><p>Mà vì chúng nói pháp.</p><p>Những gái góa, gái trinh</p><p>Và các kẻ bất nam</p><p>Đều chớ có gần gũi</p><p>Để cùng làm thân hậu.</p><p>Cũng chớ nên gần gũi</p><p>Kẻ đồ tể cắt thái</p><p>Săn bắn và chài lưới</p><p>Vì lợi mà giết hại</p><p>Bán thịt để tự sống</p><p>Buôn bán sắc gái đẹp</p><p>Những người như thế đó</p><p>Đều chớ có gần gũi.</p><p>Các cuộc chơi giỡn dữ</p><p>Hung hiểm đâm đánh nhau</p><p>Và những dâm nữ thảy</p><p>Trọn chớ có gần gũi.</p><p>Chớ nên riêng chỗ khuất</p><p>Vì người nữ nói pháp</p><p>Nếu lúc vì nói pháp</p><p>Chẳng được chơi giỡn cười</p><p>Khi vào xóm khất thực</p><p>Phải dắt một Tỳ kheo</p><p>Nếu không có Tỳ kheo</p><p>Phải một lòng niệm Phật</p><p>Đây thời gọi tên là</p><p>Hành xứ, Thân cận xứ.</p><p>Dùng hai xứ trên đây</p><p>Có thể an lạc nói.</p><p>Lại cũng chẳng vịn theo</p><p>Pháp thượng, trung và hạ</p><p>Hữu vi hay vô vi</p><p>Thực cùng pháp chẳng thực</p><p>Cũng chẳng có phân biệt</p><p>Là nam là nữ thảy</p><p>Lại chẳng được các pháp</p><p>Chẳng biết cũng chẳng thấy</p><p>Đây thời gọi tên là</p><p>Hành xứ của Bồ tát.</p><p>Tất cả các món pháp</p><p>Đều không, chẳng chỗ có</p><p>Không có chút thường trụ</p><p>Vẫn cũng không khởi diệt</p><p>Đây gọi là Thân cận</p><p>Chỗ người trí hằng nương.</p><p>Chớ đảo điên phân biệt</p><p>Các pháp có hoặc không</p><p>Là thực, chẳng phải thực</p><p>Là sanh chẳng phải sanh,</p><p>Ở an nơi vắng vẻ</p><p>Sửa trao nhiếp tâm mình</p><p>An trụ chẳng lay động</p><p>Như thể núi Tu Di</p><p>Quán sát tất cả pháp</p><p>Thảy đều không thực có</p><p>Dường như khoảng hư không</p><p>Không có chút bền chắc.</p><p>Chẳng sanh cũng chẳng xuất</p><p>Chẳng động cũng chẳng thối</p><p>Thường trụ một tướng thể</p><p>Đó gọi là Cận xứ.</p><p>Nếu có vị Tỳ kheo</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Vào được Hành xứ đó</p><p>Thời lúc nói kinh này</p><p>Không có lòng e sợ</p><p>Vị Bồ tát có lúc</p><p>Vào nơi nhà tịnh thất</p><p>Lòng nghĩ nhớ chân chính</p><p>Theo đúng nghĩa quán pháp.</p><p>Từ trong thiền định dậy</p><p>Vì các bậc quốc vương</p><p>Vương tử và quan, dân</p><p>Hàng Bà la môn thảy</p><p>Mà khai hóa diễn bày</p><p>Rộng nói kinh điển này</p><p>Tâm vị đó an ổn</p><p>Không có chút khiếp nhược.</p><p>Văn Thù Sư Lợi này!</p><p>Đó gọi là Bồ tát</p><p>An trụ trong sơ pháp</p><p>Có thể ở đời sau</p><p>Diễn nói kinh Pháp Hoa.</p><p>Lại Văn Thù Sư Lợi! Sau khi Đức Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh an lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó. Lại cũng chẳng sanh lòng oán hiềm, vì khéo tu lòng an lạc như thế, nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp Tiểu thừa đáp, chỉ dùng pháp đại thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc Nhất thiết chủng trí.</p><p>Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Vị Bồ tát thường ưa</p><p>An ổn nói kinh pháp</p><p>Ở nơi chỗ thanh tịnh</p><p>Mà sắp đặt sàng tòa</p><p>Dùng hương dầu xoa thân</p><p>Tắm gội các bụi dơ</p><p>Mặc y mới sạch sẽ</p><p>Trong ngoài đều sạch thơm</p><p>Ngồi an nơi pháp tòa</p><p>Theo chỗ hỏi vì nói.</p><p>Nếu có vị Tỳ kheo</p><p>Cùng với Tỳ kheo ni</p><p>Các hàng Ưu bà tắc</p><p>Và hàng Ưu bà di</p><p>Quốc vương và vương tử,</p><p>Các quan cùng sĩ dân</p><p>Dùng pháp nghĩa nhiệm mầu</p><p>Vui vẻ vì họ nói</p><p>Nếu có người gạn hỏi</p><p>Theo đúng nghĩa mà đáp</p><p>Nhân duyên hoặc thí dụ</p><p>Giải bày phân biệt nói</p><p>Dùng trí phương tiện này</p><p>Đều khiến kia phát tâm</p><p>Lần lần thêm đông nhiều</p><p>Vào ở trong Phật đạo.</p><p>Trừ lòng lười biếng trễ</p><p>Cùng với tưởng giải đãi</p><p>Xa rời các ưu não</p><p>Tâm từ lành nói pháp</p><p>Ngày đêm thường tuyên nói</p><p>Giáo pháp vô thượng đạo</p><p>Dùng các việc nhân duyên</p><p>Vô lượng món thí dụ</p><p>Mở bày dạy chúng sanh</p><p>Đều khiến chúng vui mừng</p><p>Y phục cùng đồ nằm</p><p>Đồ ăn uống thuốc thang</p><p>Mà ở nơi trong đó</p><p>Không có chỗ mong cầu</p><p>Chỉ chuyên một lòng nhớ</p><p>Nhân duyên nói kinh pháp</p><p>Nguyện ta thành Phật đạo</p><p>Khiến mọi người cũng vậy</p><p>Đó là lợi lành lớn</p><p>Là an vui cúng dường</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Nếu có vị Tỳ kheo</p><p>Có thể diễn nói được</p><p>Kinh Diệu Pháp Hoa này</p><p>Lòng không chút ghen hờn</p><p>Không các não chướng ngại</p><p>Cũng lại không ưu sầu</p><p>Và cùng mắng nhiếc thảy</p><p>Lại cũng không sợ sệt</p><p>Không dao gậy đánh đập</p><p>Cũng không xua đuổi ra</p><p>Vì an trụ nhẫn vậy</p><p>Người trí khéo tu tập</p><p>Tâm mình được dường ấy</p><p>Thời hay trụ an lạc</p><p>Như ta nói ở trên</p><p>Công đức của người đó</p><p>Trong nghìn muôn ức kiếp</p><p>Tánh kể hay thí dụ</p><p>Nói chẳng thể hết được.</p><p>Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt mà thụ trì đọc tụng kinh điển này, chớ ôm lòng ghen ghét dua dối, cũng chớ khinh mắng người học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở của kia. Nếu hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc cầu Thanh văn, hoặc cầu Duyên giác, hoặc cầu Bồ tát đạo, đều không được làm não đó, khiến cho kia sanh lòng nghi hối mà nói với người rằng: Các người cách đạo rất xa, trọn không thể được bậc nhất thiết chủng trí.</p><p>Vì sao? Vì các người là kẻ buông lung, biếng trễ đối với đạo. Lại cũng chẳng nên hí luận các pháp có chỗ giành cãi. Phải ở nơi tất cả chúng sanh, khởi tưởng đại bi, đối với các Đức Như Lai sanh tưởng như cha lành, đối với các Bồ tát, tưởng là bậc đại sư, với các Đại Bồ tát ở mười phương phải thâm tâm lễ lạy, với tất cả chúng sanh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp muốn diệt nếu thành tựu được hạnh an lạc thứ ba đây, thời lúc nói pháp này không ai có thể não loạn, được bạn lành đồng học cùng đọc tụng kinh này, có đại chúng lại đến nghe thọ, nghe rồi hay trì, trì rồi hay tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi hay viết cùng khiến người viết.</p><p>Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Muốn nói kinh pháp này</p><p>Mà trụ nơi an lạc</p><p>Ở chỗ vắng lặng lẽ</p><p>Chẳng ưa ngủ nhiều lắm</p><p>Cũng chẳng ưa thân cận</p><p>Hàng vua chúa quan quyền</p><p>Cũng chớ nên gần gũi</p><p>Hàng quan nhỏ thấp hèn</p><p>Dâm nữ cùng bất nam</p><p>Thảy đều chớ gần gũi</p><p>Cũng chớ nên gần gũi</p><p>Hàng đồ tể cắt thái</p><p>Săn bắn chài lưới thảy</p><p>Vì lợi giết hại sanh</p><p>Những người buôn bán thịt</p><p>Và kẻ bán sắc nữ</p><p>Thảy đều chớ gần gũi</p><p>Để cầu lòng an lạc</p><p>Khéo nói pháp nhiệm mầu</p><p>Chẳng sanh lòng vui mừng</p><p>Vì được mặc y tốt</p><p>Ăn ngon cùng thuốc thang</p><p>Cũng chớ có tư tưởng</p><p>Sợ không đủ dùng thảy</p><p>Chỉ một lòng nghĩ nhớ</p><p>Rộng nói chẳng sai lầm</p><p>Nguyện thành Phật đạo quả</p><p>Khiến người cũng như vậy</p><p>Đó thời là lợi lớn</p><p>An vui cúng dường vậy.</p><p>Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời mạt pháp sau, lúc pháp muốn diệt, người thọ trì kinh này, đối với người xuất gia, kẻ tại gia, sanh lòng đại bi, đối với kẻ chẳng phải Bồ tát sanh lòng từ bi nghĩ rằng: Những người này rất là thiệt thòi, Phật phương tiện theo cơ nghi nói pháp mà chẳng hay nghe, chẳng hay biết, chẳng hay tỉnh, chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giải. Những người này tuy chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giải kinh này, khi ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sẽ ở chỗ khác dùng sức thần thông, sức trí huệ dắt dẫn đó khiến trụ trong pháp này.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát sau khi Như Lai diệt độ nếu thành tựu pháp thứ tư này, thời lúc nói pháp không có lỗi lầm, thường được Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân, Bà la môn, cư sĩ,... cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Các trời ở hư không vì nghe pháp thường theo hầu đó. Nếu ở nơi thôn xóm, thành ấp, rừng vắng, có người đến muốn gạn hỏi, các trời vì pháp thường theo hầu hộ vệ đó, khiến người nghe đều vui mừng. Vì sao? Vì kinh này được sức niệm của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Văn Thù Sư Lợi! Như trong vô lượng vô số kiếp ở các cõi nước mười phương, nhẫn đến tên kinh Pháp Hoa còn chưa từng nghe huống là thấy thọ trì đọc tụng.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Ví như vị vua có sức mạnh xoay chuyển bánh xe, đánh dẹp các giặc thù rồi, tùy công thưởng cho các binh sĩ: hoặc thưởng voi, ngựa, xe, cộ, hình tượng trang nghiêm thân mình, ruộng đất nhà cửa, thôn ấp, thành quách, hoặc thưởng y phục, các món trân bảo, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, tôi tớ, xe ngựa, kiệu cáng. Duy có viên ngọc sáng trên mão chẳng đem cho đó, vì sao? Vì viên ngọc ấy chỉ có một viên ở trên đầu vua, nếu đem cho đó thời quyến thuộc của vua tất lấy làm lạ.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Như Lai cũng vậy, dùng sức thiền định trí huệ được nước pháp, thống trị ba cõi, mà các ma vương chẳng chịu hàng phục, các vị hiền thánh là tướng quân của Như Lai cùng với ma chiến đấu, kẻ có công thời lòng vui mừng, ở trong đại chúng bốn bộ nói các kinh điển khiến lòng chúng vui, dùng tam minh, lục thông, các sức thần thông, các sức thiền định giải thoát, các pháp bất cộng, khiến chúng hoan hỷ, lại dùng vô lượng các pháp khiến vào Phật huệ. Nhưng chưa từng nói kinh Pháp Hoa này.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Như vị Luân vương thấy trong hàng binh sĩ kẻ rất có công mới lòng rất vui mừng đem viên ngọc khó cho mà lâu nay ở trên mão chẳng khinh tiện cho, nay mới cho đó. Như Lai cũng vậy, ở trong đại tam thiên thế giới làm vua pháp lớn, dùng pháp giáo hóa tất cả chúng sanh, thấy hiền thánh quân cùng ngũ ấm ma, phiền não ma, tử ma chiến đấu có đại công lực, diệt ba độc, ra ba cõi, phá lưới ma, thời Như Lai rất vui mừng đem kinh Pháp Hoa khiến tất cả chúng sanh được bậc Nhất thiết chủng trí mà các Đức Phật ba đời khó nói nay mới nói đó.</p><p>Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là lời nói bậc nhất của Như Lai, ở trong các lời nói thời là rất sâu, rốt sau mới ban cho, như vị vua kia lâu có viên ngọc sáng rốt sau mới cho. Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của chư Phật Như Lai, ở trong các kinh thời là bậc nhất, Phật lâu dài hộ trì chẳng khinh tiện nói, hôm nay mới đem phó chúc cho các ngươi.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Thường hành pháp nhẫn nhục</p><p>Từ bi thương chúng sanh</p><p>Mới đem kinh bí mật</p><p>Ta cất dấu lâu nay</p><p>Phó chúc cho người khác.</p><p>Người ấy ở đời mạt</p><p>Đối với kinh điển này</p><p>Nói với xuất gia nhân</p><p>Và kẻ cầu Đại thừa</p><p>Ngươi nếu có thể trì</p><p>Đọc tụng hiểu nghĩa kinh</p><p>Theo đúng pháp tu hành</p><p>Đó gọi là chân thật</p><p>Thân cận Phật tử vậy.</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Người nào hay thọ trì</p><p>Đọc tụng kinh điển này</p><p>Thời ở trước Phật nói</p><p>Ta có nguyện lực lớn</p><p>Khiến kinh lưu bố rộng</p><p>Người ấy lúc mạng chung</p><p>Được nghìn Phật tiếp tay</p><p>Chớ có lòng sợ sệt</p><p>Sau khi mạng chung rồi</p><p>Được sanh lên trời Đâu</p><p>Chỗ của Đế Thích vương</p><p>Ba mươi ba vị trời</p><p>Cùng trăm nghìn thiên nữ</p><p>Tấu kỹ nhạc muôn thứ</p><p>Cùng các việc vui chơi</p><p>Đều đến để hầu hạ</p><p>Được sanh lên trời đó</p><p>Trí huệ vui thần thông</p><p>Rộng độ các chúng sanh</p><p>Trong vô lượng cõi nước</p><p>Lần lần tu Phạm hạnh</p><p>Mau thành quả Bồ đề</p><p>Người ấy ở cõi này</p><p>Khéo biết tướng sanh tử</p><p>Và các pháp môn khác</p><p>Như trong kinh này nói</p><p>Có nghìn muôn ức Bồ tát</p><p>Dùng các món thí dụ</p><p>Diễn bày phân biệt kinh</p><p>Mà hay tự thanh tịnh</p><p>Theo người trí tu hành</p><p>Lại ở vô lượng kiếp</p><p>Hay phân biệt các pháp</p><p>Ở trong các chúng sanh</p><p>Biết căn tánh lợi độn</p><p>Dùng phương tiện khéo hay</p><p>Khiến đều được hoan hỷ</p><p>Như biển lớn nước mặn</p><p>Tất cả đều một vị</p><p>Kinh Pháp Hoa như vậy</p><p>Dùng một vị mưa pháp</p><p>Khắp đầy cả thế gian</p><p>Theo sức chịu đựng được</p><p>Mà nói các pháp nghĩa</p><p>Như biển lớn nước mặn</p><p>Tất cả đều một vị</p><p>Kinh Pháp Hoa như vậy</p><p>Hay sanh trí huệ sạch</p><p>Trong nghìn muôn ức kiếp</p><p>Rộng nói các pháp môn</p><p>Thảy đều được thành Phật</p><p>Nay ta nói như vậy</p><p>Để khiến các ngươi biết</p><p>Kinh Pháp Hoa này đây</p><p>Mở bày Phật chủng tánh</p><p>Như mây lớn mưa xuống</p><p>Khắp các cõi thế gian</p><p>Sấm vang chớp sáng chói</p><p>Mát mẻ khắp nơi nơi</p><p>Che phủ cả đại địa</p><p>Như người khát đến suối</p><p>Thấy nước trong mát lạnh</p><p>Nhưng chưa thể uống được</p><p>Chia cát tìm nước suối</p><p>Thấy nước trong mát lạnh</p><p>Liền uống được no lòng</p><p>Bồ tát cũng như vậy</p><p>Đã xa lìa sanh tử</p><p>Được pháp nhẫn vô sanh</p><p>Sau khi được an ổn</p><p>Ở trong đời vị lai</p><p>Được thành bậc Chánh giác</p><p>Dùng các món thần thông</p><p>Vui đùa trong mười phương</p><p>Rộng độ các chúng sanh.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 14 Kinh Pháp Hoa (An Lạc Hạnh)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm An Lạc Hạnh dạy về bốn pháp an lạc mà Bồ tát cần an trú để thuyết giảng Kinh Pháp Hoa trong đời ác trược sau khi Phật diệt độ: hành xứ (nơi hành đạo), thân cận xứ (nơi thân cận), khẩu hạnh (lời nói an lạc), và ý hạnh (tâm đại bi). Những pháp này giúp Bồ tát tránh chướng ngại, giữ tâm an ổn, từ bi, không phân biệt, không mong cầu, dẫn đến việc thuyết pháp hiệu quả, mang lại an lạc cho bản thân và chúng sinh, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp tối thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 14: An Lạc Hạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Ngài Văn Thù Sư Lợi Đại Bồ tát bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Các vị Bồ tát này rất là ít có, vì kính thuận Phật nên phát thệ nguyện lớn: ở nơi đời ác sau, hộ trì đọc nói kinh Pháp Hoa này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Các vị Đại Bồ tát ở đời ác sau, thế nào mà có thể nói kinh này?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Ngài Văn Thù Sư Lợi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu vị Bồ tát ở đời ác sau muốn nói kinh này, phải an trụ trong bốn pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một, an trụ nơi Hành xứ và nơi Thân cận xứ của Bồ tát, thời có thể vì chúng sanh mà diễn nói kinh này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Thế nào gọi là chỗ Hành xứ của Đại Bồ tát? Nếu vị Đại Bồ tát an trụ trong nhẫn nhục hòa dịu khéo thuận mà không vụt chạc lòng cũng chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tưởng như thực của các pháp cũng chẳng vin theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ Hành xứ của Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào gọi là chỗ Thân cận của Đại Bồ tát? Vị Đại Bồ tát chẳng gần gũi quốc vương, vương tử, đại thần, quan trưởng, chẳng gần gũi các ngoại đạo phạm chí, Ni kiền tử,... và chẳng gần những kẻ viết sách thế tục ca ngâm; sách ngoại đạo cùng với phái Lộ Già Da Đà, phái Nghịch Lộ Già Da Đà, cũng chẳng gần gũi những kẻ chơi hung hiểm đâm nhau, đánh nhau, và bọn Na la,... bày các cuộc chơi biến hiện. Lại chẳng gần gũi bọn hàng thịt và kẻ nuôi heo, dê, gà, chó, săn bắn chài lưới, hạng người sống với nghề ác, những người như thế hoặc có lúc lại đến thời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ tát vì nói pháp không có lòng mong cầu. Lại chẳng gần gũi những Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng người cầu quả Thanh văn, hoặc ở trong phòng, hoặc chỗ kinh hành, hoặc ở trong giảng đường chẳng cùng ở chung, hoặc có lúc những người đó lại đến, Bồ tát theo cơ nghi nói pháp không lòng mong cầu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Lại vị Đại Bồ tát chẳng nên ở nơi thân người nữ cho là tướng có thể sanh tư tưởng dục nhiễm mà vì nói pháp, cũng chẳng ưa thấy. Nếu vào nhà người chẳng cùng với gái nhỏ, gái trinh, gái góa,... chung nói chuyện, cũng lại chẳng gần năm giống người bất nam để làm thân hậu. Chẳng riêng mình vào nhà người, nếu lúc có nhân duyên cần riêng mình vào thời chuyên một lòng niệm Phật. Nếu vì người nữ nói pháp thời chẳng hở răng cười, chẳng bày hông, ngực, nhẫn đến vì pháp mà còn chẳng thân hậu, huống lại là việc khác. Chẳng ưa nuôi đệ tử Sa di ít tuổi và các trẻ nhỏ, cũng chẳng ưa cùng chúng nó đồng một thầy. Thường ưa ngồi thiền ở chỗ vắng tu nhiếp tâm mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Đó gọi là Chỗ thân cận ban đầu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, vị Đại Bồ tát quán sát Nhất thiết pháp không như thật tướng chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư không, không có thật tánh, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sanh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thực không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân duyên mà có, từ điên đảo mà sanh cho nên nói, thường ưa quán sát pháp tướng như thế đó gọi là Chỗ thân cận thứ hai của vị Đại Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có vị Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong đời ác sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng không hề sợ sệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn nói kinh pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên trụ vào Hành xứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và trụ Thân cận xứ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường xa rời quốc vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và con của quốc vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quan đại thần, quan lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ chơi việc hung hiểm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng bọn Chiên đà la&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng ngoại đạo phạm chí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng chẳng ưa gần gũi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hạng người tăng thượng mạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng học giả tham chấp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh, luật, luận Tiểu thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những Tỳ kheo phá giới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Danh tự A la hán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và những Tỳ kheo ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ưa thích chơi giỡn cười&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Ưu bà di&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tham mê năm món dục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu hiện tại diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều chớ có gần gũi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu những hạng người đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng tâm tốt mà đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tại chỗ của Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để vì nghe Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ tát thời nên dùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng không chút sợ sệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng có niệm mong cầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà vì chúng nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những gái góa, gái trinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các kẻ bất nam&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều chớ có gần gũi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để cùng làm thân hậu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chớ nên gần gũi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ đồ tể cắt thái&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Săn bắn và chài lưới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lợi mà giết hại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bán thịt để tự sống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Buôn bán sắc gái đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những người như thế đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều chớ có gần gũi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các cuộc chơi giỡn dữ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hung hiểm đâm đánh nhau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và những dâm nữ thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trọn chớ có gần gũi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ nên riêng chỗ khuất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì người nữ nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lúc vì nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng được chơi giỡn cười&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi vào xóm khất thực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải dắt một Tỳ kheo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu không có Tỳ kheo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải một lòng niệm Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây thời gọi tên là&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành xứ, Thân cận xứ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng hai xứ trên đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có thể an lạc nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại cũng chẳng vịn theo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thượng, trung và hạ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hữu vi hay vô vi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thực cùng pháp chẳng thực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng có phân biệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là nam là nữ thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại chẳng được các pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng biết cũng chẳng thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây thời gọi tên là&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành xứ của Bồ tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả các món pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều không, chẳng chỗ có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có chút thường trụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn cũng không khởi diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây gọi là Thân cận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỗ người trí hằng nương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ đảo điên phân biệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các pháp có hoặc không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là thực, chẳng phải thực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là sanh chẳng phải sanh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở an nơi vắng vẻ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sửa trao nhiếp tâm mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ chẳng lay động&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như thể núi Tu Di&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán sát tất cả pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều không thực có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dường như khoảng hư không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có chút bền chắc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng sanh cũng chẳng xuất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng động cũng chẳng thối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường trụ một tướng thể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó gọi là Cận xứ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có vị Tỳ kheo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vào được Hành xứ đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời lúc nói kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có lòng e sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị Bồ tát có lúc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vào nơi nhà tịnh thất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng nghĩ nhớ chân chính&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo đúng nghĩa quán pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ trong thiền định dậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì các bậc quốc vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vương tử và quan, dân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng Bà la môn thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà khai hóa diễn bày&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng nói kinh điển này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm vị đó an ổn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có chút khiếp nhược.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó gọi là Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ trong sơ pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có thể ở đời sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diễn nói kinh Pháp Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại Văn Thù Sư Lợi! Sau khi Đức Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp muốn nói kinh này, phải trụ nơi hạnh an lạc, hoặc miệng tuyên nói hoặc lúc đọc kinh đều chẳng ưa nói lỗi của người và của kinh điển; chẳng khinh mạn các Pháp sư khác, chẳng nói việc hay dở, tốt xấu của người khác. Ở nơi hàng Thanh văn cũng chẳng kêu tên nói lỗi quấy của người đó, cũng chẳng kêu tên khen ngợi điều tốt của người đó. Lại cũng chẳng sanh lòng oán hiềm, vì khéo tu lòng an lạc như thế, nên những người nghe pháp không trái ý. Có chỗ gạn hỏi, chẳng dùng pháp Tiểu thừa đáp, chỉ dùng pháp đại thừa mà vì đó giải nói làm cho được bậc Nhất thiết chủng trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vị Bồ tát thường ưa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An ổn nói kinh pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở nơi chỗ thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà sắp đặt sàng tòa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng hương dầu xoa thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tắm gội các bụi dơ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mặc y mới sạch sẽ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong ngoài đều sạch thơm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngồi an nơi pháp tòa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo chỗ hỏi vì nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có vị Tỳ kheo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng với Tỳ kheo ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các hàng Ưu bà tắc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và hàng Ưu bà di&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quốc vương và vương tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các quan cùng sĩ dân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng pháp nghĩa nhiệm mầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui vẻ vì họ nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người gạn hỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo đúng nghĩa mà đáp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân duyên hoặc thí dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải bày phân biệt nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng trí phương tiện này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều khiến kia phát tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần lần thêm đông nhiều&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vào ở trong Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trừ lòng lười biếng trễ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng với tưởng giải đãi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa rời các ưu não&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm từ lành nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngày đêm thường tuyên nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giáo pháp vô thượng đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các việc nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng món thí dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mở bày dạy chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều khiến chúng vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y phục cùng đồ nằm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồ ăn uống thuốc thang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà ở nơi trong đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có chỗ mong cầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ chuyên một lòng nhớ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân duyên nói kinh pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguyện ta thành Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến mọi người cũng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là lợi lành lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là an vui cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có vị Tỳ kheo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có thể diễn nói được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Hoa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng không chút ghen hờn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không các não chướng ngại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng lại không ưu sầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và cùng mắng nhiếc thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại cũng không sợ sệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không dao gậy đánh đập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng không xua đuổi ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì an trụ nhẫn vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí khéo tu tập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm mình được dường ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời hay trụ an lạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ta nói ở trên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức của người đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong nghìn muôn ức kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tánh kể hay thí dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chẳng thể hết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp gần diệt mà thụ trì đọc tụng kinh điển này, chớ ôm lòng ghen ghét dua dối, cũng chớ khinh mắng người học Phật đạo, vạch tìm chỗ hay dở của kia. Nếu hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hoặc cầu Thanh văn, hoặc cầu Duyên giác, hoặc cầu Bồ tát đạo, đều không được làm não đó, khiến cho kia sanh lòng nghi hối mà nói với người rằng: Các người cách đạo rất xa, trọn không thể được bậc nhất thiết chủng trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì các người là kẻ buông lung, biếng trễ đối với đạo. Lại cũng chẳng nên hí luận các pháp có chỗ giành cãi. Phải ở nơi tất cả chúng sanh, khởi tưởng đại bi, đối với các Đức Như Lai sanh tưởng như cha lành, đối với các Bồ tát, tưởng là bậc đại sư, với các Đại Bồ tát ở mười phương phải thâm tâm lễ lạy, với tất cả chúng sanh đều bình đẳng nói pháp. Vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời rốt sau lúc pháp muốn diệt nếu thành tựu được hạnh an lạc thứ ba đây, thời lúc nói pháp này không ai có thể não loạn, được bạn lành đồng học cùng đọc tụng kinh này, có đại chúng lại đến nghe thọ, nghe rồi hay trì, trì rồi hay tụng, tụng rồi hay nói, nói rồi hay viết cùng khiến người viết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn nói kinh pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà trụ nơi an lạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở chỗ vắng lặng lẽ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng ưa ngủ nhiều lắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng ưa thân cận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng vua chúa quan quyền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chớ nên gần gũi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng quan nhỏ thấp hèn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dâm nữ cùng bất nam&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều chớ gần gũi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chớ nên gần gũi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hàng đồ tể cắt thái&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Săn bắn chài lưới thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì lợi giết hại sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những người buôn bán thịt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và kẻ bán sắc nữ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều chớ gần gũi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để cầu lòng an lạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo nói pháp nhiệm mầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng sanh lòng vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì được mặc y tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn ngon cùng thuốc thang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chớ có tư tưởng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sợ không đủ dùng thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ một lòng nghĩ nhớ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng nói chẳng sai lầm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nguyện thành Phật đạo quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến người cũng như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó thời là lợi lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An vui cúng dường vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát ở đời mạt pháp sau, lúc pháp muốn diệt, người thọ trì kinh này, đối với người xuất gia, kẻ tại gia, sanh lòng đại bi, đối với kẻ chẳng phải Bồ tát sanh lòng từ bi nghĩ rằng: Những người này rất là thiệt thòi, Phật phương tiện theo cơ nghi nói pháp mà chẳng hay nghe, chẳng hay biết, chẳng hay tỉnh, chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giải. Những người này tuy chẳng hỏi, chẳng tin, chẳng giải kinh này, khi ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác sẽ ở chỗ khác dùng sức thần thông, sức trí huệ dắt dẫn đó khiến trụ trong pháp này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Vị Đại Bồ tát sau khi Như Lai diệt độ nếu thành tựu pháp thứ tư này, thời lúc nói pháp không có lỗi lầm, thường được Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, quốc vương, vương tử, đại thần, nhân dân, Bà la môn, cư sĩ,... cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen. Các trời ở hư không vì nghe pháp thường theo hầu đó. Nếu ở nơi thôn xóm, thành ấp, rừng vắng, có người đến muốn gạn hỏi, các trời vì pháp thường theo hầu hộ vệ đó, khiến người nghe đều vui mừng. Vì sao? Vì kinh này được sức niệm của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Văn Thù Sư Lợi! Như trong vô lượng vô số kiếp ở các cõi nước mười phương, nhẫn đến tên kinh Pháp Hoa còn chưa từng nghe huống là thấy thọ trì đọc tụng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Ví như vị vua có sức mạnh xoay chuyển bánh xe, đánh dẹp các giặc thù rồi, tùy công thưởng cho các binh sĩ: hoặc thưởng voi, ngựa, xe, cộ, hình tượng trang nghiêm thân mình, ruộng đất nhà cửa, thôn ấp, thành quách, hoặc thưởng y phục, các món trân bảo, vàng bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, tôi tớ, xe ngựa, kiệu cáng. Duy có viên ngọc sáng trên mão chẳng đem cho đó, vì sao? Vì viên ngọc ấy chỉ có một viên ở trên đầu vua, nếu đem cho đó thời quyến thuộc của vua tất lấy làm lạ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Như Lai cũng vậy, dùng sức thiền định trí huệ được nước pháp, thống trị ba cõi, mà các ma vương chẳng chịu hàng phục, các vị hiền thánh là tướng quân của Như Lai cùng với ma chiến đấu, kẻ có công thời lòng vui mừng, ở trong đại chúng bốn bộ nói các kinh điển khiến lòng chúng vui, dùng tam minh, lục thông, các sức thần thông, các sức thiền định giải thoát, các pháp bất cộng, khiến chúng hoan hỷ, lại dùng vô lượng các pháp khiến vào Phật huệ. Nhưng chưa từng nói kinh Pháp Hoa này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Như vị Luân vương thấy trong hàng binh sĩ kẻ rất có công mới lòng rất vui mừng đem viên ngọc khó cho mà lâu nay ở trên mão chẳng khinh tiện cho, nay mới cho đó. Như Lai cũng vậy, ở trong đại tam thiên thế giới làm vua pháp lớn, dùng pháp giáo hóa tất cả chúng sanh, thấy hiền thánh quân cùng ngũ ấm ma, phiền não ma, tử ma chiến đấu có đại công lực, diệt ba độc, ra ba cõi, phá lưới ma, thời Như Lai rất vui mừng đem kinh Pháp Hoa khiến tất cả chúng sanh được bậc Nhất thiết chủng trí mà các Đức Phật ba đời khó nói nay mới nói đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là lời nói bậc nhất của Như Lai, ở trong các lời nói thời là rất sâu, rốt sau mới ban cho, như vị vua kia lâu có viên ngọc sáng rốt sau mới cho. Văn Thù Sư Lợi! Kinh Pháp Hoa này là tạng bí mật của chư Phật Như Lai, ở trong các kinh thời là bậc nhất, Phật lâu dài hộ trì chẳng khinh tiện nói, hôm nay mới đem phó chúc cho các ngươi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường hành pháp nhẫn nhục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bi thương chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới đem kinh bí mật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta cất dấu lâu nay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phó chúc cho người khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy ở đời mạt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đối với kinh điển này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói với xuất gia nhân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và kẻ cầu Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngươi nếu có thể trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng hiểu nghĩa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo đúng pháp tu hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó gọi là chân thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân cận Phật tử vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nào hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đọc tụng kinh điển này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời ở trước Phật nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta có nguyện lực lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến kinh lưu bố rộng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy lúc mạng chung&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được nghìn Phật tiếp tay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ có lòng sợ sệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi mạng chung rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được sanh lên trời Đâu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỗ của Đế Thích vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba mươi ba vị trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng trăm nghìn thiên nữ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tấu kỹ nhạc muôn thứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng các việc vui chơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều đến để hầu hạ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được sanh lên trời đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ vui thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng độ các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong vô lượng cõi nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần lần tu Phạm hạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mau thành quả Bồ đề&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy ở cõi này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo biết tướng sanh tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các pháp môn khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trong kinh này nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có nghìn muôn ức Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các món thí dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diễn bày phân biệt kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà hay tự thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo người trí tu hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại ở vô lượng kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay phân biệt các pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết căn tánh lợi độn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng phương tiện khéo hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến đều được hoan hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như biển lớn nước mặn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả đều một vị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng một vị mưa pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp đầy cả thế gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo sức chịu đựng được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nói các pháp nghĩa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như biển lớn nước mặn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả đều một vị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay sanh trí huệ sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong nghìn muôn ức kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng nói các pháp môn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều được thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta nói như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để khiến các ngươi biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa này đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mở bày Phật chủng tánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như mây lớn mưa xuống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp các cõi thế gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sấm vang chớp sáng chói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mát mẻ khắp nơi nơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Che phủ cả đại địa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người khát đến suối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy nước trong mát lạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chưa thể uống được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chia cát tìm nước suối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy nước trong mát lạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền uống được no lòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ tát cũng như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã xa lìa sanh tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được pháp nhẫn vô sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi được an ổn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong đời vị lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được thành bậc Chánh giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng các món thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui đùa trong mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng độ các chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="20705280" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/de337ea1-ef6b-4618-9f8d-983652bc2a6e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ebc4a6a7-caa7-42cf-8b50-93ac8b81c159</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/de337ea1-ef6b-4618-9f8d-983652bc2a6e</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:19:40 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/db42c8c8-e553-4730-94a6-4856d2c3f313_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>1294</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 12</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 12</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 12 Kinh Pháp Hoa (Đề Bà Đạt Đa)</p><p>Phẩm Đề Bà Đạt Đa là phần quan trọng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kể về việc Đức Phật tiết lộ rằng Đề Bà Đạt Đa – kẻ từng hại Phật – chính là thiện tri thức giúp Ngài thành đạo, và ông ta cũng sẽ thành Phật trong tương lai. Phẩm này còn kể chuyện Long Nữ tám tuổi thành Phật nhanh chóng, nhấn mạnh tính bình đẳng của Phật tánh: bất kỳ ai, dù ác nhân, phụ nữ hay trẻ em, đều có thể thành Phật nếu tin nhận và hành trì Kinh Pháp Hoa, vượt qua mọi chướng ngại.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 12: Đề Bà Đạt Đa</p><p>Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Bồ tát và hàng trời, người, bốn chúng:</p><p><br></p><p><br></p><p>Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp Hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị quốc vương phát nguyện cầu đạo Vô thượng Bồ đề, lòng bất thối chuyển. Vì muốn đầy đủ Lục độ Ba la mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi, ngựa, bảy báu, nước thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân, chẳng tiếc thân mạng.</p><p><br></p><p><br></p><p>Thuở đó, nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, vua vì mến pháp nên thôi bỏ ngôi vua, giao việc trị nước cho thái tử. Đánh trống ra lệnh cầu pháp khắp bốn phương:</p><p><br></p><p>Ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa, thời ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ.</p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p>Khi ấy có vị tiên nhơn đến thưa cùng vua rằng:</p><p><br></p><p>Ta có pháp Đại thừa tên là kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nếu đại vương không trái ý ta, ta sẽ vì đại vương mà tuyên nói.</p><p><br></p><p><br></p><p><br></p><p>Vua nghe lời vị tiên nhơn nói, vui mừng hớn hở, liền đi theo vị tiên nhơn để cung cấp việc cần dùng: hoặc hái trái, gánh nước, hoặc lượm củi, nấu ăn cho đến dùng thân mình làm giường ghế, thân tâm không biết mỏi. Thuở đó theo phụng thờ vị tiên nhơn trải qua một nghìn năm, vì trọng pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho tiên nhơn không thiếu thốn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Ta nhớ kiếp quá khứ</p><p>Vì cầu pháp Đại thừa</p><p>Dầu làm vị quốc vương</p><p>Chẳng ham vui ngũ dục</p><p>Đánh chuông rao bốn phương</p><p>Ai có pháp Đại thừa</p><p>Nếu vì ta giải nói</p><p>Thân sẽ làm tôi tớ.</p><p>Giờ có tiên Trường Thọ</p><p>Đến thưa cùng Đại vương</p><p>Ta có pháp nhiệm mầu</p><p>Trong đời ít có được</p><p>Nếu có thể tu hành</p><p>Ta sẽ vì ông nói.</p><p>Khi vua nghe tiên nói</p><p>Sanh lòng rất vui đẹp</p><p>Liền đi theo tiên nhơn</p><p>Cung cấp đồ cần dùng</p><p>Lượm củi và rau trái</p><p>Theo lời cung kính dâng</p><p>Lòng ham pháp Đại thừa</p><p>Thân tâm không lười mỏi,</p><p>Khắp vì các chúng sanh</p><p>Siêng cầu pháp mầu lớn</p><p>Cũng không vì thân mình</p><p>Cùng với vui ngũ dục</p><p>Nên dầu làm vua lớn</p><p>Siêng cầu được pháp này</p><p>Do đó được thành Phật</p><p>Nay vẫn vì ông nói.</p><p>Phật bảo các Tỳ kheo rằng:</p><p><br></p><p>Thuở ấy, vua đó thời chính thân ta, còn tiên nhơn đó nay chính là ông Đề Bà Đạt Đa. Do nhờ ông thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa làm cho ta đầy đủ Lục độ Ba la mật, từ bi hỷ xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười trí lực, bốn món vô sở úy, bốn món nhiếp pháp, mười tám món bất cộng, thần thông đạo lực, thành bậc chánh đẳng chánh giác rộng độ chúng sanh, tất cả công đức đó đều là nhân thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa cả.</p><p><br></p><p>Phật bảo hàng tứ chúng:</p><p><br></p><p>Qua vô lượng kiếp về sau, ông Đề Bà Đạt Đa sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên Đạo, lúc Thiên Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sanh mà nói pháp mầu, hằng hà sa chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh phát tâm Duyên giác, hằng hà sa chúng sanh phát tâm vô thượng đạo, được vô sanh nhẫn đến bậc Bất thối chuyển.</p><p>Sau khi Đức Thiên Vương Phật nhập Niết bàn, Chánh pháp trụ lại đời hai mươi trung kiếp, toàn thân xá lợi dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do tuần. Các hàng trời nhân dân đều đem hoa đẹp, hương bột, hương xoa, hương đốt, y phục, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng báu, kỹ nhạc, ca tụng để lễ lạy cúng dường tháp đẹp bằng bảy báu đó. Vô lượng chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh ngộ Bích chi Phật, bất khả tư nghì chúng sanh phát tâm Bồ đề đến bậc Bất thối chuyển.</p><p><br></p><p>Đức Phật bảo các Tỳ kheo:</p><p><br></p><p>Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Đề Bà Đạt Đa, sanh lòng trong sạch kính tin chẳng sanh nghi lầm, thời chẳng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, được sanh ở trước các Đức Phật trong mười phương, chỗ người đó sanh ra thường được nghe kinh này. Nếu sanh vào cõi nhân thiên thời hưởng sự vui thắng diệu, nếu sanh ở trước Phật thờì từ hoa sen hóa sanh.</p><p><br></p><p>Bấy giờ, ở hạ phương vị Bồ tát theo hầu Đức Đa Bảo Như Lai tên là Trí Tích bạch với Đức Đa Bảo Phật nên trở về bổn quốc. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Trí Tích rằng:</p><p><br></p><p>Thiện nam tử! Chờ giây lát, cõi đây có Bồ tát tên Văn Thù Sư Lợi có thể cùng ra mắt nhau luận nói pháp mầu rồi sẽ về bổn độ.</p><p><br></p><p>Lúc đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh xe, các vị Bồ tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu, từ nơi cung rồng Ta Kiệt La trong biển lớn tự nhiên vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh Thứu, từ trên hoa sen bước xuống đến chỗ Phật, làm lễ xong, qua chỗ Trí Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía.</p><p>Ngài Trí Tích Bồ tát hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:</p><p><br></p><p>Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sanh số được bao nhiêu?</p><p><br></p><p>Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:</p><p><br></p><p>Số đó vô lượng không thể tánh kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây lát sẽ tự chứng biết.</p><p><br></p><p>Ngài Văn Thù nói chưa dứt lời, liền có vô số Bồ tát ngồi hoa sen báu từ biển vọt lên đến núi Linh Thứu trụ giữa hư không. Các vị Bồ tát này đều là của Ngài Văn Thù Sư Lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ tát đều chung luận nói Lục độ Ba la mật. Những vị mà trước kia là Thanh văn ở giữa hư không nói hạnh Thanh văn nay đều tu hành Nghĩa không của Đại thừa.</p><p>Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với Ngài Trí Tích rằng:</p><p><br></p><p>Tôi giáo hóa ở nơi biển việc đó như thế.</p><p><br></p><p>Lúc ấy, Ngài Văn Thù Sư Lợi nói kệ khen rằng:</p><p>Đại trí đức mạnh mẽ</p><p>Hóa độ vô lượng chúng</p><p>Nay trong hội lớn này</p><p>Và tôi đều đã thấy</p><p>Diễn nói nghĩa thật tướng</p><p>Mở bày pháp nhứt thừa</p><p>Rộng độ các chúng sanh</p><p>Khiến mau thành Bồ đề.</p><p>Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:</p><p><br></p><p>Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.</p><p><br></p><p>Ngài Trí Tích hỏi Ngài Văn thù sư lợi rằng:</p><p><br></p><p>Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?</p><p><br></p><p>Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:</p><p><br></p><p>Có con gái của vua rồng Ta Kiệt La mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí huệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào thiền định, rõ thấu các pháp.</p><p>Trong khoảnh sát na phát tâm Bồ đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ đề.</p><p><br></p><p>Trí Tích Bồ tát nói rằng:</p><p><br></p><p>Tôi thấy Đức Thích Ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ đề chưa từng có lúc thôi dứt: Ta xem trong cõi Tam thiên Đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hạt cải, mà không phải là chỗ của Bồ tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới được thành đạo Bồ đề, chẳng tin Long nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc chánh giác.</p><p><br></p><p>Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long vương bỗng hiện ra nơi trước đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng:</p><p>Thấu rõ tướng tội phước</p><p>Khắp soi cả mười phương</p><p>Pháp thân tịnh vi diệu</p><p>Đủ ba mươi hai tướng</p><p>Dùng tám mươi món tốt</p><p>Để trang nghiêm Pháp thân</p><p>Trời, người đều kính ngưỡng</p><p>Long thần thảy cung kính</p><p>Tất cả loài chúng sanh</p><p>Không ai chẳng tôn phụng</p><p>Lại nghe thành Bồ đề</p><p>Chỉ Phật nên chứng biết</p><p>Tôi nói pháp Đại thừa</p><p>Độ thoát khổ chúng sanh.</p><p>Bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất nói với Long nữ rằng:</p><p><br></p><p>Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin.</p><p>Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành Vô thượng Chánh giác?</p><p>Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: một, chẳng được làm Phạm Thiên vương; hai, chẳng được làm Đế Thích; ba, chẳng được làm Ma vương; bốn, chẳng được làm Chuyển luân thánh vương; năm, chẳng được làm Phật.</p><p>Thế nào thân gái được mau thành Phật?</p><p><br></p><p>Lúc đó, Long nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi Tam thiên Đại thiên đem dâng Đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ tát cùng tôn giả Xá Lợi Phất rằng:</p><p><br></p><p>Tôi hiến châu báu, Đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?</p><p><br></p><p>Đáp:</p><p><br></p><p>Rất mau.</p><p><br></p><p>Long nữ nói:</p><p><br></p><p>Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.</p><p><br></p><p>Đang lúc đó cả chúng hội đều thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, liền qua cõi Vô Cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc chánh đẳng chánh giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sanh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu.</p><p>Khi ấy trong cõi Ta Bà hàng Bồ tát, Thanh văn, trời, rồng, bát bộ, nhơn cùng phi nhơn đều xa thấy Long nữ kia thành Phật khắp vì hàng nhơn, thiên trong hội đó mà nói pháp, sanh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sanh nghe pháp tỏ ngộ được bậc Bất thối chuyển, vô lượng chúng sanh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô Cấu sáu điệu vang động, cõi Ta Bà ba nghìn chúng sanh phát lòng Bồ đề mà được lãnh lời thọ ký.</p><p>Trí Tích Bồ tát và ngài Xá Lợi Phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 12 Kinh Pháp Hoa (Đề Bà Đạt Đa)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Đề Bà Đạt Đa là phần quan trọng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kể về việc Đức Phật tiết lộ rằng Đề Bà Đạt Đa – kẻ từng hại Phật – chính là thiện tri thức giúp Ngài thành đạo, và ông ta cũng sẽ thành Phật trong tương lai. Phẩm này còn kể chuyện Long Nữ tám tuổi thành Phật nhanh chóng, nhấn mạnh tính bình đẳng của Phật tánh: bất kỳ ai, dù ác nhân, phụ nữ hay trẻ em, đều có thể thành Phật nếu tin nhận và hành trì Kinh Pháp Hoa, vượt qua mọi chướng ngại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 12: Đề Bà Đạt Đa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Đức Phật bảo các vị Bồ tát và hàng trời, người, bốn chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở trong vô lượng kiếp về thời quá khứ cầu kinh Pháp Hoa không có lười mỏi. Trong nhiều kiếp thường làm vị quốc vương phát nguyện cầu đạo Vô thượng Bồ đề, lòng bất thối chuyển. Vì muốn đầy đủ Lục độ Ba la mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi, ngựa, bảy báu, nước thành, vợ, con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu, mắt, tủy, óc, thân, thịt, tay, chân, chẳng tiếc thân mạng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuở đó, nhân dân trong đời sống lâu vô lượng, vua vì mến pháp nên thôi bỏ ngôi vua, giao việc trị nước cho thái tử. Đánh trống ra lệnh cầu pháp khắp bốn phương:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có thể vì ta nói pháp Đại thừa, thời ta sẽ trọn đời cung cấp hầu hạ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy có vị tiên nhơn đến thưa cùng vua rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta có pháp Đại thừa tên là kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nếu đại vương không trái ý ta, ta sẽ vì đại vương mà tuyên nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vua nghe lời vị tiên nhơn nói, vui mừng hớn hở, liền đi theo vị tiên nhơn để cung cấp việc cần dùng: hoặc hái trái, gánh nước, hoặc lượm củi, nấu ăn cho đến dùng thân mình làm giường ghế, thân tâm không biết mỏi. Thuở đó theo phụng thờ vị tiên nhơn trải qua một nghìn năm, vì trọng pháp nên siêng năng cung cấp hầu hạ cho tiên nhơn không thiếu thốn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nhớ kiếp quá khứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cầu pháp Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu làm vị quốc vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng ham vui ngũ dục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đánh chuông rao bốn phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có pháp Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu vì ta giải nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân sẽ làm tôi tớ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giờ có tiên Trường Thọ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến thưa cùng Đại vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta có pháp nhiệm mầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời ít có được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có thể tu hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sẽ vì ông nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi vua nghe tiên nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh lòng rất vui đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền đi theo tiên nhơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cung cấp đồ cần dùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lượm củi và rau trái&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo lời cung kính dâng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng ham pháp Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân tâm không lười mỏi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp vì các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Siêng cầu pháp mầu lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng không vì thân mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng với vui ngũ dục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên dầu làm vua lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Siêng cầu được pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do đó được thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay vẫn vì ông nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo các Tỳ kheo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuở ấy, vua đó thời chính thân ta, còn tiên nhơn đó nay chính là ông Đề Bà Đạt Đa. Do nhờ ông thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa làm cho ta đầy đủ Lục độ Ba la mật, từ bi hỷ xả, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi món đẹp, thân sắc vàng tía, mười trí lực, bốn món vô sở úy, bốn món nhiếp pháp, mười tám món bất cộng, thần thông đạo lực, thành bậc chánh đẳng chánh giác rộng độ chúng sanh, tất cả công đức đó đều là nhân thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo hàng tứ chúng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Qua vô lượng kiếp về sau, ông Đề Bà Đạt Đa sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên Đạo, lúc Thiên Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sanh mà nói pháp mầu, hằng hà sa chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh phát tâm Duyên giác, hằng hà sa chúng sanh phát tâm vô thượng đạo, được vô sanh nhẫn đến bậc Bất thối chuyển.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Đức Thiên Vương Phật nhập Niết bàn, Chánh pháp trụ lại đời hai mươi trung kiếp, toàn thân xá lợi dựng tháp bằng bảy báu, cao sáu mươi do tuần. Các hàng trời nhân dân đều đem hoa đẹp, hương bột, hương xoa, hương đốt, y phục, chuỗi ngọc, tràng phan, lọng báu, kỹ nhạc, ca tụng để lễ lạy cúng dường tháp đẹp bằng bảy báu đó. Vô lượng chúng sanh được quả A la hán, vô lượng chúng sanh ngộ Bích chi Phật, bất khả tư nghì chúng sanh phát tâm Bồ đề đến bậc Bất thối chuyển.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật bảo các Tỳ kheo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam, người thiện nữ nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Đề Bà Đạt Đa, sanh lòng trong sạch kính tin chẳng sanh nghi lầm, thời chẳng đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, được sanh ở trước các Đức Phật trong mười phương, chỗ người đó sanh ra thường được nghe kinh này. Nếu sanh vào cõi nhân thiên thời hưởng sự vui thắng diệu, nếu sanh ở trước Phật thờì từ hoa sen hóa sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, ở hạ phương vị Bồ tát theo hầu Đức Đa Bảo Như Lai tên là Trí Tích bạch với Đức Đa Bảo Phật nên trở về bổn quốc. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Trí Tích rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện nam tử! Chờ giây lát, cõi đây có Bồ tát tên Văn Thù Sư Lợi có thể cùng ra mắt nhau luận nói pháp mầu rồi sẽ về bổn độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Ngài Văn Thù Sư Lợi ngồi hoa sen nghìn cánh lớn như bánh xe, các vị Bồ tát cùng theo cũng ngồi hoa sen báu, từ nơi cung rồng Ta Kiệt La trong biển lớn tự nhiên vọt lên trụ trong hư không, đến núi Linh Thứu, từ trên hoa sen bước xuống đến chỗ Phật, làm lễ xong, qua chỗ Trí Tích cùng hỏi thăm nhau rồi ngồi một phía.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Trí Tích Bồ tát hỏi Ngài Văn Thù Sư Lợi rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài qua cung rồng hóa độ chúng sanh số được bao nhiêu?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đó vô lượng không thể tánh kể, chẳng phải miệng nói được, chẳng phải tâm lường được, chờ chừng giây lát sẽ tự chứng biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù nói chưa dứt lời, liền có vô số Bồ tát ngồi hoa sen báu từ biển vọt lên đến núi Linh Thứu trụ giữa hư không. Các vị Bồ tát này đều là của Ngài Văn Thù Sư Lợi hóa độ, đủ hạnh Bồ tát đều chung luận nói Lục độ Ba la mật. Những vị mà trước kia là Thanh văn ở giữa hư không nói hạnh Thanh văn nay đều tu hành Nghĩa không của Đại thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù Sư Lợi nói với Ngài Trí Tích rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi giáo hóa ở nơi biển việc đó như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy, Ngài Văn Thù Sư Lợi nói kệ khen rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại trí đức mạnh mẽ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hóa độ vô lượng chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay trong hội lớn này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và tôi đều đã thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diễn nói nghĩa thật tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mở bày pháp nhứt thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng độ các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến mau thành Bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở biển chỉ thường tuyên nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Trí Tích hỏi Ngài Văn thù sư lợi rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này rất sâu vi diệu là báu trong các kinh, trong đời rất ít có vậy có chúng sanh nào siêng năng tinh tấn tu hành kinh này mau được thành Phật chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Văn Thù Sư Lợi nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có con gái của vua rồng Ta Kiệt La mới tám tuổi mà căn tánh lanh lẹ, có trí huệ, khéo biết các căn tánh hành nghiệp của chúng sanh, được pháp tổng trì, các tạng pháp kín rất sâu của các Phật nói đều có thể thọ trì, sâu vào thiền định, rõ thấu các pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong khoảnh sát na phát tâm Bồ đề được bậc Bất thối chuyển, biện tài vô ngại, thương nhớ chúng sanh như con đỏ, công đức đầy đủ, lòng nghĩ miệng nói pháp nhiệm mầu rộng lớn, từ bi nhân đức khiêm nhường, ý chí hòa nhã, nàng ấy có thể đến Bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí Tích Bồ tát nói rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi thấy Đức Thích Ca Như Lai ở trong vô lượng kiếp làm những hạnh khổ khó làm, chứa nhiều công đức để cầu đạo Bồ đề chưa từng có lúc thôi dứt: Ta xem trong cõi Tam thiên Đại thiên nhẫn đến không có chỗ nhỏ bằng hạt cải, mà không phải là chỗ của Bồ tát bỏ thân mạng để vì lợi ích chúng sanh, vậy sau mới được thành đạo Bồ đề, chẳng tin Long nữ đó ở trong khoảng giây lát chứng thành bậc chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói luận chưa xong, lúc đó con gái của Long vương bỗng hiện ra nơi trước đầu mặt lễ kính Phật rồi đứng một phía nói kệ khen rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấu rõ tướng tội phước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp soi cả mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thân tịnh vi diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ ba mươi hai tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng tám mươi món tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để trang nghiêm Pháp thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời, người đều kính ngưỡng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Long thần thảy cung kính&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả loài chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai chẳng tôn phụng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nghe thành Bồ đề&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ Phật nên chứng biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi nói pháp Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ thoát khổ chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, ngài Xá Lợi Phất nói với Long nữ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngươi nói không bao lâu chứng được đạo vô thượng, việc đó khó tin.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì thân gái nhơ uế chẳng phải là pháp khí, thế nào có thể được thành Vô thượng Chánh giác?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạo Phật xa rộng phải trải qua vô lượng kiếp cần khổ chứa nhóm công hạnh, tu đủ các độ, vậy sau mới thành được. Lại thân gái còn có năm điều chướng: một, chẳng được làm Phạm Thiên vương; hai, chẳng được làm Đế Thích; ba, chẳng được làm Ma vương; bốn, chẳng được làm Chuyển luân thánh vương; năm, chẳng được làm Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào thân gái được mau thành Phật?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Long nữ có một hột châu báu, giá trị bằng cõi Tam thiên Đại thiên đem dâng Đức Phật. Phật liền nhận lấy. Long nữ nói với Trí Tích Bồ tát cùng tôn giả Xá Lợi Phất rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi hiến châu báu, Đức Thế Tôn nạp thọ, việc đó có mau chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đáp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất mau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Long nữ nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật lại mau hơn việc đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đang lúc đó cả chúng hội đều thấy Long nữ thoạt nhiên biến thành nam tử, đủ hạnh Bồ tát, liền qua cõi Vô Cấu ở phương Nam, ngồi tòa sen báu thành bậc chánh đẳng chánh giác, đủ ba mươi hai tướng, tám mươi món đẹp, khắp vì tất cả chúng sanh trong mười phương mà diễn nói pháp mầu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy trong cõi Ta Bà hàng Bồ tát, Thanh văn, trời, rồng, bát bộ, nhơn cùng phi nhơn đều xa thấy Long nữ kia thành Phật khắp vì hàng nhơn, thiên trong hội đó mà nói pháp, sanh lòng vui mừng đều xa kính lạy, vô lượng chúng sanh nghe pháp tỏ ngộ được bậc Bất thối chuyển, vô lượng chúng sanh được lãnh lời thọ ký thành Phật. Cõi Vô Cấu sáu điệu vang động, cõi Ta Bà ba nghìn chúng sanh phát lòng Bồ đề mà được lãnh lời thọ ký.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí Tích Bồ tát và ngài Xá Lợi Phất tất cả trong chúng hội yên lặng mà tin nhận đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2508591" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/585c79de-4082-4d08-9e5d-e76b67e5ae8e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">1ed6d30e-e34e-448b-bc26-c7022f28a680</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/585c79de-4082-4d08-9e5d-e76b67e5ae8e</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 05:02:52 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/5/08937736-621c-4baf-aaa0-5577b5e427f0_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>156</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm thứ 11</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm thứ 11</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 11 Kinh Pháp Hoa (Hiện Bảo Tháp)</p><p>Phẩm Hiện Bảo Tháp là phần quan trọng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mô tả sự xuất hiện kỳ diệu của bảo tháp chứa toàn thân Đức Phật Đa Bảo từ quá khứ xa xôi, nhằm chứng thực lời dạy của Đức Phật Thích Ca. Phẩm này nhấn mạnh sự nhất thống của chư Phật ba đời, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp tối thượng, giúp chúng sinh nhận ra Phật tánh bình đẳng và con đường thành Phật. Nó khuyến khích niềm tin vào pháp nhất thừa, vượt qua tam thừa, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p><p>Toàn văn phẩm thứ 11: Hiện Bảo Tháp</p><p>Lúc bấy giờ, trước Phật có tháp bằng bảy báu, cao năm trăm do tuần, ngang rộng hai trăm năm mươi do tuần, từ dưới đất nổi lên trụ ở giữa hư không; các món vật báu trau giồi, năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà, vô số tràng phan để nghiêm sức đó, chuỗi ngọc báu rủ xuống, muôn nghìn linh báu treo trên tháp. Bốn mặt đều thoảng đưa ra mùi hương gỗ ly cấu chiên đàn khắp cùng cả cõi nước.</p><p>Các phan lọng đều dùng bảy thứ báu, vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, trân châu và mai khôi hợp lại thành, cao đến ngang cung trời Tứ Thiên vương, trời Đao Lợi rưới hoa Mạn đà la cúng dường tháp báu.</p><p>Các trời khác và rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn,… nghìn muôn ức chúng đều đem tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, phan lọng, kỹ nhạc mà cúng dường tháp báu, đồng cung kính tôn trọng ngợi khen.</p><p>Bấy giờ trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng:</p><p>Hay thay! Hay thay! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! Có thể dùng huệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ tát được chư Phật hộ niệm.</p><p>Đúng thế! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! Như lời Phật nói đó, đều chân thật.</p><p>Bấy giờ, bốn chúng thấy tháp báu lớn trụ trong hư không, lại nghe trong tháp vang tiếng nói ra đều được pháp hỷ, lấy làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chấp tay rồi đứng một bên.</p><p>Lúc đó, có vị Đại Bồ tát tên Đại Nhạo Thuyết biết lòng nghi của tất cả trời, người, A tu la,… trong thế gian mà bạch Phật rằng:</p><p>Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp vang ra tiếng như thế?</p><p>Lúc đó, Phật bảo Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ tát:</p><p>Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, thời quá khứ về trước cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương Đông có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Đa Bảo, Đức Phật đó tu hành đạo Bồ tát phát lời thệ nguyện lớn rằng:</p><p>Nếu ta được thành Phật sau khi diệt độ trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, thời tháp miếu của ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng: Hay thay!</p><p>Đức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng trời, người bảo các Tỳ kheo rằng:</p><p>Sau khi ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của ta thời nên dựng một tháp lớn. Đức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng: Hay thay! Hay thay!</p><p>Đại Nhạo Thuyết! Nay tháp của Đa Bảo Như Lai vì nghe nói kinh Pháp Hoa nên từ dưới đất nổi lên khen rằng: Hay thay! Hay thay!</p><p>Bấy giờ, Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ tát do sức thần của Đức Như Lai mà bạch Phật rằng:</p><p>Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của Đức Phật đó.</p><p>Phật bảo Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát Ma ha tát:</p><p>Phật Đa Bảo đó có nguyện sâu nặng: Nếu lúc tháp báu của ta vì nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra nơi trước các Đức Phật, có Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi nước trong mười phương đều phải nhóm cả một chỗ, vậy sau thân của ta mới hiện ra.</p><p>Đại Nhạo Thuyết! Các vị Phật của ta phân thân nói pháp ở các cõi nước trong mười phương nay nên sẽ nhóm lại.</p><p>Ngài Đại Nhạo Thuyết bạch Phật rằng:</p><p>Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy các vị Phật của Thế Tôn phân thân để lễ lạy cúng dường.</p><p>Bấy giờ, Phật phóng một lằn sáng nơi lông trắng giữa chặn mày, liền thấy năm trăm muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước ở phương Đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức Bồ tát đầy dẫy trong nước đó. Khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên, Đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ tát khắp đầy trong nước đó vì chúng sanh mà nói pháp. Phương nam, tây, bắc, bốn phía, trên dưới chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng lại như thế.</p><p>Lúc đó, các Phật ở mười phương đều bảo chúng Bồ tát rằng:</p><p>Thiện nam tử! Ta nay phải qua thế giới Ta Bà, chỗ của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai.</p><p>Lúc bấy giờ, cõi Ta Bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám đường, không có các tụ lạc làng xóm, thành ấp, biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng bụi. Đốt hương báu lớn, hoa Mạn đà la trải khắp cõi đất, dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời các trời người để ở cõi khác.</p><p>Lúc đó các Đức Phật đều đem theo một vị Bồ tát lớn để làm thị giả qua cõi Ta Bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái thứ lớp rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có tòa sư tử cao năm do tuần cũng dùng đồ báu tốt mà trau giồi đó.</p><p>Khi ấy, các Đức Phật đều ngồi xếp bằng trên tòa này, như thế lần lượt đến khắp đầy cả cõi Tam thiên Đại thiên mà ở nơi thân của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết.</p><p>Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cùng A tu la, lại cũng dời các hàng trời người để ở cõi khác.</p><p>Những nước của Phật biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái đều có thứ lớp tốt đẹp, dưới cây đều có tòa báu sư tử cao năm do tuần, dùng các thứ báu để trau giồi. Những nước đó cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục Chân Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu Di,… thông làm một cõi nước Phật, đất báu bằng thẳng, các báu xen lẫn nhau làm màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất.</p><p>Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương lại đều biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la, lại dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm, cao năm trăm do tuần nhánh lá hoa trái thứ tự bằng báu cao năm do tuần, cũng dùng chất báu tốt mà trau giồi đó.</p><p>Những nước này cũng không có biển cả sông ngòi và các núi: núi Mục Chân Lân Đà, núi Đại Mục Chân Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu Di,… thông lại làm một cõi nước Phật đất báu bằng thẳng, các báu đương xen lẫn nhau thành màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu tốt, các thứ hoa trời báu trải khắp trên đất.</p><p>Bấy giờ, ở phương Đông, các Đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm ở cõi này. Tuần tự như thế, các Đức Phật trong cõi nước ở mười phương thảy đều đến mỗi mỗi phương các Đức Như Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na do tha cõi nước.</p><p>Lúc đó, các Đức Phật đều ngồi tòa sư tử dưới cây báu, đều sai vị thị giả qua thăm viếng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đều đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo thị giả rằng:</p><p>Thiện nam tử! Ngươi qua đến núi Kỳ Xà Quật, chỗ của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, theo như lời của ta mà thưa cùng Phật thế này: Như Lai có được ít bệnh ít khổ sức khỏe an vui, và chúng Bồ tát cùng Thanh văn đều an ổn chăng?</p><p>Rồi đem hoa báu này rải trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: Đức Phật kia cùng muốn mở tháp báu này. Các Đức Phật sai người đến cũng như vậy.</p><p>Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân đến ngồi trên tòa sư tử, đều nghe các Phật cùng muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chấp tay một lòng nhìn Phật.</p><p>Khi ấy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn. Tức thời tất cả chúng trong hội đều thấy Đức Đa Bảo Như Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử, toàn thân không rã như vào cảnh thiền định lại nghe Phật đó nói:</p><p>Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật sướng thích nói kinh Pháp Hoa đó, ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này.</p><p>Bấy giờ, hàng tứ chúng thấy Đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên Đức Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca Mâu Ni. Lúc đó Đức Đa Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích Ca Mâu Ni Phật mà nói rằng:</p><p>Thích Ca Mâu Ni có thể đến ngồi trên tòa này. Tức thời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó.</p><p>Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai Đức Như Lai xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp bảy báu thời đều nghĩ rằng:</p><p>Đức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong Đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không.</p><p>Tức thời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp bảo đó rằng:</p><p>Ai có thể ở trong cõi Ta Bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có người.</p><p>Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Đấng thánh chúa Thế Tôn.</p><p>Dù diệt độ đã lâu</p><p>Ở trong tháp báu này</p><p>Còn vì pháp mà đến</p><p>Các ông lại thế nào</p><p>Há chẳng siêng vì pháp?</p><p>Phật Đa Bảo diệt độ</p><p>Đã vô lượng số kiếp</p><p>Nơi nơi đến nghe pháp</p><p>Vì khó gặp được vậy.</p><p>Phật kia bản nguyện rằng:</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Nơi nơi tháp ta qua</p><p>Thường vì nghe Pháp Hoa</p><p>Lại vô lượng các Phật.</p><p>Số nhiều như hằng sa</p><p>Của ta phân thân ra</p><p>Vì muốn đến nghe pháp</p><p>Và cùng để ra mắt</p><p>Phật diệt độ Đa Bảo.</p><p>Nên đều bỏ cõi đẹp.</p><p>Cùng với chúng đệ tử</p><p>Trời, người, rồng, thần thảy</p><p>Và các việc cúng dường</p><p>Muốn pháp lâu ở đời</p><p>Cho nên đến cõi này.</p><p>Ta vì các Phật ngồi</p><p>Dùng sức thần thông lớn</p><p>Dời vô lượng trời người</p><p>Làm cho nước thanh tịnh.</p><p>Các Đức Phật mỗi ngồi</p><p>Dưới cây báu một mình</p><p>Như sao sáng giữa trời</p><p>Hiện rõ trong đêm tối.</p><p>Các Bồ tát theo Phật</p><p>Số nhiều như bụi đất</p><p>Ở mười phương cõi nước</p><p>Thảy đều đến đến đây.</p><p>Cũng như gió lớn nổi</p><p>Làm sóng dậy biển cả</p><p>Các Phật phân thân kia</p><p>Từ mười phương đến nhóm.</p><p>Ta ở giữa hư không</p><p>Vì bốn chúng mà nói</p><p>Tháp Đa Bảo thường ở</p><p>Trong hư không không xuống</p><p>Vì nghe Pháp Hoa kinh</p><p>Mà từ đất vọt lên.</p><p>Toàn thân Đa Bảo Phật</p><p>Ở trong tháp khen rằng</p><p>Hay thay Thích Ca Mâu Ni</p><p>Nói kinh Pháp Hoa ấy.</p><p>Tháp vì tôn trọng pháp</p><p>Thường hiện ra nơi đây</p><p>Vì nguyện lực Phật kia</p><p>Khó có thể lay động.</p><p>Tháp kia trụ hư không</p><p>Như mặt trời mặt trăng</p><p>Lại quay về bổn xứ</p><p>Như vậy không khác.</p><p>Nếu có thiện nam tử</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Năng nói Pháp Hoa kinh</p><p>Tháp Đa Bảo của ta</p><p>Vì nghe kinh ấy nên</p><p>Hiện ra trước chúng đó.</p><p>Các Phật phân thân kia</p><p>Cũng đều đến nhóm lại</p><p>Để nghe kinh Pháp Hoa.</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Nếu có người ác tâm</p><p>Ở trước chúng tăng nói</p><p>Một lời ác mắng Phật</p><p>Thì tội ấy rất nặng.</p><p>Nếu có người thiện tâm</p><p>Ở trước Phật phân thân</p><p>Chấp tay cung kính khen</p><p>Thì phước ấy rất lớn.</p><p>Nhưng người ấy nếu lại</p><p>Ở trước tháp Đa Bảo</p><p>Chắp tay cung kính khen</p><p>Thì phước ấy càng lớn.</p><p>Vì sao? Vì tháp này</p><p>Chứa toàn thân Như Lai</p><p>Tháp này từ đất vọt</p><p>Khen kinh Pháp Hoa hay.</p><p>Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa</p><p>Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa phẩm thứ 11 Kinh Pháp Hoa (Hiện Bảo Tháp)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Hiện Bảo Tháp là phần quan trọng trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mô tả sự xuất hiện kỳ diệu của bảo tháp chứa toàn thân Đức Phật Đa Bảo từ quá khứ xa xôi, nhằm chứng thực lời dạy của Đức Phật Thích Ca. Phẩm này nhấn mạnh sự nhất thống của chư Phật ba đời, khẳng định Kinh Pháp Hoa là pháp tối thượng, giúp chúng sinh nhận ra Phật tánh bình đẳng và con đường thành Phật. Nó khuyến khích niềm tin vào pháp nhất thừa, vượt qua tam thừa, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn phẩm thứ 11: Hiện Bảo Tháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, trước Phật có tháp bằng bảy báu, cao năm trăm do tuần, ngang rộng hai trăm năm mươi do tuần, từ dưới đất nổi lên trụ ở giữa hư không; các món vật báu trau giồi, năm nghìn bao lơn, nghìn muôn phòng nhà, vô số tràng phan để nghiêm sức đó, chuỗi ngọc báu rủ xuống, muôn nghìn linh báu treo trên tháp. Bốn mặt đều thoảng đưa ra mùi hương gỗ ly cấu chiên đàn khắp cùng cả cõi nước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các phan lọng đều dùng bảy thứ báu, vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, trân châu và mai khôi hợp lại thành, cao đến ngang cung trời Tứ Thiên vương, trời Đao Lợi rưới hoa Mạn đà la cúng dường tháp báu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các trời khác và rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn, phi nhơn,… nghìn muôn ức chúng đều đem tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, phan lọng, kỹ nhạc mà cúng dường tháp báu, đồng cung kính tôn trọng ngợi khen.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ trong tháp báu vang tiếng lớn ra khen rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thay! Hay thay! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! Có thể dùng huệ lớn bình đẳng vì đại chúng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ tát được chư Phật hộ niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đúng thế! Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn! Như lời Phật nói đó, đều chân thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, bốn chúng thấy tháp báu lớn trụ trong hư không, lại nghe trong tháp vang tiếng nói ra đều được pháp hỷ, lấy làm lạ chưa từng có, liền từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chấp tay rồi đứng một bên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, có vị Đại Bồ tát tên Đại Nhạo Thuyết biết lòng nghi của tất cả trời, người, A tu la,… trong thế gian mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có tháp này từ đất nổi lên, lại ở trong tháp vang ra tiếng như thế?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Phật bảo Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, thời quá khứ về trước cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương Đông có nước tên Bảo Tịnh, trong nước đó có Phật hiệu là Đa Bảo, Đức Phật đó tu hành đạo Bồ tát phát lời thệ nguyện lớn rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ta được thành Phật sau khi diệt độ trong cõi nước ở mười phương có chỗ nào nói kinh Pháp Hoa, thời tháp miếu của ta vì nghe kinh đó mà nổi ra nơi trước để làm chứng minh khen rằng: Hay thay!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật đó thành Phật rồi lúc sắp diệt độ ở trong đại chúng trời, người bảo các Tỳ kheo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ muốn cúng dường toàn thân của ta thời nên dựng một tháp lớn. Đức Phật đó dùng sức nguyện thần thông nơi nơi chỗ chỗ trong mười phương cõi nước, nếu có nói kinh Pháp Hoa, thời tháp báu đó đều nổi ra nơi trước, toàn thân Phật ở trong tháp khen rằng: Hay thay! Hay thay!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại Nhạo Thuyết! Nay tháp của Đa Bảo Như Lai vì nghe nói kinh Pháp Hoa nên từ dưới đất nổi lên khen rằng: Hay thay! Hay thay!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ tát do sức thần của Đức Như Lai mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Chúng con nguyện muốn thấy thân của Đức Phật đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Ngài Đại Nhạo Thuyết Bồ Tát Ma ha tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Đa Bảo đó có nguyện sâu nặng: Nếu lúc tháp báu của ta vì nghe kinh Pháp Hoa mà hiện ra nơi trước các Đức Phật, có Phật nào muốn đem thân ta chỉ bày cho bốn chúng, thời các vị Phật của Phật đó phân thân ra nói pháp ở các cõi nước trong mười phương đều phải nhóm cả một chỗ, vậy sau thân của ta mới hiện ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại Nhạo Thuyết! Các vị Phật của ta phân thân nói pháp ở các cõi nước trong mười phương nay nên sẽ nhóm lại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài Đại Nhạo Thuyết bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thưa Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện muốn thấy các vị Phật của Thế Tôn phân thân để lễ lạy cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Phật phóng một lằn sáng nơi lông trắng giữa chặn mày, liền thấy năm trăm muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước ở phương Đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm, vô số nghìn muôn ức Bồ tát đầy dẫy trong nước đó. Khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên, Đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ tát khắp đầy trong nước đó vì chúng sanh mà nói pháp. Phương nam, tây, bắc, bốn phía, trên dưới chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng lại như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, các Phật ở mười phương đều bảo chúng Bồ tát rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện nam tử! Ta nay phải qua thế giới Ta Bà, chỗ của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Đa Bảo Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, cõi Ta Bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám đường, không có các tụ lạc làng xóm, thành ấp, biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng bụi. Đốt hương báu lớn, hoa Mạn đà la trải khắp cõi đất, dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời các trời người để ở cõi khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó các Đức Phật đều đem theo một vị Bồ tát lớn để làm thị giả qua cõi Ta Bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái thứ lớp rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có tòa sư tử cao năm do tuần cũng dùng đồ báu tốt mà trau giồi đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy, các Đức Phật đều ngồi xếp bằng trên tòa này, như thế lần lượt đến khắp đầy cả cõi Tam thiên Đại thiên mà ở nơi thân của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh cùng A tu la, lại cũng dời các hàng trời người để ở cõi khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những nước của Phật biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm cao năm trăm do tuần, nhánh lá hoa trái đều có thứ lớp tốt đẹp, dưới cây đều có tòa báu sư tử cao năm do tuần, dùng các thứ báu để trau giồi. Những nước đó cũng không có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục Chân Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu Di,… thông làm một cõi nước Phật, đất báu bằng thẳng, các báu xen lẫn nhau làm màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương lại đều biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la, lại dời các hàng trời người để ở cõi khác. Những nước biến hóa ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu trang nghiêm, cao năm trăm do tuần nhánh lá hoa trái thứ tự bằng báu cao năm do tuần, cũng dùng chất báu tốt mà trau giồi đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những nước này cũng không có biển cả sông ngòi và các núi: núi Mục Chân Lân Đà, núi Đại Mục Chân Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu Di,… thông lại làm một cõi nước Phật đất báu bằng thẳng, các báu đương xen lẫn nhau thành màn trùm khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu tốt, các thứ hoa trời báu trải khắp trên đất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, ở phương Đông, các Đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na do tha hằng hà sa cõi nước của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm ở cõi này. Tuần tự như thế, các Đức Phật trong cõi nước ở mười phương thảy đều đến mỗi mỗi phương các Đức Như Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na do tha cõi nước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, các Đức Phật đều ngồi tòa sư tử dưới cây báu, đều sai vị thị giả qua thăm viếng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, đều đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo thị giả rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện nam tử! Ngươi qua đến núi Kỳ Xà Quật, chỗ của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, theo như lời của ta mà thưa cùng Phật thế này: Như Lai có được ít bệnh ít khổ sức khỏe an vui, và chúng Bồ tát cùng Thanh văn đều an ổn chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi đem hoa báu này rải trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: Đức Phật kia cùng muốn mở tháp báu này. Các Đức Phật sai người đến cũng như vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân đến ngồi trên tòa sư tử, đều nghe các Phật cùng muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi đứng dậy trụ trên hư không, tất cả hàng bốn chúng đồng đứng dậy chấp tay một lòng nhìn Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu vang ra tiếng lớn, như tháo khóa chốt mở cửa thành lớn. Tức thời tất cả chúng trong hội đều thấy Đức Đa Bảo Như Lai ở trong tháp báu ngồi tòa sư tử, toàn thân không rã như vào cảnh thiền định lại nghe Phật đó nói:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thay! Hay thay! Thích Ca Mâu Ni Phật sướng thích nói kinh Pháp Hoa đó, ta vì nghe kinh đó mà đến cõi này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, hàng tứ chúng thấy Đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên Đức Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca Mâu Ni. Lúc đó Đức Đa Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa tòa cho Thích Ca Mâu Ni Phật mà nói rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thích Ca Mâu Ni có thể đến ngồi trên tòa này. Tức thời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vào trong tháp báu ngồi xếp bằng trên nửa tòa đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, hàng đại chúng thấy hai Đức Như Lai xếp bằng trên tòa sư tử trong tháp bảy báu thời đều nghĩ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật ngồi trên cao xa, cúi mong Đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở trên hư không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức thời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng đại chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp bảo đó rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có thể ở trong cõi Ta Bà này rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nay chính phải lúc. Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết bàn, Phật muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đấng thánh chúa Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù diệt độ đã lâu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong tháp báu này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn vì pháp mà đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông lại thế nào&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Há chẳng siêng vì pháp?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Đa Bảo diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã vô lượng số kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nơi nơi đến nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì khó gặp được vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật kia bản nguyện rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nơi nơi tháp ta qua&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường vì nghe Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại vô lượng các Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số nhiều như hằng sa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của ta phân thân ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì muốn đến nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và cùng để ra mắt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật diệt độ Đa Bảo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên đều bỏ cõi đẹp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng với chúng đệ tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời, người, rồng, thần thảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các việc cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn pháp lâu ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho nên đến cõi này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta vì các Phật ngồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng sức thần thông lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dời vô lượng trời người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm cho nước thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Đức Phật mỗi ngồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dưới cây báu một mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như sao sáng giữa trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện rõ trong đêm tối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Bồ tát theo Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số nhiều như bụi đất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở mười phương cõi nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều đến đến đây.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng như gió lớn nổi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm sóng dậy biển cả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Phật phân thân kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ mười phương đến nhóm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta ở giữa hư không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì bốn chúng mà nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tháp Đa Bảo thường ở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong hư không không xuống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nghe Pháp Hoa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà từ đất vọt lên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn thân Đa Bảo Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong tháp khen rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thay Thích Ca Mâu Ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói kinh Pháp Hoa ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tháp vì tôn trọng pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường hiện ra nơi đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nguyện lực Phật kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó có thể lay động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tháp kia trụ hư không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như mặt trời mặt trăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại quay về bổn xứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như vậy không khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có thiện nam tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năng nói Pháp Hoa kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tháp Đa Bảo của ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nghe kinh ấy nên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện ra trước chúng đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Phật phân thân kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng đều đến nhóm lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để nghe kinh Pháp Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người ác tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trước chúng tăng nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một lời ác mắng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì tội ấy rất nặng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có người thiện tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trước Phật phân thân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chấp tay cung kính khen&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì phước ấy rất lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng người ấy nếu lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trước tháp Đa Bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chắp tay cung kính khen&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì phước ấy càng lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì tháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứa toàn thân Như Lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tháp này từ đất vọt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khen kinh Pháp Hoa hay.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe, trì niệm Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe, trì tụng và niệm Kinh Pháp Hoa mang lại công đức vô lượng, như được chư Phật hộ niệm, tiêu trừ nghiệp chướng, tăng trưởng trí huệ, đạt được bình an, và cuối cùng thành tựu quả vị Phật. Người trì kinh sẽ được sinh về cõi tịnh, gần gũi chư Phật, tránh ác đạo, và phổ độ chúng sinh, dẫn đến giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="14358569" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/5e0e901c-2f99-4ca1-bc95-13b19dbce00b/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">262b01ed-2374-499e-8ce0-db57722ebcc9</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/5e0e901c-2f99-4ca1-bc95-13b19dbce00b</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:55:40 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/ef851d8b-9154-42e6-abf5-64f27f4939ae_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>897</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 10</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 10</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Pháp Sư Thứ Mười</p><p>Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nhân nói với Dược Vương Bồ tát để bảo tám muôn Đại sĩ rằng:</p><p>Dược Vương! Trong đại chúng đây vô lượng hàng chư trời, rồng vương, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn, và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng cầu Thanh văn, hạng cầu Bích chi Phật, hạng cầu Phật đạo, các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa một bài kệ một câu nhẫn đến một niệm tùy hỷ đó, ta đều thọ ký cho sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</p><p>Phật bảo Dược Vương:</p><p>Lại sau khi Đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một câu niệm tùy hỷ đó, ta cũng thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho.</p><p>Nếu lại có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, đối kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường, hoa, hương, chuỗi ngọc hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, nhẫn đến chấp tay cung kính.</p><p>Dược Vương nên biết! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở chỗ các Đức Phật thành tựu chí nguyện lớn vì thương xót chúng sanh mà sanh vào nhân gian.</p><p>Dược Vương! Nếu có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt được làm Phật.</p><p>Vì sao? Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ nào ở nơi kinh Pháp Hoa nhẫn đến một câu, thọ trì, đọc tụng, giải nói biên chép. Các thứ cúng dường kinh quyển, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc chấp tay cung kính. Người đó tất cả trong đời đều nên chiêm ngưỡng sùng phụng. Nên đem đồ cúng dường Như Lai mà cúng đó.</p><p>Phải biết người đó là Bồ tát lớn thành xong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì thương xót chúng sanh mà nguyện sanh trong đời để rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa, huống lại người trọn hay thọ trì và các thứ cúng dường.</p><p>Dược Vương nên biết! Người đó tự bỏ nghiệp báo thanh tịnh sau khi ta diệt độ vì thương chúng sanh mà sanh nơi đời ác, rộng nói kinh này. Nếu người thiện nam, người thiện nữ đó, sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người đó là sứ của Như Lai, Đức Như Lai sai làm việc của Như Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói.</p><p>Dược Vương! Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng.</p><p>Dược Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác. Người đó đến đâu, mọi người nên hướng theo làm lễ, một lòng chắp tay cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen: hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, đồ cúng bậc thượng của trong loài người mà đem cúng dường cho người đó, nên cầm hoa báu trời mà rải cúng đó, nên đem đống báu trên trời dâng cho đó.</p><p>Vì sao? Người đó hoan hỷ nói pháp, giây lát nghe pháp liền được rốt ráo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vậy.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Nếu muốn trụ Phật đạo</p><p>Thành tựu trí tự nhiên</p><p>Thường phải siêng cúng dường</p><p>Người thọ trì Pháp Hoa.</p><p>Có ai muốn mau được</p><p>Nhứt thiết chủng trí huệ</p><p>Nên thọ trì kinh này</p><p>Và cúng dường người trì.</p><p>Nếu người hay thọ trì</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa</p><p>Nên biết là sứ Phật</p><p>Thương nhớ các chúng sanh</p><p>Những người hay thọ trì</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa</p><p>Xa bỏ cõi thanh tịnh</p><p>Thương chúng nên sanh đây</p><p>Phải biết người như thế</p><p>Chỗ muốn sanh tự tại</p><p>Ở nơi đời ác này</p><p>Rộng nói pháp vô thượng,</p><p>Nên đem hoa, hương trời</p><p>Và y phục, báu trời</p><p>Đống báu tốt trên trời</p><p>Cúng dường người nói pháp</p><p>Đời ác, sau ta diệt</p><p>Người hay trì kinh này</p><p>Phải chấp tay lễ kính</p><p>Như cúng dường Thế Tôn,</p><p>Đồ ngon ngọt bậc thượng</p><p>Và các món y phục</p><p>Cúng dường Phật tử đó</p><p>Mong được giây lát nghe.</p><p>Nếu người ở đời sau</p><p>Hay thọ trì kinh này</p><p>Ta khiến ở trong người</p><p>Làm việc của Như Lai.</p><p>Nếu ở trong một kiếp</p><p>Thường ôm lòng chẳng lành</p><p>Đỏ mặt mà mắng Phật</p><p>Mắc vô lượng tội nặng</p><p>Có người đọc tụng trì</p><p>Kinh Diệu Pháp Liên Hoa này</p><p>Giây lát dùng lời mắng</p><p>Tội đây còn hơn kia.</p><p>Có người cầu Phật đạo</p><p>Mà ở trong một kiếp</p><p>Chấp tay ở trước ta</p><p>Dùng vô số kệ khen</p><p>Do vì khen Phật vậy</p><p>Được vô lượng công đức.</p><p>Khen ngợi người trì kinh</p><p>Phước đây lại hơn kia.</p><p>Trong tám mươi ức kiếp</p><p>Dùng sắc thanh tối diệu</p><p>Và cùng hương, vị, xúc</p><p>Cúng dường người trì kinh</p><p>Cúng dường như thế rồi</p><p>Mà được chốc lát nghe</p><p>Thời nên tự mừng vui</p><p>Nay ta được lợi lớn</p><p>Dược Vương! Nay bảo ông</p><p>Các kinh của ta nói</p><p>Mà ở trong kinh đó</p><p>Pháp Hoa tột thứ nhất.</p><p>Lúc bấy giờ, Phật lại bảo Ngài Dược Vương Đại Bồ tát:</p><p>Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói, mà ở trong đó kinh Pháp Hoa rất là khó tin khó hiểu. Dược Vương kinh này là tạng bí yếu của các Đức Phật, chẳng có thể chia bủa vọng trao cho người. Kinh đây là của các Đức Phật giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói, mà chính kinh này khi Như Lai đương hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống là sau lúc Phật diệt độ.</p><p>Dược Vương nên biết! Sau khi Như Lai diệt độ, người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường vì người khác mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm đó, lại được các căn lành, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được Đức Như Lai lấy tay xoa đầu.</p><p>Dược Vương! Nơi nơi, chổ chổ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc chép, hoặc chỗ có quyển kinh này đều nên dựng tháp bằng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần để xá lợi.</p><p>Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của Đức Như Lai rồi. Tháp đó nên dùng tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, ca tụng, để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Nếu có người thấy được pháp này mà lễ lạy cúng dường, phải biết những người đó đều gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</p><p>Dược Vương! Có rất nhiều người tại gia làm đạo Bồ tát, nếu chẳng có thể thấy nghe, đọc tụng, biên chép thọ trì, cúng dường được kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó chưa khéo tu đạo Bồ tát. Nếu có người được nghe kinh điển này, mới là khéo tu đạo Bồ tát. Có chúng sanh nào cầu Phật đạo hoặc thấy hoặc nghe kinh Pháp Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trì, nên biết người đó được gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</p><p>Dược Vương! Thí như có người khát tìm nước ở nơi gò cao kia xoi đào tìm đó, vẫn thấy đất khô biết rằng nước còn xa, ra công đào không thôi, lần thấy đất ướt rồi thấy đến bùn, tâm người đó quyết chắc biết rằng nước ắt gần.</p><p>Bồ tát cũng lại như thế, nếu chưa nghe chưa hiểu chưa có thể tu tập kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó cách đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác còn xa.</p><p>Nếu được nghe hiểu suy gẫm tu tập kinh này, thời chắc biết được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</p><p>Vì sao? Vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Bồ tát đều thuộc kinh này, kinh này mở môn phương tiện bày tướng chân thật. Tạng kinh Pháp Hoa này, xa kín nhiệm sâu không có người đến được, nay Phật vì giáo hóa để thành tựu Bồ tát mà chỉ bày cho.</p><p>Dược Vương! Nếu có Bồ tát nghe kinh Pháp Hoa này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là Bồ tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh văn nghe kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hàng tăng thượng mạn.</p><p>Dược Vương! Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào, sau khi Đức Như Lai diệt độ muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này thời phải nói cách thế nào? Người thiện nam, thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này.</p><p>Nhà Như Lai chính là tâm từ bi lớn đối với trong tất cả chúng sanh, y Như Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như Lai chính là nhứt thiết pháp không. An trụ trong đây, sau rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ tát và bốn chúng rộng nói kinh Pháp Hoa này.</p><p>Dược Vương! Bấy giờ ta ở nước khác sai hàng hóa nhơn làm chúng nhóm nghe pháp của người đó, ta cũng sai hóA Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nghe người đó nói pháp. Các người biến hóa đó nghe pháp tin nhận thuận theo không hề trái. Nếu người nói pháp ở chổ vắng vẻ, ta liền sai nhiều trời, rồng, quỷ, thần, Càn thát bà, A tu la,… nghe người đó nói pháp. Ta dầu ở nước khác nhưng luôn luôn khiến người nói pháp đó được thấy thân ta. Nếu ở trong kinh này quên mất câu lối, ta lại vì nói cho đó được đầy đủ.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Muốn bỏ tánh biếng lười</p><p>Nên phải nghe kinh này</p><p>Kinh này khó được nghe</p><p>Người tin nhận cũng khó.</p><p>Như người khát cần nước</p><p>Xoi đào nơi gò cao</p><p>Vẫn thấy đất khô ráo</p><p>Biết cách nước còn xa</p><p>Lần thấy đất ướt bùn</p><p>Quyết chắc biết gần nước</p><p>Dược Vương! Ông nên biết</p><p>Các người như thế đó</p><p>Chẳng nghe kinh Pháp Hoa</p><p>Cách trí Phật rất xa,</p><p>Nếu nghe kinh sâu này</p><p>Quyết rõ pháp Thanh văn</p><p>Đây là vua các kinh</p><p>Nghe xong suy gẫm kỹ</p><p>Phải biết rằng người đó</p><p>Gần nơi trí huệ Phật.</p><p>Nếu người nói kinh này</p><p>Nên vào nhà Như Lai</p><p>Mặc y của Như Lai</p><p>Mà ngồi tòa Như Lai</p><p>Ở trong chúng không sợ</p><p>Rộng vì người giải nói,</p><p>Từ bi lớn làm nhà</p><p>Y nhu hòa nhẫn nhục</p><p>Các pháp không làm tòa</p><p>Ở đó vì người nói.</p><p>Nếu lúc nói kinh này</p><p>Có người lời ác mắng</p><p>Dao, gậy, ngói, đá đánh</p><p>Nhớ Phật nên phải nhịn.</p><p>Ta trong muôn ức cõi</p><p>Hiện thân sạch bền chắc</p><p>Trải vô lượng ức kiếp</p><p>Vì chúng sanh nói pháp.</p><p>Sau khi ta diệt độ</p><p>Nếu hay nói kinh này</p><p>Ta sai hóa tứ chúng</p><p>Tỳ kheo, Tỳ kheo ni</p><p>Và nam, nữ thanh tịnh</p><p>Cúng dường nơi Pháp sư</p><p>Dẫn dắt các chúng sanh</p><p>Nhóm đó khiến nghe pháp.</p><p>Nếu người muốn làm hại</p><p>Dao gậy cùng ngói đá</p><p>Thời khiến người biến hóa</p><p>Giữ gìn cho người đó</p><p>Nếu người nói Pháp Hoa</p><p>Ở riêng nơi vắng</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Pháp Sư Thứ Mười&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nhân nói với Dược Vương Bồ tát để bảo tám muôn Đại sĩ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Trong đại chúng đây vô lượng hàng chư trời, rồng vương, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la dà, nhơn cùng phi nhơn, và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, hạng cầu Thanh văn, hạng cầu Bích chi Phật, hạng cầu Phật đạo, các loại như thế đều ở trước Phật nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa một bài kệ một câu nhẫn đến một niệm tùy hỷ đó, ta đều thọ ký cho sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Dược Vương:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại sau khi Đức Như Lai diệt độ, nếu có người nghe kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một câu niệm tùy hỷ đó, ta cũng thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại có người thọ trì, đọc tụng, giải nói, biên chép kinh Diệu Pháp Liên Hoa, nhẫn đến một bài kệ, đối kinh điển này cung kính xem như Phật. Các thứ cúng dường, hoa, hương, chuỗi ngọc hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, nhẫn đến chấp tay cung kính.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương nên biết! Các người trên đó đã từng cúng dường mười muôn ức Phật, ở chỗ các Đức Phật thành tựu chí nguyện lớn vì thương xót chúng sanh mà sanh vào nhân gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Nếu có người hỏi những chúng sanh nào ở đời vị lai sẽ được làm Phật? Nên chỉ các người trên đó ở đời vị lai ắt được làm Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Nếu có gã thiện nam, người thiện nữ nào ở nơi kinh Pháp Hoa nhẫn đến một câu, thọ trì, đọc tụng, giải nói biên chép. Các thứ cúng dường kinh quyển, hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt lọng lụa, tràng phan, y phục, kỹ nhạc chấp tay cung kính. Người đó tất cả trong đời đều nên chiêm ngưỡng sùng phụng. Nên đem đồ cúng dường Như Lai mà cúng đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải biết người đó là Bồ tát lớn thành xong đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì thương xót chúng sanh mà nguyện sanh trong đời để rộng nói phân biệt kinh Diệu Pháp Liên Hoa, huống lại người trọn hay thọ trì và các thứ cúng dường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương nên biết! Người đó tự bỏ nghiệp báo thanh tịnh sau khi ta diệt độ vì thương chúng sanh mà sanh nơi đời ác, rộng nói kinh này. Nếu người thiện nam, người thiện nữ đó, sau khi ta diệt độ có thể riêng vì một người nói kinh Pháp Hoa, nhẫn đến một câu, phải biết người đó là sứ của Như Lai, Đức Như Lai sai làm việc của Như Lai, huống là ở trong đại chúng rộng vì người nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Nếu có người ác dùng tâm không lành ở trong một kiếp hiện ở trước Phật thường chê mắng Phật, tội đó còn nhẹ. Nếu có người dùng một lời dữ chê mắng người tại gia hay xuất gia đọc tụng kinh Pháp Hoa, tội đây rất nặng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Có người đọc tụng kinh Pháp Hoa, phải biết người đó dùng đức trang nghiêm của Phật tự trang nghiêm mình, thời được Như Lai dùng vai mang vác. Người đó đến đâu, mọi người nên hướng theo làm lễ, một lòng chắp tay cung kính cúng dường, tôn trọng, ngợi khen: hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, đồ cúng bậc thượng của trong loài người mà đem cúng dường cho người đó, nên cầm hoa báu trời mà rải cúng đó, nên đem đống báu trên trời dâng cho đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Người đó hoan hỷ nói pháp, giây lát nghe pháp liền được rốt ráo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu muốn trụ Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành tựu trí tự nhiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường phải siêng cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thọ trì Pháp Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có ai muốn mau được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhứt thiết chủng trí huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và cúng dường người trì.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên biết là sứ Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thương nhớ các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những người hay thọ trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa bỏ cõi thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thương chúng nên sanh đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải biết người như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỗ muốn sanh tự tại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở nơi đời ác này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng nói pháp vô thượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên đem hoa, hương trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và y phục, báu trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đống báu tốt trên trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường người nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đời ác, sau ta diệt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hay trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải chấp tay lễ kính&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như cúng dường Thế Tôn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồ ngon ngọt bậc thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các món y phục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường Phật tử đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mong được giây lát nghe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người ở đời sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay thọ trì kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta khiến ở trong người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm việc của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ở trong một kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường ôm lòng chẳng lành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đỏ mặt mà mắng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mắc vô lượng tội nặng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có người đọc tụng trì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Diệu Pháp Liên Hoa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giây lát dùng lời mắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tội đây còn hơn kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có người cầu Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà ở trong một kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chấp tay ở trước ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng vô số kệ khen&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do vì khen Phật vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được vô lượng công đức.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khen ngợi người trì kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phước đây lại hơn kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong tám mươi ức kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng sắc thanh tối diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và cùng hương, vị, xúc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường người trì kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường như thế rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà được chốc lát nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời nên tự mừng vui&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta được lợi lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Nay bảo ông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các kinh của ta nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà ở trong kinh đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp Hoa tột thứ nhất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Phật lại bảo Ngài Dược Vương Đại Bồ tát:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã nói, hiện nói, sẽ nói, mà ở trong đó kinh Pháp Hoa rất là khó tin khó hiểu. Dược Vương kinh này là tạng bí yếu của các Đức Phật, chẳng có thể chia bủa vọng trao cho người. Kinh đây là của các Đức Phật giữ gìn từ xưa đến nay chưa từng bày nói, mà chính kinh này khi Như Lai đương hiện tại còn nhiều kẻ oán ghét, huống là sau lúc Phật diệt độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương nên biết! Sau khi Như Lai diệt độ, người nào có thể biên chép, thọ trì, đọc tụng, cúng dường vì người khác mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm đó, lại được các căn lành, phải biết người đó cùng Như Lai ở chung, được Đức Như Lai lấy tay xoa đầu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Nơi nơi, chổ chổ, hoặc nói, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc chép, hoặc chỗ có quyển kinh này đều nên dựng tháp bằng bảy thứ báu cho tột cao rộng đẹp đẽ, chẳng cần để xá lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì trong đó đã có toàn thân của Đức Như Lai rồi. Tháp đó nên dùng tất cả hoa, hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan, y phục, kỹ nhạc, ca tụng, để cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen. Nếu có người thấy được pháp này mà lễ lạy cúng dường, phải biết những người đó đều gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Có rất nhiều người tại gia làm đạo Bồ tát, nếu chẳng có thể thấy nghe, đọc tụng, biên chép thọ trì, cúng dường được kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó chưa khéo tu đạo Bồ tát. Nếu có người được nghe kinh điển này, mới là khéo tu đạo Bồ tát. Có chúng sanh nào cầu Phật đạo hoặc thấy hoặc nghe kinh Pháp Hoa này, nghe xong tin hiểu thọ trì, nên biết người đó được gần đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Thí như có người khát tìm nước ở nơi gò cao kia xoi đào tìm đó, vẫn thấy đất khô biết rằng nước còn xa, ra công đào không thôi, lần thấy đất ướt rồi thấy đến bùn, tâm người đó quyết chắc biết rằng nước ắt gần.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ tát cũng lại như thế, nếu chưa nghe chưa hiểu chưa có thể tu tập kinh Pháp Hoa này, phải biết người đó cách đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác còn xa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu được nghe hiểu suy gẫm tu tập kinh này, thời chắc biết được gần Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của Bồ tát đều thuộc kinh này, kinh này mở môn phương tiện bày tướng chân thật. Tạng kinh Pháp Hoa này, xa kín nhiệm sâu không có người đến được, nay Phật vì giáo hóa để thành tựu Bồ tát mà chỉ bày cho.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Nếu có Bồ tát nghe kinh Pháp Hoa này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là Bồ tát mới phát tâm. Nếu hàng Thanh văn nghe kinh này mà kinh nghi sợ sệt, phải biết đó là hàng tăng thượng mạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Nếu có người thiện nam, người thiện nữ nào, sau khi Đức Như Lai diệt độ muốn vì hàng bốn chúng mà nói kinh Pháp Hoa này thời phải nói cách thế nào? Người thiện nam, thiện nữ đó phải vào nhà Như Lai, mặc y Như Lai, ngồi tòa Như Lai, rồi mới nên vì bốn chúng mà rộng nói kinh này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhà Như Lai chính là tâm từ bi lớn đối với trong tất cả chúng sanh, y Như Lai chính là lòng nhu hòa nhẫn nhục, tòa Như Lai chính là nhứt thiết pháp không. An trụ trong đây, sau rồi dùng tâm không biếng trễ vì các Bồ tát và bốn chúng rộng nói kinh Pháp Hoa này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Bấy giờ ta ở nước khác sai hàng hóa nhơn làm chúng nhóm nghe pháp của người đó, ta cũng sai hóA Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di nghe người đó nói pháp. Các người biến hóa đó nghe pháp tin nhận thuận theo không hề trái. Nếu người nói pháp ở chổ vắng vẻ, ta liền sai nhiều trời, rồng, quỷ, thần, Càn thát bà, A tu la,… nghe người đó nói pháp. Ta dầu ở nước khác nhưng luôn luôn khiến người nói pháp đó được thấy thân ta. Nếu ở trong kinh này quên mất câu lối, ta lại vì nói cho đó được đầy đủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn bỏ tánh biếng lười&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên phải nghe kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh này khó được nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người tin nhận cũng khó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người khát cần nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xoi đào nơi gò cao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn thấy đất khô ráo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết cách nước còn xa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần thấy đất ướt bùn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyết chắc biết gần nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dược Vương! Ông nên biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các người như thế đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng nghe kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cách trí Phật rất xa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nghe kinh sâu này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyết rõ pháp Thanh văn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây là vua các kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe xong suy gẫm kỹ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải biết rằng người đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gần nơi trí huệ Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người nói kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên vào nhà Như Lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mặc y của Như Lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà ngồi tòa Như Lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong chúng không sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng vì người giải nói,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bi lớn làm nhà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Y nhu hòa nhẫn nhục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các pháp không làm tòa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở đó vì người nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lúc nói kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có người lời ác mắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dao, gậy, ngói, đá đánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhớ Phật nên phải nhịn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta trong muôn ức cõi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện thân sạch bền chắc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải vô lượng ức kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì chúng sanh nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi ta diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu hay nói kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sai hóa tứ chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ kheo, Tỳ kheo ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và nam, nữ thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường nơi Pháp sư&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn dắt các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhóm đó khiến nghe pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người muốn làm hại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dao gậy cùng ngói đá&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thời khiến người biến hóa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ gìn cho người đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người nói Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở riêng nơi vắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="12729782" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/ee05d4f3-de07-41f1-8859-435ffa73f32b/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">b5bc821f-d4a2-44c4-976c-40db3f2c2ae5</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/ee05d4f3-de07-41f1-8859-435ffa73f32b</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:54:24 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/cd5e6d1c-75be-421c-b328-6318e4c5687d_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>795</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 9</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 9</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Ký Thứ Chín</p><p>Bấy giờ, ngài A Nan và ngài La Hầu La nghĩ như vầy:</p><p>Chúng ta tự suy nghĩ, nếu được thọ ký thời sung sướng lắm.</p><p>Liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật đồng bạch Phật rằng:</p><p>Thế Tôn! Chúng con trong đây cũng đáng có phần, chỉ có Đức Như Lai, là chỗ về nương của chúng con. Lại chúng con là người quen biết của tất cả trời, người, A tu la trong đời. A Nan thường làm vị thị giả hộ trì tạng pháp, La Hầu La là con của Phật, nếu Phật thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho, thời lòng nguyện cầu của con đã mãn, mà lòng trông của chúng cũng được đủ.</p><p>Lúc đó, hàng đệ tử Thanh văn, bậc học cùng Vô học, hai nghìn người đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trệch vai áo bên hữu đến trước Phật chấp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn như chỗ nguyện cầu của A Nan và La Hầu La rồi đứng qua một phía.</p><p>Bấy giờ, Đức Phật bảo A Nan:</p><p>Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn; ông sẽ cúng dường 62 ức Đức Phật, hộ trì tạng pháp vậy sau chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng hà sa các chúng Bồ tát… làm cho thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</p><p>Nước tên là Thường Lập Thắng Phan, cõi đó thanh tịnh, đất bằng chất lưu ly, kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn. Đức Phật đó thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ kiếp tánh đếm số kể chẳng có thể biết được, Chánh pháp trụ đời gấp bội thọ mạng, tượng pháp lại gấp bội Chánh pháp.</p><p>A Nan! Đức Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương đó, được vô lượng nghìn muôn ức hằng hà sa các Đức Phật Như Lai ở mười phương đồng ngợi khen công đức của ngài.</p><p>Khi đó Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Nay Ta nói trong Tăng</p><p>A Nan, người trì pháp</p><p>Sẽ cúng dường các Phật</p><p>Vậy sau thành chánh giác</p><p>Hiệu rằng: Sơn Hải Huệ</p><p>Tự Tại Thông Vương Phật</p><p>Cõi nước kia thanh tịnh</p><p>Tên Thường Lập Thắng Phan</p><p>Giáo hóa các Bồ tát</p><p>Số đông như hằng sa</p><p>Phật có oai đức lớn</p><p>Tiếng đồn khắp mười phương</p><p>Vì bởi thương chúng sanh</p><p>Nên sống lâu vô lượng</p><p>Chánh pháp bội thọ mạng</p><p>Tượng pháp lại bội chánh</p><p>Vô số hàng chúng sanh</p><p>Đông như cát sông Hằng</p><p>Ở trong pháp Phật đó</p><p>Gieo nhân duyên Phật đạo.</p><p>Bấy giờ, trong hội hàng Bồ tát mới phát tâm, tám nghìn người, đều nghĩ thế này:</p><p>Chúng ta còn chưa nghe các vị Bồ tát lớn được thọ ký như thế, có nhân duyên gì mà các Thanh văn được thọ ký như thế.</p><p>Lúc ấy, Đức Thế Tôn biết tâm niệm của các vị Bồ tát mà bảo rằng:</p><p>Các Thiện nam tử! Ta cùng bọn ông A Nan ở chỗ Đức Phật Thông Vương đồng thời phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A Nan thường ưa học rộng, còn ta thường siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà A Nan hộ trì pháp của ta, ông cũng sẽ hộ trì pháp tạng của các Đức Phật tương lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ tát. Bổn nguyện của ông như thế nên được thọ ký dường ấy.</p><p>Ngài A Nan tận mặt ở trước Phật, tự nghe Phật thọ ký cùng cõi nước trang nghiêm, chỗ mong cầu đã đủ, lòng rất vui mừng được đều chưa từng có. Tức thời nghĩ nhớ tạng pháp của vô lượng nghìn muôn ức các Đức Phật thuở quá khứ, suốt thấu không ngại như hiện nay nghe và cũng biết bổn nguyện.</p><p>Khi đó, ngài A Nan nói kệ rằng:</p><p>Thế Tôn rất ít có</p><p>Khiến con nhớ quá khứ</p><p>Vô lượng các Phật pháp</p><p>Như chỗ nghe ngày nay</p><p>Con nay không còn nghi</p><p>An trụ trong Phật đạo</p><p>Phương tiện làm thị giả</p><p>Hộ trì các Phật pháp.</p><p>Bấy giờ, Phật bảo ông La Hầu La:</p><p>Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu Đạo Thất Bảo Hoa Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường các Đức Như Lai như số vi trần trong mười phương thế giới. Thường vì các Đức Phật mà làm trưởng tử, cũng như hiện nay.</p><p>Đức Phật Đạo Thất Bảo Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, Chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng như đức Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ông cũng làm trưởng tử cho Phật này, qua sau đây rồi sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.</p><p>Lúc đó Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Lúc ta làm Thái tử</p><p>La Hầu làm trưởng tử.</p><p>Ta nay thành Phật đạo</p><p>Thọ pháp làm pháp tử.</p><p>Ở trong đời vị lai</p><p>Gặp vô lượng ức Phật</p><p>Làm trưởng tử cho kia</p><p>Một lòng cầu Phật đạo.</p><p>Hạnh kín của La Hầu</p><p>Chỉ ta biết được thôi</p><p>Hiện làm con cả ta</p><p>Để chỉ các chúng sanh</p><p>Vô lượng ức nghìn muôn</p><p>Công đức không thể đếm</p><p>An trụ trong Phật pháp</p><p>Để cầu đạo vô thượng.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn thấy bậc Hữu học cùng Vô học hai nghìn người, chí ý hòa dịu vắng lặng trong sạch, một lòng nhìn Phật, Phật bảo A Nan:</p><p>Ông thấy bực Hữu học Vô học nghìn người đây chăng?</p><p>Vâng! Con đã thấy.</p><p>A Nan! Các người sẽ cúng dường các Đức Như Lai như số vi trần trong năm mươi thế giới, cung kính tôn trọng hộ trì pháp tạng. Rốt sau đồng thời ở cõi nước trong mười phương đều được thành Phật, đều đồng một hiệu là Bảo Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu. Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, sống lâu một kiếp, cõi nước trang nghiêm, Thanh văn, Bồ tát, Chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng nhau.</p><p>Lúc đó, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Hai nghìn Thanh văn đây</p><p>Nay đứng ở trước ta</p><p>Thảy đều thọ ký cho</p><p>Đời sau sẽ thành Phật</p><p>Cúng dường các Đức Phật</p><p>Như số trần nói trên.</p><p>Hộ trì tạng pháp Phật</p><p>Sau sẽ thành chánh giác</p><p>Đều ở nơi mười phương</p><p>Thảy đồng một danh hiệu</p><p>Đồng thời ngồi đạo tràng</p><p>Để chứng huệ vô thượng</p><p>Đều hiệu là Bảo Tướng</p><p>Cõi nước cùng đệ tử</p><p>Chánh pháp và tượng pháp</p><p>Thảy đều không có khác.</p><p>Đều dùng các thần thông</p><p>Độ mười phương chúng sanh</p><p>Tiếng đồn vang khắp cùng</p><p>Lần nhập vào Niết bàn.</p><p>Lúc đó, bậc Hữu học cùng Vô học hai nghìn người nghe Đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở mà nói kệ rằng:</p><p>Thế Tôn đèn huệ sáng</p><p>Con nghe tiếng thọ ký</p><p>Lòng vui mừng đầy đủ</p><p>Như được nước cam lộ.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Ký Thứ Chín&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, ngài A Nan và ngài La Hầu La nghĩ như vầy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta tự suy nghĩ, nếu được thọ ký thời sung sướng lắm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật đồng bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Chúng con trong đây cũng đáng có phần, chỉ có Đức Như Lai, là chỗ về nương của chúng con. Lại chúng con là người quen biết của tất cả trời, người, A tu la trong đời. A Nan thường làm vị thị giả hộ trì tạng pháp, La Hầu La là con của Phật, nếu Phật thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho, thời lòng nguyện cầu của con đã mãn, mà lòng trông của chúng cũng được đủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, hàng đệ tử Thanh văn, bậc học cùng Vô học, hai nghìn người đều từ chỗ ngồi đứng dậy, trệch vai áo bên hữu đến trước Phật chấp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan của Thế Tôn như chỗ nguyện cầu của A Nan và La Hầu La rồi đứng qua một phía.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Phật bảo A Nan:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn; ông sẽ cúng dường 62 ức Đức Phật, hộ trì tạng pháp vậy sau chứng được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, giáo hóa hai mươi nghìn muôn ức hằng hà sa các chúng Bồ tát… làm cho thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nước tên là Thường Lập Thắng Phan, cõi đó thanh tịnh, đất bằng chất lưu ly, kiếp tên Diệu Âm Biến Mãn. Đức Phật đó thọ mạng vô lượng nghìn muôn ức vô lượng a tăng kỳ kiếp tánh đếm số kể chẳng có thể biết được, Chánh pháp trụ đời gấp bội thọ mạng, tượng pháp lại gấp bội Chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan! Đức Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương đó, được vô lượng nghìn muôn ức hằng hà sa các Đức Phật Như Lai ở mười phương đồng ngợi khen công đức của ngài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi đó Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay Ta nói trong Tăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan, người trì pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ cúng dường các Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy sau thành chánh giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiệu rằng: Sơn Hải Huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự Tại Thông Vương Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước kia thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tên Thường Lập Thắng Phan&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giáo hóa các Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông như hằng sa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật có oai đức lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng đồn khắp mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì bởi thương chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên sống lâu vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp bội thọ mạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tượng pháp lại bội chánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô số hàng chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đông như cát sông Hằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong pháp Phật đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gieo nhân duyên Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, trong hội hàng Bồ tát mới phát tâm, tám nghìn người, đều nghĩ thế này:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta còn chưa nghe các vị Bồ tát lớn được thọ ký như thế, có nhân duyên gì mà các Thanh văn được thọ ký như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy, Đức Thế Tôn biết tâm niệm của các vị Bồ tát mà bảo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Thiện nam tử! Ta cùng bọn ông A Nan ở chỗ Đức Phật Thông Vương đồng thời phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A Nan thường ưa học rộng, còn ta thường siêng năng tinh tấn, cho nên nay ta đã thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà A Nan hộ trì pháp của ta, ông cũng sẽ hộ trì pháp tạng của các Đức Phật tương lai, giáo hóa thành tựu các chúng Bồ tát. Bổn nguyện của ông như thế nên được thọ ký dường ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài A Nan tận mặt ở trước Phật, tự nghe Phật thọ ký cùng cõi nước trang nghiêm, chỗ mong cầu đã đủ, lòng rất vui mừng được đều chưa từng có. Tức thời nghĩ nhớ tạng pháp của vô lượng nghìn muôn ức các Đức Phật thuở quá khứ, suốt thấu không ngại như hiện nay nghe và cũng biết bổn nguyện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi đó, ngài A Nan nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn rất ít có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến con nhớ quá khứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng các Phật pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như chỗ nghe ngày nay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nay không còn nghi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ trong Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương tiện làm thị giả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì các Phật pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Phật bảo ông La Hầu La:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông ở đời sau sẽ được làm Phật hiệu Đạo Thất Bảo Hoa Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Ông sẽ cúng dường các Đức Như Lai như số vi trần trong mười phương thế giới. Thường vì các Đức Phật mà làm trưởng tử, cũng như hiện nay.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật Đạo Thất Bảo Hoa đó, cõi nước trang nghiêm, kiếp số thọ mạng, giáo hóa đệ tử, Chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng như đức Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai không khác. Ông cũng làm trưởng tử cho Phật này, qua sau đây rồi sẽ được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ta làm Thái tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;La Hầu làm trưởng tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nay thành Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ pháp làm pháp tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong đời vị lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gặp vô lượng ức Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm trưởng tử cho kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một lòng cầu Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hạnh kín của La Hầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ ta biết được thôi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện làm con cả ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để chỉ các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng ức nghìn muôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Công đức không thể đếm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ trong Phật pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để cầu đạo vô thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn thấy bậc Hữu học cùng Vô học hai nghìn người, chí ý hòa dịu vắng lặng trong sạch, một lòng nhìn Phật, Phật bảo A Nan:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông thấy bực Hữu học Vô học nghìn người đây chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vâng! Con đã thấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Nan! Các người sẽ cúng dường các Đức Như Lai như số vi trần trong năm mươi thế giới, cung kính tôn trọng hộ trì pháp tạng. Rốt sau đồng thời ở cõi nước trong mười phương đều được thành Phật, đều đồng một hiệu là Bảo Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu. Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, sống lâu một kiếp, cõi nước trang nghiêm, Thanh văn, Bồ tát, Chánh pháp, tượng pháp thảy đều đồng nhau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai nghìn Thanh văn đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay đứng ở trước ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều thọ ký cho&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đời sau sẽ thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường các Đức Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như số trần nói trên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì tạng pháp Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau sẽ thành chánh giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều ở nơi mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đồng một danh hiệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng thời ngồi đạo tràng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để chứng huệ vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều hiệu là Bảo Tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước cùng đệ tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp và tượng pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều không có khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều dùng các thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ mười phương chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng đồn vang khắp cùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần nhập vào Niết bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, bậc Hữu học cùng Vô học hai nghìn người nghe Đức Phật thọ ký vui mừng hớn hở mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn đèn huệ sáng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nghe tiếng thọ ký&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng vui mừng đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như được nước cam lộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="8288966" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/ff827c6d-2218-408f-835d-ec8b7c50349f/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d3e5d1b9-ba3c-432a-a730-265299686bd5</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/ff827c6d-2218-408f-835d-ec8b7c50349f</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:50:50 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/5b1307df-945b-474e-9bbc-3bb5d244fb5b_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>518</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 8</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 8</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm 500 Đệ Tử Thọ Ký Thứ Tám</p><p>Lúc bấy giờ, ngài Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử biết lòng Phật, bạch Phật rằng: Thế Tôn! Phật nói pháp rất khó tin, khó hiểu. Thế Tôn! Chúng con từ khi Phật nói nhân duyên, thí dụ, nói ba thừa độ chúng sanh, nay Phật nói chỉ một thừa, chúng con nghi hoặc.</p><p>Thế Tôn! Xin Phật nói rõ để trừ nghi.</p><p>Phật bảo Phú Lâu Na: Ta nay ở trong chúng, nói các ông sẽ thành Phật, các ông chớ nghi.</p><p>Phú Lâu Na, ông ở đời vị lai cúng dường sáu mươi vạn ức na do tha Phật, hộ trì chánh pháp, ở thân rốt sau thành Phật hiệu Pháp Minh Như Lai, nước tên Thiện Tịnh, đất bằng lưu ly, kiếp tên Đại Quang, thọ hai mươi trung kiếp, chúng Thanh văn Bồ tát vô lượng.</p><p>Sau Phật diệt độ, chánh pháp trụ bốn mươi trung kiếp, tượng pháp bốn mươi trung kiếp.</p><p>Bấy giờ Phật nói kệ:</p><p>Phú Lâu Na này đây</p><p>Đời sau cúng sáu mươi</p><p>Vạn ức na do tha</p><p>Phật rồi hộ chánh pháp</p><p>Ở thân rốt sau đó</p><p>Thành Phật Pháp Minh Tôn</p><p>Nước tên Thiện Tịnh kia</p><p>Trang nghiêm rất đẹp đẽ</p><p>Chúng Bồ tát vô lượng</p><p>Thanh văn cũng vô số</p><p>Thọ hai mươi trung kiếp</p><p>Rộng nói đạo vô thượng</p><p>Bấy giờ trong hội có một nghìn hai trăm A La Hán tâm tự tại như Phú Lâu Na, A Nhã Kiều Trần Như v.v., đều nghĩ rằng: Chúng ta được Phật thọ ký, vui mừng chưa từng có.</p><p>Bấy giờ Phật bảo Xá Lợi Phất: Ông thấy một nghìn hai trăm A La Hán tâm tự tại này chăng? Ta nay ở trước đại chúng thọ ký cho họ thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong số này, năm trăm A La Hán sẽ thành Phật đồng hiệu Phổ Minh Như Lai, nước đồng tên Phổ Tịnh, kiếp đồng tên Đại Quang.</p><p>Bấy giờ Phật nói kệ:</p><p>Năm trăm Tỳ Kheo này</p><p>Lần lượt sẽ thành Phật</p><p>Đồng hiệu Phổ Minh Tôn</p><p>Lần lượt thọ ký nhau</p><p>Ta diệt độ rồi đây</p><p>Ông mọ sẽ thành Phật</p><p>Pháp ta đã nói đó</p><p>Ông sẽ rộng tuyên dương</p><p>Các Phật kia cũng vậy</p><p>Đều dùng phương tiện nói</p><p>Ba thừa chỉ một thừa</p><p>Chúng sanh trụ định poly</p><p>Được thấy các Phật kia</p><p>Cõi nước trang nghiêm đẹp</p><p>Lúc đó năm trăm A La Hán ở trước Phật được thọ ký, vui mừng hớn hở, từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật, sám hối lỗi lầm: Thế Tôn! Chúng con tự nghĩ đã được diệt độ, nay mới biết là vô trí. Vì sao? Được pháp A La Hán, tự cho đã đủ, chẳng cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.</p><p>Thế Tôn! Như người nghèo đến nhà giàu, say rượu nằm ngủ, nhà giàu buộc ngọc vô giá vào áo rồi đi. Người nghèo tỉnh dậy, lang thang khất cái, được chút ít tự cho đủ. Sau gặp nhà giàu, chỉ ngọc trong áo. Người nghèo thấy ngọc, giàu lớn.</p><p>Chúng con cũng vậy, Phật dùng phương tiện dạy Tiểu thừa, chúng con tự cho đủ, nay Phật khiến tỉnh, biết là ngọc Đại thừa.</p><p>Bấy giờ năm trăm A La Hán nói kệ sám hối và vui mừng.</p><p>Phật bảo: Các ông tự nói thí dụ người nghèo được ngọc. Lại như người đến nhà thân, ngồi ngủ, nhà chủ cho áo báu, buộc trong áo rồi đi. Người ngủ tỉnh, đi nước khác, khổ sở cầu sống, được ít tự cho đủ. Sau thấy áo báu trong áo, vui mừng giàu lớn.</p><p>Các ông cũng vậy, ta vì Bồ Tát nói Đại thừa, các ông quên mất, được Tiểu thừa tự cho đủ. Nay ta khiến nhớ, nói Đại thừa.</p><p>Bấy giờ Phật nói kệ:</p><p>Các ông nói thí dụ</p><p>Rõ ràng việc như thế</p><p>Nay ta dùng dụ này</p><p>Càng làm rõ nghĩa đó</p><p>Người đến nhà thân thích</p><p>Say rượu nằm ngủ say</p><p>Nhà thân giàu vô lượng</p><p>Buộc ngọc vô giá trị</p><p>Vào trong vạt áo kia</p><p>Cho rồi đi nước khác</p><p>Người say ngủ tỉnh dậy</p><p>Du hành đến nước khác</p><p>Cầu ăn uống quần áo</p><p>Nhọc nhằn rất khó khăn</p><p>Được thì vui mừng lớn</p><p>Như được ơn lớn lao</p><p>Chẳng cầu vật tốt hơn</p><p>Chẳng hay ngọc trong áo</p><p>Nhà giàu thấy người nghèo</p><p>Bảo rằng ngọc ta buộc</p><p>Nay vẫn còn nguyên đó</p><p>Người nghèo thấy ngọc báu</p><p>Lòng rất đổi vui mừng</p><p>Giàu có của cải nhiều</p><p>Thỏa mãn năm dục lạc</p><p>Chúng con cũng như vậy</p><p>Thế Tôn qua đời dài</p><p>Dùng phương tiện dạy Tiểu</p><p>Chúng con tự cho đủ</p><p>Được A La Hán quả</p><p>Tự cho đã diệt độ</p><p>Nhưng chí Đại thừa còn</p><p>Phật khiến tỉnh ngộ đây</p><p>Các ông là Phật tử</p><p>Sẽ được thành Phật quả</p><p>Các ông mang ngọc Đại</p><p>Mà trước chẳng hay biết</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm 500 Đệ Tử Thọ Ký Thứ Tám&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, ngài Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử biết lòng Phật, bạch Phật rằng: Thế Tôn! Phật nói pháp rất khó tin, khó hiểu. Thế Tôn! Chúng con từ khi Phật nói nhân duyên, thí dụ, nói ba thừa độ chúng sanh, nay Phật nói chỉ một thừa, chúng con nghi hoặc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Xin Phật nói rõ để trừ nghi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Phú Lâu Na: Ta nay ở trong chúng, nói các ông sẽ thành Phật, các ông chớ nghi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na, ông ở đời vị lai cúng dường sáu mươi vạn ức na do tha Phật, hộ trì chánh pháp, ở thân rốt sau thành Phật hiệu Pháp Minh Như Lai, nước tên Thiện Tịnh, đất bằng lưu ly, kiếp tên Đại Quang, thọ hai mươi trung kiếp, chúng Thanh văn Bồ tát vô lượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau Phật diệt độ, chánh pháp trụ bốn mươi trung kiếp, tượng pháp bốn mươi trung kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phú Lâu Na này đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đời sau cúng sáu mươi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vạn ức na do tha&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật rồi hộ chánh pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở thân rốt sau đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành Phật Pháp Minh Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nước tên Thiện Tịnh kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trang nghiêm rất đẹp đẽ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng Bồ tát vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thanh văn cũng vô số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ hai mươi trung kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng nói đạo vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ trong hội có một nghìn hai trăm A La Hán tâm tự tại như Phú Lâu Na, A Nhã Kiều Trần Như v.v., đều nghĩ rằng: Chúng ta được Phật thọ ký, vui mừng chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật bảo Xá Lợi Phất: Ông thấy một nghìn hai trăm A La Hán tâm tự tại này chăng? Ta nay ở trước đại chúng thọ ký cho họ thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong số này, năm trăm A La Hán sẽ thành Phật đồng hiệu Phổ Minh Như Lai, nước đồng tên Phổ Tịnh, kiếp đồng tên Đại Quang.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Năm trăm Tỳ Kheo này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần lượt sẽ thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng hiệu Phổ Minh Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần lượt thọ ký nhau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta diệt độ rồi đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông mọ sẽ thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp ta đã nói đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông sẽ rộng tuyên dương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Phật kia cũng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều dùng phương tiện nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba thừa chỉ một thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh trụ định poly&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được thấy các Phật kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước trang nghiêm đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó năm trăm A La Hán ở trước Phật được thọ ký, vui mừng hớn hở, từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật, sám hối lỗi lầm: Thế Tôn! Chúng con tự nghĩ đã được diệt độ, nay mới biết là vô trí. Vì sao? Được pháp A La Hán, tự cho đã đủ, chẳng cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Như người nghèo đến nhà giàu, say rượu nằm ngủ, nhà giàu buộc ngọc vô giá vào áo rồi đi. Người nghèo tỉnh dậy, lang thang khất cái, được chút ít tự cho đủ. Sau gặp nhà giàu, chỉ ngọc trong áo. Người nghèo thấy ngọc, giàu lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con cũng vậy, Phật dùng phương tiện dạy Tiểu thừa, chúng con tự cho đủ, nay Phật khiến tỉnh, biết là ngọc Đại thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ năm trăm A La Hán nói kệ sám hối và vui mừng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo: Các ông tự nói thí dụ người nghèo được ngọc. Lại như người đến nhà thân, ngồi ngủ, nhà chủ cho áo báu, buộc trong áo rồi đi. Người ngủ tỉnh, đi nước khác, khổ sở cầu sống, được ít tự cho đủ. Sau thấy áo báu trong áo, vui mừng giàu lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông cũng vậy, ta vì Bồ Tát nói Đại thừa, các ông quên mất, được Tiểu thừa tự cho đủ. Nay ta khiến nhớ, nói Đại thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật nói kệ:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông nói thí dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rõ ràng việc như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta dùng dụ này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Càng làm rõ nghĩa đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đến nhà thân thích&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Say rượu nằm ngủ say&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhà thân giàu vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Buộc ngọc vô giá trị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vào trong vạt áo kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho rồi đi nước khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người say ngủ tỉnh dậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Du hành đến nước khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu ăn uống quần áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhọc nhằn rất khó khăn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được thì vui mừng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như được ơn lớn lao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng cầu vật tốt hơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay ngọc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhà giàu thấy người nghèo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo rằng ngọc ta buộc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay vẫn còn nguyên đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nghèo thấy ngọc báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất đổi vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giàu có của cải nhiều&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thỏa mãn năm dục lạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con cũng như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn qua đời dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng phương tiện dạy Tiểu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con tự cho đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được A La Hán quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chí Đại thừa còn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật khiến tỉnh ngộ đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông là Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được thành Phật quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông mang ngọc Đại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà trước chẳng hay biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="5905345" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/421a5077-65d4-4c73-bfd1-59de87e24bf4/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d354a521-a33f-4d14-a969-f75c753e178e</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/421a5077-65d4-4c73-bfd1-59de87e24bf4</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:43:09 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/317e75f4-0f88-4cd1-807e-add15247aea1_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>369</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 7</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 7</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Hóa Thành Dụ Thứ Bảy</p><p>Bấy giờ Phật bảo các Tỳ Kheo: Vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kỳ kiếp quá khứ có Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.</p><p>Thọ mạng Phật đó sáu mươi vạn ức na do tha hằng hà sa kiếp. Khi Phật đó ngồi đạo tràng phá ma quân rồi, sắp được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà Phật pháp chẳng hiện tiền. Phật đó một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp ngồi kết già phu mà Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng được thành Phật đạo.</p><p>Lúc đó chư Thiên, Long Vương, A Tu La v.v. thường đến cúng dường. Phật đó ở trong mười tiểu kiếp ngồi đạo tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, thường ở nơi đó thân tâm bất động.</p><p>Lúc đó chư Thiên vì Phật mà dựng cung điện báu cao hai trăm do tuần, rộng năm trăm do tuần, trang nghiêm bằng các báu, đến trước Phật dâng cúng mà bạch Phật: Xin Phật thương nhận sở dâng của chúng con.</p><p>Phật im lặng chẳng nhận. Chư Thiên lại vì Phật dựng cung điện báu khác, cũng trang nghiêm bằng các báu, đến trước Phật dâng cúng như trước.</p><p>Phật cũng im lặng chẳng nhận. Chư Thiên lại vì Phật dựng bốn cung điện báu khác, cũng trang nghiêm bằng các báu, đến trước Phật dâng cúng như trước.</p><p>Phật đó liền nhận mà ở. Chư Thiên vui mừng, phân nửa cung điện báu để Phật ngồi, còn phân nửa cúng dường Phật.</p><p>Bấy giờ Phật nhận mà ngồi kết già phu trong cung điện báu. Lúc đó có năm trăm muôn ức chư Thiên tử cầm lọng báu che Phật.</p><p>Bấy giờ Phật đó vì các Bồ Tát nói kinh Đại Thừa tên Vô Lượng Nghĩa, giáo hóa Bồ Tát pháp, Phật hộ niệm.</p><p>Phật nói kinh này rồi, kết già phu tọa nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội, thân tâm bất động. Lúc đó trời mưa hoa Mạn Đà La, Ma Ha Mạn Đà La, Mạn Thù Sa, Ma Ha Mạn Thù Sa, rải trên Phật và đại chúng.</p><p>Khắp Phật thế giới sáu thứ chấn động. Lúc đó trong hội, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Trời, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Giá, nhân và phi nhân, cùng tiểu vương, chuyển luân thánh vương v.v., đại chúng như thế được việc chưa từng có, hoan hỷ chắp tay, một lòng nhìn Phật.</p><p>Bấy giờ Phật từ bạch hào tướng phóng quang minh soi khắp phương Đông mười tám vạn cõi Phật, dưới đến A Tỳ địa ngục, trên đến trời Hữu Đỉnh. Từ cõi này thấy sáu đạo chúng sanh ở sáu cõi kia.</p><p>Lại thấy chư Phật hiện tại ở cõi kia, và nghe kinh pháp chư Phật nói.</p><p>Lại thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di ở cõi kia, tu hành đắc đạo.</p><p>Lại thấy các Bồ Tát Ma Ha Tát, nhân duyên, tín giải, tướng mạo, hành Bồ Tát đạo.</p><p>Lại thấy chư Phật diệt độ, lại thấy sau diệt độ xây tháp bảy báu cúng dường xá lợi.</p><p>Bấy giờ Phật đó từ tam muội dậy, khen các Bồ Tát lớn: Hay thay, hay thay! Các ông hay ở nơi Phật pháp mà sanh lòng tin hiểu lớn.</p><p>Bấy giờ Phật đó nói kinh Vô Lượng Nghĩa rồi, đại chúng đều hoan hỷ, chắp tay nhìn Phật.</p><p>Bấy giờ Phật đó bảo Đại Trang Nghiêm Bồ Tát và tám mươi muôn ức Bồ Tát: Các ông thấy trong hội này năm trăm ức Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, người đã đắc quả, người chưa đắc quả chăng?</p><p>Các ông thấy người như thế rồi, nên biết là do nhân duyên của kinh Vô Lượng Nghĩa mà được vào Phật pháp.</p><p>Bấy giờ Phật đó bảo Đại Trang Nghiêm Bồ Tát: Ông thấy trong hội này tám mươi muôn ức na do tha người, hoặc đã đắc quả A La Hán, hoặc chưa đắc quả A La Hán chăng?</p><p>Đại Trang Nghiêm Bồ Tát bạch Phật: Bạch Thế Tôn, con thấy.</p><p>Phật bảo Đại Trang Nghiêm Bồ Tát: Những người này do nghe kinh Vô Lượng Nghĩa mà được lợi ích lớn, được quả báo bất khả tư nghị.</p><p>Bấy giờ Phật đó biết giờ nói kinh Đại Thừa, liền từ tam muội dậy, bảo các Tỳ Kheo: Ta nay nói kinh Đại Thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa, giáo hóa Bồ Tát pháp, Phật hộ niệm.</p><p>Phật nói kinh này rồi, trong hội có tám mươi muôn ức na do tha chúng sanh được thọ ký thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.</p><p>Bấy giờ mười sáu vị vương tử của Phật Đại Thông Trí Thắng, lúc Phật chưa xuất gia, các vị đều đã xuất gia làm Sa Di, căn tánh lanh lợi, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức Phật, tịnh tu phạm hạnh, cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.</p><p>Các vị Sa Di đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, chắp tay cung kính mà bạch Phật: Thế Tôn! Các vị Thanh Văn lậu tận A La Hán này đã được lợi ích lớn, được thọ ký thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng con rất vui mừng, được điều chưa từng có.</p><p>Thế Tôn! Chúng con như người đi đường xa, mỏi mệt, đến thành sở, được nghỉ ngơi.</p><p>Thế Tôn! Chúng con nay cũng như vậy, đi đường sinh tử dài xa, mỏi mệt, nay được Niết Bàn như đến thành sở nghỉ ngơi.</p><p>Nhưng Niết Bàn chẳng phải rốt ráo, như người đi đường xa, thầy thuốc hóa thành để nghỉ, rồi đi tiếp.</p><p>Thế Tôn! Xin Phật nói pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khiến chúng con được rốt ráo Niết Bàn.</p><p>Bấy giờ mười sáu vị Sa Di nói kệ khen Phật, thỉnh Phật chuyển pháp luân Đại Thừa.</p><p>Bấy giờ Phật thụ ký cho mười sáu vị Sa Di thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và bảo rằng: Các ông nên biết, pháp ta nói đều là một thừa, không có hai thừa, ba thừa.</p><p>Các vị Sa Di nghe Phật thọ ký, vui mừng hớn hở.</p><p>Bấy giờ Phật Đại Thông Trí Thắng im lặng nhận lời thỉnh của mười sáu vị Sa Di.</p><p>Sau mười tiểu kiếp, Phật Đại Thông Trí Thắng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trong tám vạn bốn nghìn kiếp, Phật nói kinh này không ngừng nghỉ.</p><p>Nói kinh này rồi, Phật nhập tịnh thất, ở trong tám vạn bốn nghìn kiếp, nhập chánh định.</p><p>Mười sáu vị Bồ Tát Sa Di biết Phật nhập thất im lặng bất động, vì đại chúng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mỗi vị độ sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh.</p><p>Sau Phật ra thất, mười sáu vị Bồ Tát thăng pháp tòa, rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.</p><p>Sau Phật diệt độ, mười sáu vị Bồ Tát chưa thành Phật, thường nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.</p><p>Bây giờ mười sáu vị Sa Di đã thành Phật, ở các cõi nước hiện làm Phật, có các Thanh Văn, Bồ Tát làm quyến thuộc.</p><p>Tỳ Kheo nên biết, mười sáu vị Phật tử đó, nay đều được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ở các cõi nước mười phương hiện thành Phật.</p><p>Những người gần gũi các Phật đó, thường nghe pháp, nay đều ở chỗ Phật đó.</p><p>Ta là một trong mười sáu vị đó, xưa từng giáo hóa các ông.</p><p>Vì vậy dùng phương tiện dẫn dắt các ông vào Phật huệ.</p><p>Vì nhân duyên xưa đó, nay nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khiến các ông vào Phật huệ.</p><p>Các ông chớ sanh lòng sợ, giả sử có người đi đường xa, giữa đồng</p><p>vắng không làng xóm, nguy hiểm nhiều thú dữ, người dẫn đường hóa thành để nghỉ, rồi xóa thành đi tiếp.</p><p>Ta cũng vậy, dẫn dắt chúng sanh ra khỏi đường sinh tử dài xa, hóa Niết Bàn thành để nghỉ, rồi nói đó chẳng phải thật Niết Bàn, phải đi tiếp đến Phật huệ.</p><p>Thế Tôn nói kệ rằng:</p><p>Phật Đại Thông Trí Thắng</p><p>Ngồi đạo tràng mười kiếp</p><p>Phật pháp chẳng hiện tiền</p><p>Chẳng được Phật đạo quả</p><p>Chư Thiên Long Vương chúng</p><p>A Tu La v.v.</p><p>Thường mưa hoa trời cúng</p><p>Cúng dường Phật đó đi</p><p>Các trời trổi nhạc trời</p><p>Và rưới hương đẹp trời</p><p>Để cúng dường Phật đó</p><p>Nhưng Phật vẫn im lặng</p><p>Bốn bộ vui mừng hớn</p><p>Tự nghĩ được lợi lớn</p><p>Phật biết lòng họ nghĩ</p><p>Mà chưa nói Niết Bàn</p><p>Đại Thánh Đại Thông Trí</p><p>Im lặng chưa nói pháp</p><p>Các Phạm Thiên Vương chúng</p><p>Từ nghìn cõi đến đây</p><p>Rải hoa đẹp trời cúng</p><p>Dâng cung điện báu đẹp</p><p>Thỉnh Phật chuyển pháp luân</p><p>Phật biết giờ chưa đến</p><p>Im lặng nhận cúng dường</p><p>Ba phương khác chư Thiên</p><p>Càng thêm cung kính Phật</p><p>Rải hoa rưới hương đẹp</p><p>Thỉnh Phật chuyển pháp luân</p><p>Phật biết giờ chưa đến</p><p>Im lặng ngồi bất động</p><p>Ba phương và bốn hướng</p><p>Và trên dưới đầy dẫy</p><p>Hoa báu rải đầy trời</p><p>Thỉnh Phật chuyển pháp luân</p><p>Thế Tôn Đại Thánh Tôn</p><p>Xin thương nói pháp đi</p><p>Dùng thần lực đại bi</p><p>Cứu khổ chúng sanh này</p><p>Khi ấy Phật Đại Thông</p><p>Trí Thắng biết chư Thiên</p><p>Long thần và nhân chúng</p><p>Khắp đầy mười phương cõi</p><p>Đều khát ngưỡng pháp vị</p><p>Liền phóng hào quang sáng</p><p>Soi mười tám nghìn cõi</p><p>Phương Đông hiện Phật quốc</p><p>Số đông như hằng sa</p><p>Sắc pha lê sáng chói</p><p>Đầy Bồ Tát chúng</p><p>Thấy hào quang Phật soi</p><p>Vui mừng sanh lòng lành</p><p>Lại thấy chư Phật kia</p><p>Nói pháp độ chúng sanh</p><p>Lúc bấy giờ phương Đông</p><p>Sáu trăm muôn ức hằng</p><p>Cõi nước số hằng sa</p><p>Hào quang Phật soi khắp</p><p>Các cõi nước như thế</p><p>Số đông vô lượng biên</p><p>Hào quang Phật soi đến</p><p>Hiện việc chưa từng có</p><p>Hoa Mạn Đà La mưa</p><p>Trời trống tự vang tiếng</p><p>Chư Phạm mưa hoa đẹp</p><p>Cúng dường vô lượng Phật</p><p>Cung điện báu trang nghiêm</p><p>Rực rỡ sáng ngời soi</p><p>Phật vì các chúng sanh</p><p>Thích nghi nói diệu pháp</p><p>Dùng một thừa độ thoát</p><p>Khiến đầy đủ Phật huệ</p><p>Các cõi nước như thế</p><p>Như tre lau số đông</p><p>Người thấy hào quang Phật</p><p>Vui mừng hớn hở lắm</p><p>Phật phóng quang minh này</p><p>Báo hiệu pháp diệu mầu</p><p>Chúng sanh được thấy rồi</p><p>Bỏ nước đến cõi này</p><p>Rải hoa trời cúng Phật</p><p>Và cúng chúng Bồ Tát</p><p>Đồng thanh khen Phật rằng</p><p>Khó được gặp Thế Tôn</p><p>Phật biết giờ đã đến</p><p>Vì đại chúng nói rằng</p><p>Kinh Vô Lượng Nghĩa này</p><p>Từ một pháp sanh ra</p><p>Tướng như thế tánh như thế</p><p>Các ông nên tư duy</p><p>Sau đó nói Pháp Hoa</p><p>Khi Phật nói kinh này</p><p>Mưa hoa Mạn Đà La</p><p>Sáu thứ chấn động khắp</p><p>Trong hội chúng vô lượng</p><p>Bốn bộ trời rồng v.v.</p><p>Vui mừng hớn hở lắm</p><p>Nghe pháp Phật nói rồi</p><p>Sanh lòng tin lớn lao</p><p>Phật phóng bạch hào quang</p><p>Hiện điềm tốt như thế</p><p>Phật bảo đại chúng rằng</p><p>Các ông thấy hào quang</p><p>Soi phương Đông mười tám nghìn</p><p>Cõi nước sắc pha lê</p><p>Quả báo các nghiệp lành</p><p>Của chúng sanh thấy được</p><p>Lại thấy các cõi kia</p><p>Vô lượng Phật hiện tại</p><p>Phóng quang minh sáng soi</p><p>Giúp đỡ hào quang ta</p><p>Chúng sanh thấy được rồi</p><p>Sanh lòng khát ngưỡng lớn</p><p>Lâu chưa thấy Phật quốc</p><p>Chúng sanh khát ngưỡng vậy</p><p>Các Phật và chúng hội</p><p>Hiện rõ không che lấp</p><p>Hào quang bạch hào ta</p><p>Soi đến các cõi kia</p><p>Chúng sanh được quang soi</p><p>Vui mừng sanh lòng lành</p><p>Ở các cõi nước kia</p><p>Có Phật nói diệu pháp</p><p>Chúng sanh vui phụng hành</p><p>Tôn kính Phật và Tăng</p><p>Chư Phật nói pháp âm</p><p>Thâm diệu chưa từng có</p><p>Tiếng vang đến mười phương</p><p>Hào quang ta soi khắp</p><p>Ta phóng quang minh này</p><p>Khiến khắp thấy các cõi</p><p>Vì quá khứ nhân duyên</p><p>Phật nói kinh Vô Lượng</p><p>Vì các ông nói lại</p><p>Các ông lắng nghe kỹ</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Hóa Thành Dụ Thứ Bảy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật bảo các Tỳ Kheo: Vô lượng vô biên bất khả tư nghị a tăng kỳ kiếp quá khứ có Phật hiệu Đại Thông Trí Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ mạng Phật đó sáu mươi vạn ức na do tha hằng hà sa kiếp. Khi Phật đó ngồi đạo tràng phá ma quân rồi, sắp được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác mà Phật pháp chẳng hiện tiền. Phật đó một tiểu kiếp cho đến mười tiểu kiếp ngồi kết già phu mà Phật pháp chẳng hiện tiền, chẳng được thành Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó chư Thiên, Long Vương, A Tu La v.v. thường đến cúng dường. Phật đó ở trong mười tiểu kiếp ngồi đạo tràng, Phật pháp chẳng hiện tiền, thường ở nơi đó thân tâm bất động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó chư Thiên vì Phật mà dựng cung điện báu cao hai trăm do tuần, rộng năm trăm do tuần, trang nghiêm bằng các báu, đến trước Phật dâng cúng mà bạch Phật: Xin Phật thương nhận sở dâng của chúng con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật im lặng chẳng nhận. Chư Thiên lại vì Phật dựng cung điện báu khác, cũng trang nghiêm bằng các báu, đến trước Phật dâng cúng như trước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật cũng im lặng chẳng nhận. Chư Thiên lại vì Phật dựng bốn cung điện báu khác, cũng trang nghiêm bằng các báu, đến trước Phật dâng cúng như trước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đó liền nhận mà ở. Chư Thiên vui mừng, phân nửa cung điện báu để Phật ngồi, còn phân nửa cúng dường Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật nhận mà ngồi kết già phu trong cung điện báu. Lúc đó có năm trăm muôn ức chư Thiên tử cầm lọng báu che Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật đó vì các Bồ Tát nói kinh Đại Thừa tên Vô Lượng Nghĩa, giáo hóa Bồ Tát pháp, Phật hộ niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kinh này rồi, kết già phu tọa nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội, thân tâm bất động. Lúc đó trời mưa hoa Mạn Đà La, Ma Ha Mạn Đà La, Mạn Thù Sa, Ma Ha Mạn Thù Sa, rải trên Phật và đại chúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp Phật thế giới sáu thứ chấn động. Lúc đó trong hội, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Trời, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Giá, nhân và phi nhân, cùng tiểu vương, chuyển luân thánh vương v.v., đại chúng như thế được việc chưa từng có, hoan hỷ chắp tay, một lòng nhìn Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật từ bạch hào tướng phóng quang minh soi khắp phương Đông mười tám vạn cõi Phật, dưới đến A Tỳ địa ngục, trên đến trời Hữu Đỉnh. Từ cõi này thấy sáu đạo chúng sanh ở sáu cõi kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy chư Phật hiện tại ở cõi kia, và nghe kinh pháp chư Phật nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di ở cõi kia, tu hành đắc đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy các Bồ Tát Ma Ha Tát, nhân duyên, tín giải, tướng mạo, hành Bồ Tát đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy chư Phật diệt độ, lại thấy sau diệt độ xây tháp bảy báu cúng dường xá lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật đó từ tam muội dậy, khen các Bồ Tát lớn: Hay thay, hay thay! Các ông hay ở nơi Phật pháp mà sanh lòng tin hiểu lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật đó nói kinh Vô Lượng Nghĩa rồi, đại chúng đều hoan hỷ, chắp tay nhìn Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật đó bảo Đại Trang Nghiêm Bồ Tát và tám mươi muôn ức Bồ Tát: Các ông thấy trong hội này năm trăm ức Bồ Tát, Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, người đã đắc quả, người chưa đắc quả chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông thấy người như thế rồi, nên biết là do nhân duyên của kinh Vô Lượng Nghĩa mà được vào Phật pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật đó bảo Đại Trang Nghiêm Bồ Tát: Ông thấy trong hội này tám mươi muôn ức na do tha người, hoặc đã đắc quả A La Hán, hoặc chưa đắc quả A La Hán chăng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại Trang Nghiêm Bồ Tát bạch Phật: Bạch Thế Tôn, con thấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Đại Trang Nghiêm Bồ Tát: Những người này do nghe kinh Vô Lượng Nghĩa mà được lợi ích lớn, được quả báo bất khả tư nghị.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật đó biết giờ nói kinh Đại Thừa, liền từ tam muội dậy, bảo các Tỳ Kheo: Ta nay nói kinh Đại Thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa, giáo hóa Bồ Tát pháp, Phật hộ niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kinh này rồi, trong hội có tám mươi muôn ức na do tha chúng sanh được thọ ký thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ mười sáu vị vương tử của Phật Đại Thông Trí Thắng, lúc Phật chưa xuất gia, các vị đều đã xuất gia làm Sa Di, căn tánh lanh lợi, đã từng cúng dường trăm nghìn muôn ức Phật, tịnh tu phạm hạnh, cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Sa Di đều từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, chắp tay cung kính mà bạch Phật: Thế Tôn! Các vị Thanh Văn lậu tận A La Hán này đã được lợi ích lớn, được thọ ký thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng con rất vui mừng, được điều chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Chúng con như người đi đường xa, mỏi mệt, đến thành sở, được nghỉ ngơi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Chúng con nay cũng như vậy, đi đường sinh tử dài xa, mỏi mệt, nay được Niết Bàn như đến thành sở nghỉ ngơi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng Niết Bàn chẳng phải rốt ráo, như người đi đường xa, thầy thuốc hóa thành để nghỉ, rồi đi tiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Xin Phật nói pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, khiến chúng con được rốt ráo Niết Bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ mười sáu vị Sa Di nói kệ khen Phật, thỉnh Phật chuyển pháp luân Đại Thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật thụ ký cho mười sáu vị Sa Di thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, và bảo rằng: Các ông nên biết, pháp ta nói đều là một thừa, không có hai thừa, ba thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vị Sa Di nghe Phật thọ ký, vui mừng hớn hở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật Đại Thông Trí Thắng im lặng nhận lời thỉnh của mười sáu vị Sa Di.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau mười tiểu kiếp, Phật Đại Thông Trí Thắng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trong tám vạn bốn nghìn kiếp, Phật nói kinh này không ngừng nghỉ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói kinh này rồi, Phật nhập tịnh thất, ở trong tám vạn bốn nghìn kiếp, nhập chánh định.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười sáu vị Bồ Tát Sa Di biết Phật nhập thất im lặng bất động, vì đại chúng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, mỗi vị độ sáu trăm muôn ức na do tha hằng hà sa chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau Phật ra thất, mười sáu vị Bồ Tát thăng pháp tòa, rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau Phật diệt độ, mười sáu vị Bồ Tát chưa thành Phật, thường nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bây giờ mười sáu vị Sa Di đã thành Phật, ở các cõi nước hiện làm Phật, có các Thanh Văn, Bồ Tát làm quyến thuộc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ Kheo nên biết, mười sáu vị Phật tử đó, nay đều được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ở các cõi nước mười phương hiện thành Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những người gần gũi các Phật đó, thường nghe pháp, nay đều ở chỗ Phật đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta là một trong mười sáu vị đó, xưa từng giáo hóa các ông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì vậy dùng phương tiện dẫn dắt các ông vào Phật huệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nhân duyên xưa đó, nay nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khiến các ông vào Phật huệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông chớ sanh lòng sợ, giả sử có người đi đường xa, giữa đồng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;vắng không làng xóm, nguy hiểm nhiều thú dữ, người dẫn đường hóa thành để nghỉ, rồi xóa thành đi tiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta cũng vậy, dẫn dắt chúng sanh ra khỏi đường sinh tử dài xa, hóa Niết Bàn thành để nghỉ, rồi nói đó chẳng phải thật Niết Bàn, phải đi tiếp đến Phật huệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Đại Thông Trí Thắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngồi đạo tràng mười kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật pháp chẳng hiện tiền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng được Phật đạo quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Thiên Long Vương chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;A Tu La v.v.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường mưa hoa trời cúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường Phật đó đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các trời trổi nhạc trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và rưới hương đẹp trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để cúng dường Phật đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng Phật vẫn im lặng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn bộ vui mừng hớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự nghĩ được lợi lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật biết lòng họ nghĩ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà chưa nói Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại Thánh Đại Thông Trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Im lặng chưa nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Phạm Thiên Vương chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ nghìn cõi đến đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rải hoa đẹp trời cúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dâng cung điện báu đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thỉnh Phật chuyển pháp luân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật biết giờ chưa đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Im lặng nhận cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba phương khác chư Thiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Càng thêm cung kính Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rải hoa rưới hương đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thỉnh Phật chuyển pháp luân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật biết giờ chưa đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Im lặng ngồi bất động&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba phương và bốn hướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và trên dưới đầy dẫy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoa báu rải đầy trời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thỉnh Phật chuyển pháp luân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn Đại Thánh Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin thương nói pháp đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng thần lực đại bi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cứu khổ chúng sanh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Phật Đại Thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí Thắng biết chư Thiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Long thần và nhân chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp đầy mười phương cõi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều khát ngưỡng pháp vị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền phóng hào quang sáng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Soi mười tám nghìn cõi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương Đông hiện Phật quốc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông như hằng sa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc pha lê sáng chói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy Bồ Tát chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy hào quang Phật soi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng sanh lòng lành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy chư Phật kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp độ chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ phương Đông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáu trăm muôn ức hằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước số hằng sa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hào quang Phật soi khắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các cõi nước như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông vô lượng biên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hào quang Phật soi đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện việc chưa từng có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoa Mạn Đà La mưa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời trống tự vang tiếng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phạm mưa hoa đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường vô lượng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cung điện báu trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rực rỡ sáng ngời soi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật vì các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thích nghi nói diệu pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng một thừa độ thoát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến đầy đủ Phật huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các cõi nước như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như tre lau số đông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thấy hào quang Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng hớn hở lắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật phóng quang minh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Báo hiệu pháp diệu mầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh được thấy rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỏ nước đến cõi này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rải hoa trời cúng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và cúng chúng Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng thanh khen Phật rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó được gặp Thế Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật biết giờ đã đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì đại chúng nói rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Vô Lượng Nghĩa này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ một pháp sanh ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tướng như thế tánh như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông nên tư duy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau đó nói Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi Phật nói kinh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mưa hoa Mạn Đà La&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáu thứ chấn động khắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong hội chúng vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn bộ trời rồng v.v.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng hớn hở lắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp Phật nói rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh lòng tin lớn lao&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật phóng bạch hào quang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện điềm tốt như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo đại chúng rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông thấy hào quang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Soi phương Đông mười tám nghìn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước sắc pha lê&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quả báo các nghiệp lành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của chúng sanh thấy được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy các cõi kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng Phật hiện tại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phóng quang minh sáng soi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giúp đỡ hào quang ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh thấy được rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh lòng khát ngưỡng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lâu chưa thấy Phật quốc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh khát ngưỡng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Phật và chúng hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện rõ không che lấp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hào quang bạch hào ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Soi đến các cõi kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh được quang soi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng sanh lòng lành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở các cõi nước kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có Phật nói diệu pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh vui phụng hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôn kính Phật và Tăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phật nói pháp âm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thâm diệu chưa từng có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng vang đến mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hào quang ta soi khắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta phóng quang minh này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến khắp thấy các cõi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì quá khứ nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kinh Vô Lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì các ông nói lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông lắng nghe kỹ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="13162370" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/4d192266-8a0e-4a74-b0fe-639a0ba1882b/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">a1d8b3b3-eec3-4178-a040-f708c02552df</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/4d192266-8a0e-4a74-b0fe-639a0ba1882b</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:27:49 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/eabab03a-476a-4751-89e0-7aa1eb7c1d39_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>822</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 6</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 6</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Thọ Ký Thứ Sáu</p><p>Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế nầy:</p><p>Ông Ma Ha Ca Diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các Đức Thế Tôn, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các Đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại Trang Nghiêm, Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng thẳng không có cao thấp hầm hố gò nổng, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi sạch sẽ. Bồ tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh văn cũng lại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phật pháp.</p><p>Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Bảo các Tỳ kheo rằng:</p><p>Ta dùng mắt của Phật</p><p>Thấy ông Ca Diếp nầy</p><p>Ở nơi đời vị lai</p><p>Quá vô số kiếp sau</p><p>Sẽ được thành quả Phật,</p><p>Mà ở đời vị lai</p><p>Cúng dường và kính thờ</p><p>Đủ ba trăm muôn ức</p><p>Các Đức Phật Thế Tôn.</p><p>Vì cầu trí huệ Phật</p><p>Mà tịnh tu phạm hạnh</p><p>Cúng dường đấng tối thượng</p><p>Nhị túc tôn xong rồi</p><p>Tu tập trọn tất cả</p><p>Trí huệ bậc vô thượng</p><p>Ở nơi thân rốt sau</p><p>Được chứng thành làm Phật</p><p>Cõi đó rất thanh tịnh</p><p>Chất lưu ly làm đất</p><p>Nhiều thứ cây bằng báu</p><p>Thẳng hàng ở bên đường</p><p>Dây vàng giăng ngăn đường</p><p>Người ngó thấy vui mừng</p><p>Thường thoảng ra hương thơm</p><p>Rải rác thứ hoa đẹp</p><p>Các món báu kỳ diệu</p><p>Dùng để làm trang nghiêm</p><p>Cõi đó đất bằng thẳng</p><p>Không có những gò hầm.</p><p>Các hàng chúng Bồ tát</p><p>Đông không thể xưng kể</p><p>Tâm các vị hòa dịu</p><p>Đến được thần thông lớn</p><p>Phụng trì các kinh điển</p><p>Đại thừa của các Phật.</p><p>Các hàng chúng Thanh văn</p><p>Bậc vô lậu thân rốt sau</p><p>Là con của pháp vương</p><p>Cũng chẳng thể kể hết</p><p>Nhẫn đến dùng thiên nhãn</p><p>Cũng chẳng thể đếm biết.</p><p>Phật đó sẽ sống lâu</p><p>Tuổi mười hai tiểu kiếp</p><p>Chánh pháp trụ lại đời</p><p>Đủ hai mươi tiểu kiếp</p><p>Tượng pháp trụ ở đời</p><p>Cũng hai mươi tiểu kiếp.</p><p>Đức Quang Minh Thế Tôn</p><p>Việc của ngài như thế.</p><p>Lúc bấy giờ, ngài Ma Ha Mục Kiền Liên, ngài Tu Bồ Đề, ngài Ma Ha Ca Chiên Diên,… thảy đều run sợ một lòng chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt không hề tạm rời, liền đồng tiếng nhau nói kệ rằng:</p><p>Thế Tôn rất hùng mãnh</p><p>Mà ban giọng tiếng Phật.</p><p>Nói rõ thâm tâm con</p><p>Được Phật thọ ký cho</p><p>Như dùng cam lộ rưới</p><p>Từ nóng được mát mẻ.</p><p>Như từ nước đói đến</p><p>Bỗng gặp cỗ tiệc vua</p><p>Còn ôm lòng nghi sợ</p><p>Chưa dám tự ăn liền</p><p>Nếu lại được vua bảo</p><p>Vậy sau mới dám ăn,</p><p>Chúng con cũng như vậy</p><p>Hằng nghĩ lỗi Tiểu thừa</p><p>Chẳng biết làm thế nào</p><p>Được huệ vô thượng Phật,</p><p>Dầu nghe giọng tiếng Phật</p><p>Nói chúng con thành Phật</p><p>Còn ôm lòng lo sợ</p><p>Như chưa dám tự ăn</p><p>Nếu được Phật thọ ký</p><p>Mới là khoái an vui</p><p>Thế Tôn rất hùng mãnh</p><p>Thường muốn an thế gian</p><p>Xin thọ ký chúng con</p><p>Như đói cần bảo ăn.</p><p>Lúc bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn bảo các thầy Tỳ kheo rằng:</p><p>Ông Tu Bồ Đề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm năm muôn ức na do tha Đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu: Danh Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.</p><p>Kiếp đó tên Hữu Bảo, nước đó tên là Bảo Sanh. Cõi đó bằng thẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi, gai chông cùng tiện lợi dơ dáy; hoa báu trải đất khắp nơi sạch sẽ, nhân dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quí đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn đông vô lượng vô biên, tánh kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ Tát đông vô số nghìn muôn ức na do tha.</p><p>Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, Chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, Đức Phật đó thường ở trên hư không vì chúng tôi nói pháp độ thoát đặng vô lượng Bồ tát cùng chúng Thanh văn.</p><p>Khi đó, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Các chúng Tỳ kheo nầy!</p><p>Nay ta bảo các ông</p><p>Đều nên phải một lòng</p><p>Lóng nghe lời ta nói.</p><p>Đệ tử lớn của ta</p><p>Là ông Tu Bồ Đề</p><p>Rồi sẽ được làm Phật</p><p>Hiệu gọi là Danh Tướng</p><p>Sẽ phải cúng vô số</p><p>Muôn ức các Đức Phật</p><p>Theo hạnh của Phật làm</p><p>Lần lần đủ đạo lớn.</p><p>Thân rốt sau sẽ được</p><p>Ba mươi hai tướng tốt</p><p>Xinh lịch đẹp đẽ lắm</p><p>Dường như núi báu lớn</p><p>Cõi nước của Phật đó</p><p>Trang nghiêm sạch thứ nhất</p><p>Chúng sanh nào được thấy</p><p>Không ai chẳng ưa mến</p><p>Phật ở trong cõi đó</p><p>Độ thoát vô lượng chúng.</p><p>Trong Pháp hội của Phật</p><p>Các Bồ tát đông nhiều</p><p>Thảy đều bực lợi căn</p><p>Chuyển pháp luân bất thối.</p><p>Cõi nước đó thường dùng</p><p>Bồ tát để trang nghiêm</p><p>Các chúng Thanh văn lớn</p><p>Chẳng có thể đếm kể</p><p>Đều được ba món minh</p><p>Đủ sáu thứ thần thông</p><p>Trụ tám pháp giải thoát</p><p>Có oai đức rất lớn.</p><p>Đức Phật đó nói pháp</p><p>Hiện ra vô lượng món</p><p>Pháp thần thông biến hóa</p><p>Chẳng thể nghĩ bàn được.</p><p>Các hàng trời, nhân dân</p><p>Số đông như hằng sa</p><p>Đều cùng nhau chấp tay</p><p>Lóng nghe lời Phật dạy.</p><p>Đức Phật đó sẽ thọ</p><p>Tuổi mười hai tiểu kiếp</p><p>Chánh pháp trụ lại đời</p><p>Đủ hai mươi tiểu kiếp</p><p>Tượng pháp trụ ở đời</p><p>Cũng hai mươi tiểu kiếp.</p><p>Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ kheo:</p><p>Ta nay nói với các ông, ông Ma Ha Ca Chiên Diên này ở đời vị lai, dùng các đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính tôn trọng. Sau khi các Đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do tuần, ngang rộng ngay bằng năm trăm do tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, trân châu và mai khôi hợp lại thành, cúng dường tháp miếu bằng các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan….</p><p>Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai mươi muôn ức Phật cũng như trước, cúng dường các Đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ tát sẽ được làm Phật hiệu: Diêm Phù Na Đề Kim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.</p><p>Cõi đó bằng thẳng, đất bằng pha lê, vàng ròng làm bằng dây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đều vui mừng, không có bốn đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la. Các trời cùng người rất đông, các chúng Thanh văn và Bồ tát vô lượng muôn ức trang nghiêm nước đó. Đức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, Chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp.</p><p>Lúc đó, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:</p><p>Các chúng Tỳ kheo này!</p><p>Đều nên một lòng nghe</p><p>Như lời của ta nói</p><p>Chơn thật không khác lạ.</p><p>Ông Ca Chiên Diên này</p><p>Sau sẽ dùng các món</p><p>Đồ cúng dường tốt đẹp</p><p>Mà cúng dường các Phật</p><p>Các Đức Phật diệt rồi</p><p>Dựng tháp bằng bảy báu</p><p>Tháp vàng rất cao rộng</p><p>Dùng hoa hương kỹ nhạc</p><p>Để dùng dâng cúng dường</p><p>Tháp miếu các Đức Phật.</p><p>Lần lần được đầy đủ</p><p>Đạo hạnh Bồ tát rồi</p><p>Ở nơi nước Ý Lạc</p><p>Mà được thành quả Phật</p><p>Hiệu là Đa Ma La</p><p>Bạt Chiên Đàn Hương Phật.</p><p>Đức Phật đó thọ mạng</p><p>Hai mươi bốn tiểu kiếp</p><p>Thường vì hàng trời người</p><p>Mà diễn nói đạo Phật</p><p>Chúng Thanh văn vô lượng</p><p>Như số cát sông Hằng</p><p>Đủ ba minh, sáu thông</p><p>Đều có oai đức lớn.</p><p>Bồ tát vô số</p><p>Trụ thần thông lực</p><p>Giáo hóa chúng sanh</p><p>Vô lượng trăm nghìn</p><p>Cõi nước trang nghiêm</p><p>Không có ba đường dữ</p><p>Dù có tên mà thôi</p><p>Đức Phật đó thọ mạng</p><p>Hai mươi bốn tiểu kiếp</p><p>Chánh pháp trụ ở đời</p><p>Bốn mươi tiểu kiếp</p><p>Tượng pháp trụ ở đời</p><p>Cũng bốn mươi tiểu kiếp</p><p>Đệ tử ta Mục Kiền</p><p>Đầy đủ đức như thế</p><p>Độ vô lượng chúng sanh</p><p>Đều khiến hướng Phật đạo</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Thọ Ký Thứ Sáu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế nầy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông Ma Ha Ca Diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các Đức Thế Tôn, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các Đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại Trang Nghiêm, Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồ tiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng thẳng không có cao thấp hầm hố gò nổng, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng giăng bên đường, rải các hoa báu khắp nơi sạch sẽ. Bồ tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh văn cũng lại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phật pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo các Tỳ kheo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta dùng mắt của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy ông Ca Diếp nầy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở nơi đời vị lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quá vô số kiếp sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được thành quả Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà ở đời vị lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường và kính thờ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ ba trăm muôn ức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Đức Phật Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì cầu trí huệ Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà tịnh tu phạm hạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường đấng tối thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhị túc tôn xong rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu tập trọn tất cả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ bậc vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở nơi thân rốt sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được chứng thành làm Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi đó rất thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chất lưu ly làm đất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều thứ cây bằng báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thẳng hàng ở bên đường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dây vàng giăng ngăn đường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngó thấy vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường thoảng ra hương thơm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rải rác thứ hoa đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các món báu kỳ diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng để làm trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi đó đất bằng thẳng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có những gò hầm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các hàng chúng Bồ tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đông không thể xưng kể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm các vị hòa dịu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến được thần thông lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phụng trì các kinh điển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại thừa của các Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các hàng chúng Thanh văn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bậc vô lậu thân rốt sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là con của pháp vương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng thể kể hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn đến dùng thiên nhãn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chẳng thể đếm biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đó sẽ sống lâu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tuổi mười hai tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp trụ lại đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ hai mươi tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tượng pháp trụ ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng hai mươi tiểu kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Quang Minh Thế Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc của ngài như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, ngài Ma Ha Mục Kiền Liên, ngài Tu Bồ Đề, ngài Ma Ha Ca Chiên Diên,… thảy đều run sợ một lòng chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của Phật, mắt không hề tạm rời, liền đồng tiếng nhau nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn rất hùng mãnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà ban giọng tiếng Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói rõ thâm tâm con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được Phật thọ ký cho&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như dùng cam lộ rưới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ nóng được mát mẻ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như từ nước đói đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỗng gặp cỗ tiệc vua&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn ôm lòng nghi sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa dám tự ăn liền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lại được vua bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy sau mới dám ăn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con cũng như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hằng nghĩ lỗi Tiểu thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng biết làm thế nào&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được huệ vô thượng Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dầu nghe giọng tiếng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chúng con thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn ôm lòng lo sợ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như chưa dám tự ăn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu được Phật thọ ký&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới là khoái an vui&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn rất hùng mãnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường muốn an thế gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin thọ ký chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như đói cần bảo ăn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn bảo các thầy Tỳ kheo rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông Tu Bồ Đề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm năm muôn ức na do tha Đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu: Danh Tướng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp đó tên Hữu Bảo, nước đó tên là Bảo Sanh. Cõi đó bằng thẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi, gai chông cùng tiện lợi dơ dáy; hoa báu trải đất khắp nơi sạch sẽ, nhân dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quí đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn đông vô lượng vô biên, tánh kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ Tát đông vô số nghìn muôn ức na do tha.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, Chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, Đức Phật đó thường ở trên hư không vì chúng tôi nói pháp độ thoát đặng vô lượng Bồ tát cùng chúng Thanh văn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi đó, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng Tỳ kheo nầy!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta bảo các ông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều nên phải một lòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lóng nghe lời ta nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đệ tử lớn của ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là ông Tu Bồ Đề&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi sẽ được làm Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiệu gọi là Danh Tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ phải cúng vô số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muôn ức các Đức Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo hạnh của Phật làm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần lần đủ đạo lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân rốt sau sẽ được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba mươi hai tướng tốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xinh lịch đẹp đẽ lắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dường như núi báu lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước của Phật đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trang nghiêm sạch thứ nhất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh nào được thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai chẳng ưa mến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật ở trong cõi đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ thoát vô lượng chúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong Pháp hội của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Bồ tát đông nhiều&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảy đều bực lợi căn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyển pháp luân bất thối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước đó thường dùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ tát để trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng Thanh văn lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng có thể đếm kể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều được ba món minh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ sáu thứ thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trụ tám pháp giải thoát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có oai đức rất lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật đó nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện ra vô lượng món&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp thần thông biến hóa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng thể nghĩ bàn được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các hàng trời, nhân dân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông như hằng sa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều cùng nhau chấp tay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lóng nghe lời Phật dạy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật đó sẽ thọ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tuổi mười hai tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp trụ lại đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ hai mươi tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tượng pháp trụ ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng hai mươi tiểu kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ kheo:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nay nói với các ông, ông Ma Ha Ca Chiên Diên này ở đời vị lai, dùng các đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính tôn trọng. Sau khi các Đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do tuần, ngang rộng ngay bằng năm trăm do tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, trân châu và mai khôi hợp lại thành, cúng dường tháp miếu bằng các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương xoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu, tràng phan….&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai mươi muôn ức Phật cũng như trước, cúng dường các Đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ tát sẽ được làm Phật hiệu: Diêm Phù Na Đề Kim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi đó bằng thẳng, đất bằng pha lê, vàng ròng làm bằng dây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đều vui mừng, không có bốn đường dữ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và A tu la. Các trời cùng người rất đông, các chúng Thanh văn và Bồ tát vô lượng muôn ức trang nghiêm nước đó. Đức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, Chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc đó, Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng Tỳ kheo này!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều nên một lòng nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như lời của ta nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chơn thật không khác lạ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông Ca Chiên Diên này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau sẽ dùng các món&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồ cúng dường tốt đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà cúng dường các Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các Đức Phật diệt rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dựng tháp bằng bảy báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tháp vàng rất cao rộng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng hoa hương kỹ nhạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để dùng dâng cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tháp miếu các Đức Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lần lần được đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạo hạnh Bồ tát rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở nơi nước Ý Lạc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà được thành quả Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiệu là Đa Ma La&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạt Chiên Đàn Hương Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật đó thọ mạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai mươi bốn tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường vì hàng trời người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà diễn nói đạo Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng Thanh văn vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như số cát sông Hằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ ba minh, sáu thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều có oai đức lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ tát vô số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trụ thần thông lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giáo hóa chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng trăm nghìn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có ba đường dữ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù có tên mà thôi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật đó thọ mạng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hai mươi bốn tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp trụ ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn mươi tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tượng pháp trụ ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng bốn mươi tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đệ tử ta Mục Kiền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ đức như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ vô lượng chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều khiến hướng Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="10805498" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/15c2b57f-c141-4c16-bff5-a4806edba19a/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">0a3b6132-41d5-4f45-9edb-ceac47ca724f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/15c2b57f-c141-4c16-bff5-a4806edba19a</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:24:50 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/5b2d3ecb-b848-4687-ad70-2a7c6c8cff66_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>675</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 5</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 5</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Dược Thảo Dụ Thứ Năm</p><p>Lúc ấy, ngài Ma Ha Ca Diếp và các vị đại đệ tử, được Phật thọ ký, vui mừng hớn hở, từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng:</p><p>&#34;Thế Tôn! Chúng con là hàng Thanh Văn, tuổi cao lớn, tự cho đã được Niết Bàn không còn chi nữa, nên chẳng hướng cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế Tôn từ xưa nói pháp đã lâu, lúc ngồi đây thân mỏi mệt, chỉ quán các pháp không, vô tướng, vô tác, chẳng dậy nổi lòng vui vẻ. Vì sao? Thế Tôn trước khiến chúng con ra khỏi tam giới được chứng Niết Bàn, nay tuổi đã già, đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật dạy các Bồ Tát, chẳng sanh lòng ưa thích. Chúng con nay ở trước Phật nghe cho các Thanh Văn thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Chúng con bất chợt mong, bỗng được tai nghe pháp quí báu này.</p><p>Thế Tôn! Chúng con nay xin nói thí dụ để rõ nghĩa đó. Giả sử có người đến nơi bạn tốt, say rượu nằm ngủ. Bấy giờ bạn tốt có việc quan phải đi, lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo người say làm món tặng rồi mới đi. Người say nằm đó không hay biết chi hết. Tỉnh dậy đi lang thang đến nước khác, vì cơm áo phải tìm kiếm nhọc nhằn, rất khó khăn mới được chút ít. Nếu có được thì lòng rất vui mừng. Tình cờ gặp lại bạn cũ, bạn nói: Ông kia sao mà khổ sở vì cơm áo như vậy. Ta xưa muốn cho ông được an vui, tự do dùng của, ngày nọ tháng nọ lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo ông, nay vẫn còn đó mà ông chẳng hay, lại nhọc nhằn tìm kiếm khổ sở như vậy, rất là dại. Ông nay có thể đem ngọc đổi chác, thường được như ý, không thiếu thốn nữa.</p><p>Phật cũng vậy, khi làm Bồ Tát dạy chúng con phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà chúng con liền quên, chẳng hay chẳng biết. Được đạo A La Hán tự cho đã diệt độ, nhọc nhằn tự cấp rất khó, chỉ được chút ít. Nhưng chí nguyện Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vẫn chưa mất hẳn. Nay Thế Tôn khiến chúng con tỉnh ngộ mà nói rằng: Các Tỳ Kheo! Pháp các ông được chẳng phải rốt ráo. Ta từ lâu khiến các ông trồng căn lành Phật, dùng phương tiện hiện bày tướng Niết Bàn, mà các ông tự cho thật là diệt độ.</p><p>Thế Tôn! Chúng con nay mới biết thật là Bồ Tát, được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có.&#34;</p><p>Lúc ấy Đại Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Chúng con hôm nay đây</p><p>Nghe tiếng Phật dạy bảo</p><p>Vui mừng nhảy nhót mừng</p><p>Được điều chưa từng có</p><p>Phật nói Thanh Văn chúng</p><p>Sẽ được thành Phật quả</p><p>Vô thượng báu không cầu</p><p>Mà tự nhiên được đến.</p><p>Chúng con được nghe pháp</p><p>Vô lậu bậc nhất ấy</p><p>Vui mừng không xiết kể</p><p>Ví như người trẻ nhỏ</p><p>Không hiểu biết gì hết</p><p>Từ cha mẹ được ngọc</p><p>Quí báu vô giá trị</p><p>Nhưng chẳng hay biết gì</p><p>Người ấy lớn lên rồi</p><p>Đi chơi khắp bốn phương</p><p>Xa cách cha mẹ ruột</p><p>Lang thang các nước khác</p><p>Ăn xin tự nuôi sống</p><p>Khó được như ý mình</p><p>Mất ngọc trong vạt áo</p><p>Lang thang khắp nơi nơi</p><p>May gặp lại cha ruột</p><p>Cha nay giàu lớn lắm</p><p>Của cải rất vô lượng</p><p>Các thứ ngũ dục tài</p><p>Kho đều chứa đầy dẫy</p><p>Con nay nghèo khổ sở</p><p>Lang thang khắp nơi chốn</p><p>Cha liền biết con lòng</p><p>Muốn khiến con giàu có</p><p>Liền dùng các phương tiện</p><p>Khiến con gần gũi mình</p><p>Sau bảo các con rằng</p><p>Đây là con ta thật</p><p>Bất chợt trở về đây</p><p>Của cải trong kho ta</p><p>Tùy ý con xuất nhập</p><p>Con nhớ nghèo khổ xưa</p><p>Chí thấp kém chưa từng</p><p>Nay được của cha để</p><p>Lòng rất đổi vui mừng</p><p>Phật thường thương chúng con</p><p>Nói chúng con vô tội</p><p>Ở trong các tội lỗi</p><p>Tu tập căn lành nhỏ</p><p>Phật biết chúng con lòng</p><p>Chí nguyện thấp kém kia</p><p>Chưa từng nói với chúng</p><p>Con sẽ được thành Phật</p><p>Nói chúng con được hết</p><p>Vô lậu diệt độ rồi</p><p>Từ Phật miệng sanh ra</p><p>Từ pháp hóa sanh ra</p><p>Được phần pháp của Phật</p><p>Chúng con tuy nói Niết Bàn</p><p>Nhưng chẳng mong cầu đó</p><p>Tự cho đã đầy đủ</p><p>Như người dại kia vậy</p><p>Vì thế trải ngày dài</p><p>Chẳng hướng cầu Đại thừa</p><p>Chúng con vì Tỳ Kheo</p><p>Nói đạo Vô thượng đó</p><p>Các ông được nghe pháp</p><p>Tùy thuận dạy người khác</p><p>Các ông ở trong đó</p><p>Dần dần vào Phật đạo</p><p>Như cha thương các con</p><p>Dùng phương tiện nhỏ kia</p><p>Dẫn dắt lòng chúng con</p><p>Khiến được quả Phật lớn</p><p>Chúng con tuy tin Phật</p><p>Theo Phật pháp mà tu</p><p>Nhưng chẳng hay biết chi</p><p>Đối với đạo chí thượng</p><p>Phật mở bày khiến ngộ</p><p>Vì chúng con nói thí dụ</p><p>Để rõ nghĩa ấy vậy</p><p>Như người nghèo đến bạn</p><p>Bạn buộc ngọc trong áo</p><p>Rồi đi nước khác xa</p><p>Người nghèo lang thang xin</p><p>Khổ sở tự nuôi sống</p><p>Được ít tự cho đủ</p><p>Chẳng cầu vật tốt hơn</p><p>Chẳng hay ngọc trong áo</p><p>Bạn thấy bảo rằng: Dại</p><p>Ngọc vô giá ta buộc</p><p>Trong áo ông vẫn còn</p><p>Nay ông nghèo khổ sở</p><p>Dại nên mới như vậy</p><p>Ông đem ngọc ấy đổi</p><p>Mua sắm vật cần dùng</p><p>Thường được như ý muốn</p><p>Không thiếu thốn chi hết</p><p>Phật cũng lại như vậy</p><p>Làm Bồ Tát thuở xưa</p><p>Dạy chúng con phát tâm</p><p>Vô thượng Chánh đẳng giác</p><p>Chúng con liền quên mất</p><p>Chẳng hay chẳng biết chi</p><p>Được A La Hán quả</p><p>Tự cho đã đầy đủ</p><p>Vẫn còn tâm Đại thừa</p><p>Chưa từng dứt hết hẳn</p><p>Phật khiến chúng con tỉnh</p><p>Niết Bàn như ngày nghỉ</p><p>Sau sẽ được Phật trí</p><p>Chúng con hôm nay được</p><p>Làm con Phật chân thật</p><p>Nghe pháp thọ ký ấy</p><p>Lòng rất đổi vui mừng.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Dược Thảo Dụ Thứ Năm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy, ngài Ma Ha Ca Diếp và các vị đại đệ tử, được Phật thọ ký, vui mừng hớn hở, từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật, đầu mặt lạy chân Phật, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&amp;#34;Thế Tôn! Chúng con là hàng Thanh Văn, tuổi cao lớn, tự cho đã được Niết Bàn không còn chi nữa, nên chẳng hướng cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế Tôn từ xưa nói pháp đã lâu, lúc ngồi đây thân mỏi mệt, chỉ quán các pháp không, vô tướng, vô tác, chẳng dậy nổi lòng vui vẻ. Vì sao? Thế Tôn trước khiến chúng con ra khỏi tam giới được chứng Niết Bàn, nay tuổi đã già, đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật dạy các Bồ Tát, chẳng sanh lòng ưa thích. Chúng con nay ở trước Phật nghe cho các Thanh Văn thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Chúng con bất chợt mong, bỗng được tai nghe pháp quí báu này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Chúng con nay xin nói thí dụ để rõ nghĩa đó. Giả sử có người đến nơi bạn tốt, say rượu nằm ngủ. Bấy giờ bạn tốt có việc quan phải đi, lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo người say làm món tặng rồi mới đi. Người say nằm đó không hay biết chi hết. Tỉnh dậy đi lang thang đến nước khác, vì cơm áo phải tìm kiếm nhọc nhằn, rất khó khăn mới được chút ít. Nếu có được thì lòng rất vui mừng. Tình cờ gặp lại bạn cũ, bạn nói: Ông kia sao mà khổ sở vì cơm áo như vậy. Ta xưa muốn cho ông được an vui, tự do dùng của, ngày nọ tháng nọ lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo ông, nay vẫn còn đó mà ông chẳng hay, lại nhọc nhằn tìm kiếm khổ sở như vậy, rất là dại. Ông nay có thể đem ngọc đổi chác, thường được như ý, không thiếu thốn nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật cũng vậy, khi làm Bồ Tát dạy chúng con phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà chúng con liền quên, chẳng hay chẳng biết. Được đạo A La Hán tự cho đã diệt độ, nhọc nhằn tự cấp rất khó, chỉ được chút ít. Nhưng chí nguyện Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vẫn chưa mất hẳn. Nay Thế Tôn khiến chúng con tỉnh ngộ mà nói rằng: Các Tỳ Kheo! Pháp các ông được chẳng phải rốt ráo. Ta từ lâu khiến các ông trồng căn lành Phật, dùng phương tiện hiện bày tướng Niết Bàn, mà các ông tự cho thật là diệt độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn! Chúng con nay mới biết thật là Bồ Tát, được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có.&amp;#34;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy Đại Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con hôm nay đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe tiếng Phật dạy bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng nhảy nhót mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được điều chưa từng có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói Thanh Văn chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được thành Phật quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô thượng báu không cầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà tự nhiên được đến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con được nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu bậc nhất ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng không xiết kể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như người trẻ nhỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hiểu biết gì hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ cha mẹ được ngọc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quí báu vô giá trị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chẳng hay biết gì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy lớn lên rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đi chơi khắp bốn phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa cách cha mẹ ruột&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lang thang các nước khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn xin tự nuôi sống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó được như ý mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mất ngọc trong vạt áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lang thang khắp nơi nơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;May gặp lại cha ruột&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha nay giàu lớn lắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của cải rất vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ ngũ dục tài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kho đều chứa đầy dẫy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nay nghèo khổ sở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lang thang khắp nơi chốn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha liền biết con lòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn khiến con giàu có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền dùng các phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến con gần gũi mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau bảo các con rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây là con ta thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất chợt trở về đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của cải trong kho ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy ý con xuất nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nhớ nghèo khổ xưa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí thấp kém chưa từng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay được của cha để&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất đổi vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật thường thương chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chúng con vô tội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong các tội lỗi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu tập căn lành nhỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật biết chúng con lòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí nguyện thấp kém kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa từng nói với chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con sẽ được thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chúng con được hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu diệt độ rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ Phật miệng sanh ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ pháp hóa sanh ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được phần pháp của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con tuy nói Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chẳng mong cầu đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người dại kia vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì thế trải ngày dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hướng cầu Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con vì Tỳ Kheo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói đạo Vô thượng đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông được nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy thuận dạy người khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông ở trong đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dần dần vào Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như cha thương các con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng phương tiện nhỏ kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn dắt lòng chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến được quả Phật lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con tuy tin Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo Phật pháp mà tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chẳng hay biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đối với đạo chí thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mở bày khiến ngộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì chúng con nói thí dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để rõ nghĩa ấy vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người nghèo đến bạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn buộc ngọc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi đi nước khác xa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nghèo lang thang xin&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khổ sở tự nuôi sống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được ít tự cho đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng cầu vật tốt hơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay ngọc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn thấy bảo rằng: Dại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngọc vô giá ta buộc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong áo ông vẫn còn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ông nghèo khổ sở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dại nên mới như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông đem ngọc ấy đổi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mua sắm vật cần dùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường được như ý muốn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thiếu thốn chi hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật cũng lại như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm Bồ Tát thuở xưa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạy chúng con phát tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô thượng Chánh đẳng giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con liền quên mất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay chẳng biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được A La Hán quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn còn tâm Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa từng dứt hết hẳn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật khiến chúng con tỉnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết Bàn như ngày nghỉ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau sẽ được Phật trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con hôm nay được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm con Phật chân thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp thọ ký ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất đổi vui mừng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="7434657" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/82d56309-da09-480c-92de-592980aed261/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">2622bfb4-adc8-4387-bf03-7631a2057098</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/82d56309-da09-480c-92de-592980aed261</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:21:41 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/5fac60b4-572a-4d7a-89bd-0604c4d9d5b4_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>464</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 4</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 4</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Tín Giải Thứ Tư</p><p>Lúc bấy giờ, các vị Trưởng lão Tu Bồ Đề, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Mục Kiền Liên, nghe Phật nói pháp chưa từng nghe, đều được Phật thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật sửa y phục, trệch vai bên phải, gối phải quỳ sát đất, một lòng chắp tay, cúi mình cung kính, nhìn Phật mà bạch rằng:</p><p>“Thế Tôn! Chúng con ở đầu chúng Tăng, tuổi cao lớn cả, tự cho đã được Niết Bàn không còn chi nữa, nên chẳng hướng cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế Tôn từ xưa nói pháp đã lâu, lúc ngồi đây thân mỏi mệt, chỉ quán các pháp không, vô tướng, vô tác, chẳng dậy nổi lòng vui vẻ. Vì sao? Thế Tôn trước khiến chúng con ra khỏi tam giới được chứng Niết Bàn, nay tuổi đã già, đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật dạy các Bồ Tát, chẳng sanh lòng ưa thích. Chúng con nay ở trước Phật nghe cho các Thanh Văn thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Chúng con bất chợt mong, bỗng được tai nghe pháp quí báu này.</p><p>“Thế Tôn! Chúng con nay xin nói thí dụ để rõ nghĩa đó. Giả sử có người đến nơi bạn tốt, say rượu nằm ngủ. Bấy giờ bạn tốt có việc quan phải đi, lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo người say làm món tặng rồi mới đi. Người say nằm đó không hay biết chi hết. Tỉnh dậy đi lang thang đến nước khác, vì cơm áo phải tìm kiếm nhọc nhằn, rất khó khăn mới được chút ít. Nếu có được thì lòng rất vui mừng. Tình cờ gặp lại bạn cũ, bạn nói: Ông kia sao mà khổ sở vì cơm áo như vậy. Ta xưa muốn cho ông được an vui, tự do dùng của, ngày nọ tháng nọ lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo ông, nay vẫn còn đó mà ông chẳng hay, lại nhọc nhằn tìm kiếm khổ sở như vậy, rất là dại. Ông nay có thể đem ngọc đổi chác, thường được như ý, không thiếu thốn nữa.</p><p>“Phật cũng vậy, khi làm Bồ Tát dạy chúng con phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà chúng con liền quên, chẳng hay chẳng biết. Được đạo A La Hán tự cho đã diệt độ, nhọc nhằn tự cấp rất khó, chỉ được chút ít. Nhưng chí nguyện Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vẫn chưa mất hẳn. Nay Thế Tôn khiến chúng con tỉnh ngộ mà nói rằng: Các Tỳ Kheo! Pháp các ông được chẳng phải rốt ráo. Ta từ lâu khiến các ông trồng căn lành Phật, dùng phương tiện hiện bày tướng Niết Bàn, mà các ông tự cho thật là diệt độ.</p><p>“Thế Tôn! Chúng con nay mới biết thật là Bồ Tát, được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có.”</p><p>Lúc ấy Đại Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Chúng con hôm nay đây</p><p>Nghe tiếng Phật dạy bảo</p><p>Vui mừng nhảy nhót mừng</p><p>Được điều chưa từng có</p><p>Phật nói Thanh Văn chúng</p><p>Sẽ được thành Phật quả</p><p>Vô thượng báu không cầu</p><p>Mà tự nhiên được đến.</p><p>Chúng con được nghe pháp</p><p>Vô lậu bậc nhất ấy</p><p>Vui mừng không xiết kể</p><p>Ví như người trẻ nhỏ</p><p>Không hiểu biết gì hết</p><p>Từ cha mẹ được ngọc</p><p>Quí báu vô giá trị</p><p>Nhưng chẳng hay biết gì</p><p>Người ấy lớn lên rồi</p><p>Đi chơi khắp bốn phương</p><p>Xa cách cha mẹ ruột</p><p>Lang thang các nước khác</p><p>Ăn xin tự nuôi sống</p><p>Khó được như ý mình</p><p>Mất ngọc trong vạt áo</p><p>Lang thang khắp nơi nơi</p><p>May gặp lại cha ruột</p><p>Cha nay giàu lớn lắm</p><p>Của cải rất vô lượng</p><p>Các thứ ngũ dục tài</p><p>Kho đều chứa đầy dẫy</p><p>Con nay nghèo khổ sở</p><p>Lang thang khắp nơi chốn</p><p>Cha liền biết con lòng</p><p>Muốn khiến con giàu có</p><p>Liền dùng các phương tiện</p><p>Khiến con gần gũi mình</p><p>Sau bảo các con rằng</p><p>Đây là con ta thật</p><p>Bất chợt trở về đây</p><p>Của cải trong kho ta</p><p>Tùy ý con xuất nhập</p><p>Con nhớ nghèo khổ xưa</p><p>Chí thấp kém chưa từng</p><p>Nay được của cha để</p><p>Lòng rất đổi vui mừng</p><p>Phật thường thương chúng con</p><p>Nói chúng con vô tội</p><p>Ở trong các tội lỗi</p><p>Tu tập căn lành nhỏ</p><p>Phật biết chúng con lòng</p><p>Chí nguyện thấp kém kia</p><p>Chưa từng nói với chúng</p><p>Con sẽ được thành Phật</p><p>Nói chúng con được hết</p><p>Vô lậu diệt độ rồi</p><p>Từ Phật miệng sanh ra</p><p>Từ pháp hóa sanh ra</p><p>Được phần pháp của Phật</p><p>Chúng con tuy nói Niết Bàn</p><p>Nhưng chẳng mong cầu đó</p><p>Tự cho đã đầy đủ</p><p>Như người dại kia vậy</p><p>Vì thế trải ngày dài</p><p>Chẳng hướng cầu Đại thừa</p><p>Chúng con vì Tỳ Kheo</p><p>Nói đạo Vô thượng đó</p><p>Các ông được nghe pháp</p><p>Tùy thuận dạy người khác</p><p>Các ông ở trong đó</p><p>Dần dần vào Phật đạo</p><p>Như cha thương các con</p><p>Dùng phương tiện nhỏ kia</p><p>Dẫn dắt lòng chúng con</p><p>Khiến được quả Phật lớn</p><p>Chúng con tuy tin Phật</p><p>Theo Phật pháp mà tu</p><p>Nhưng chẳng hay biết chi</p><p>Đối với đạo chí thượng</p><p>Phật mở bày khiến ngộ</p><p>Vì chúng con nói thí dụ</p><p>Để rõ nghĩa ấy vậy</p><p>Như người nghèo đến bạn</p><p>Bạn buộc ngọc trong áo</p><p>Rồi đi nước khác xa</p><p>Người nghèo lang thang xin</p><p>Khổ sở tự nuôi sống</p><p>Được ít tự cho đủ</p><p>Chẳng cầu vật tốt hơn</p><p>Chẳng hay ngọc trong áo</p><p>Bạn thấy bảo rằng: Dại</p><p>Ngọc vô giá ta buộc</p><p>Trong áo ông vẫn còn</p><p>Nay ông nghèo khổ sở</p><p>Dại nên mới như vậy</p><p>Ông đem ngọc ấy đổi</p><p>Mua sắm vật cần dùng</p><p>Thường được như ý muốn</p><p>Không thiếu thốn chi hết</p><p>Phật cũng lại như vậy</p><p>Làm Bồ Tát thuở xưa</p><p>Dạy chúng con phát tâm</p><p>Vô thượng Chánh đẳng giác</p><p>Chúng con liền quên mất</p><p>Chẳng hay chẳng biết chi</p><p>Được A La Hán đạo</p><p>Tự cho đã diệt độ</p><p>Nghèo khó tự cấp dưỡng</p><p>Việc đó còn tự cho đủ</p><p>Chí nguyện chúng con nhỏ</p><p>Vẫn chưa từng hết hẳn</p><p>Nay Phật khiến tỉnh ngộ</p><p>Niết Bàn chẳng phải thật</p><p>Đến nay mới được nghe</p><p>Thọ ký Vô thượng giác</p><p>Chúng con được pháp ấy</p><p>Lòng rất đổi vui mừng</p><p>Như được ngọc vô giá</p><p>Bất chợt mong mà được</p><p>Chúng con nay mới hay</p><p>Thật là con của Phật</p><p>Phật nói chúng con đây</p><p>Sẽ được thành Phật quả</p><p>Mang ngọc pháp vô giá</p><p>Mà trước chẳng hay biết</p><p>Như người say rượu nằm</p><p>Bạn buộc ngọc trong áo</p><p>Du hành các nước khác</p><p>Nhọc nhằn tìm cơm áo</p><p>Rất khó được chút ít</p><p>Tự cho đã đầy đủ</p><p>Chẳng cầu hơn nữa chi</p><p>Chẳng hay ngọc trong áo</p><p>Bạn thấy bảo rằng: Ông</p><p>Ngọc ta buộc trong áo</p><p>Nay vẫn còn nguyên đó</p><p>Nay ông say tỉnh rồi</p><p>Hay biết có ngọc báu</p><p>Dùng đổi lấy của cần</p><p>Tùy ý ông sử dụng</p><p>Như người kia tỉnh ngộ</p><p>Hay biết ngọc vô giá</p><p>Phật cũng lại như vậy</p><p>Thấy chúng con nghèo khổ</p><p>Dùng Tiểu thừa trị lành</p><p>Dạy phát tâm Đại thừa</p><p>Như bạn thương người say</p><p>Buộc ngọc rồi mới đi</p><p>Phật cũng lại như vậy</p><p>Hiện thân làm Bồ Tát</p><p>Trải vô lượng kiếp số</p><p>Thương xót chúng dối si</p><p>Dùng phương tiện quyền xảo</p><p>Dẫn dắt chúng con đây</p><p>Khiến phát tâm Đại thừa</p><p>Nhưng chúng con quên mất</p><p>Chẳng hay chẳng biết chi</p><p>Được chút Tiểu Niết Bàn</p><p>Tự cho đã đầy đủ</p><p>Chẳng cầu Vô thượng đạo</p><p>Vào cửa trí huệ Phật</p><p>Thấy rõ pháp thật tướng</p><p>Nhờ Phật lực dẫn dắt</p><p>Chúng con được ngọc báu</p><p>Thọ ký bậc nhất ấy</p><p>Như được ngọc vô giá</p><p>Bất chợt mong mà được</p><p>Chúng con hôm nay đây</p><p>Được Phật pháp bảo tàng</p><p>Như người nghèo được ngọc</p><p>Bất chợt mong mà được</p><p>Phật mở bày cho chúng</p><p>Vô thượng trí huệ báu</p><p>Chúng con hôm nay được</p><p>Điều chưa từng có vậy</p><p>Chưa từng mong Phật quả</p><p>Nay tự nhiên được đến</p><p>Như người nghèo lang thang</p><p>Đến nhà bạn thân thiết</p><p>Bạn lấy ngọc vô giá</p><p>Buộc trong vạt áo kia</p><p>Cho rồi đi nước khác</p><p>Người nghèo say nằm ngủ</p><p>Chẳng hay chẳng biết chi</p><p>Tỉnh dậy lang thang xin</p><p>Du hành các nước khác</p><p>Cầu thực nhọc nhằn khổ</p><p>Được thì lòng vui mừng</p><p>Tình cờ gặp bạn cũ</p><p>Bạn nói: Ông dại kia</p><p>Sao lại khổ sở vậy</p><p>Ta xưa vì ông đây</p><p>Muốn ông được giàu sang</p><p>An vui tự tại dùng</p><p>Buộc ngọc trong áo ông</p><p>Nay vẫn còn nguyên đó</p><p>Ông chẳng hay biết chi</p><p>Nhọc nhằn cầu tự sống</p><p>Rất dại chẳng biết ngọc</p><p>Ông nay đem ngọc ấy</p><p>Đổi chác lấy của cần</p><p>Gia nghiệp được giàu lớn</p><p>Tùy ý ông sử dụng</p><p>Phật cũng lại như vậy</p><p>Thuở xưa dạy chúng con</p><p>Khiến phát tâm Đại thừa</p><p>Chúng con liền quên mất</p><p>Chẳng hay chẳng biết chi</p><p>Được A La Hán quả</p><p>Tự cho đã đầy đủ</p><p>Vẫn còn tâm Đại thừa</p><p>Chưa từng dứt hết hẳn</p><p>Phật khiến chúng con tỉnh</p><p>Niết Bàn như ngày nghỉ</p><p>Sau sẽ được Phật trí</p><p>Chúng con hôm nay được</p><p>Làm con Phật chân thật</p><p>Nghe pháp thọ ký ấy</p><p>Lòng rất đổi vui mừng.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Tín Giải Thứ Tư&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, các vị Trưởng lão Tu Bồ Đề, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Mục Kiền Liên, nghe Phật nói pháp chưa từng nghe, đều được Phật thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật sửa y phục, trệch vai bên phải, gối phải quỳ sát đất, một lòng chắp tay, cúi mình cung kính, nhìn Phật mà bạch rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thế Tôn! Chúng con ở đầu chúng Tăng, tuổi cao lớn cả, tự cho đã được Niết Bàn không còn chi nữa, nên chẳng hướng cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế Tôn từ xưa nói pháp đã lâu, lúc ngồi đây thân mỏi mệt, chỉ quán các pháp không, vô tướng, vô tác, chẳng dậy nổi lòng vui vẻ. Vì sao? Thế Tôn trước khiến chúng con ra khỏi tam giới được chứng Niết Bàn, nay tuổi đã già, đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà Phật dạy các Bồ Tát, chẳng sanh lòng ưa thích. Chúng con nay ở trước Phật nghe cho các Thanh Văn thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng được điều chưa từng có. Chúng con bất chợt mong, bỗng được tai nghe pháp quí báu này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thế Tôn! Chúng con nay xin nói thí dụ để rõ nghĩa đó. Giả sử có người đến nơi bạn tốt, say rượu nằm ngủ. Bấy giờ bạn tốt có việc quan phải đi, lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo người say làm món tặng rồi mới đi. Người say nằm đó không hay biết chi hết. Tỉnh dậy đi lang thang đến nước khác, vì cơm áo phải tìm kiếm nhọc nhằn, rất khó khăn mới được chút ít. Nếu có được thì lòng rất vui mừng. Tình cờ gặp lại bạn cũ, bạn nói: Ông kia sao mà khổ sở vì cơm áo như vậy. Ta xưa muốn cho ông được an vui, tự do dùng của, ngày nọ tháng nọ lấy ngọc vô giá buộc trong vạt áo ông, nay vẫn còn đó mà ông chẳng hay, lại nhọc nhằn tìm kiếm khổ sở như vậy, rất là dại. Ông nay có thể đem ngọc đổi chác, thường được như ý, không thiếu thốn nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Phật cũng vậy, khi làm Bồ Tát dạy chúng con phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, mà chúng con liền quên, chẳng hay chẳng biết. Được đạo A La Hán tự cho đã diệt độ, nhọc nhằn tự cấp rất khó, chỉ được chút ít. Nhưng chí nguyện Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vẫn chưa mất hẳn. Nay Thế Tôn khiến chúng con tỉnh ngộ mà nói rằng: Các Tỳ Kheo! Pháp các ông được chẳng phải rốt ráo. Ta từ lâu khiến các ông trồng căn lành Phật, dùng phương tiện hiện bày tướng Niết Bàn, mà các ông tự cho thật là diệt độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thế Tôn! Chúng con nay mới biết thật là Bồ Tát, được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vì nhân duyên đó lòng rất vui mừng được điều chưa từng có.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy Đại Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con hôm nay đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe tiếng Phật dạy bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng nhảy nhót mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được điều chưa từng có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói Thanh Văn chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được thành Phật quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô thượng báu không cầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà tự nhiên được đến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con được nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu bậc nhất ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng không xiết kể&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ví như người trẻ nhỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hiểu biết gì hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ cha mẹ được ngọc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quí báu vô giá trị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chẳng hay biết gì&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy lớn lên rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đi chơi khắp bốn phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa cách cha mẹ ruột&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lang thang các nước khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn xin tự nuôi sống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó được như ý mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mất ngọc trong vạt áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lang thang khắp nơi nơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;May gặp lại cha ruột&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha nay giàu lớn lắm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của cải rất vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các thứ ngũ dục tài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kho đều chứa đầy dẫy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nay nghèo khổ sở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lang thang khắp nơi chốn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha liền biết con lòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn khiến con giàu có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền dùng các phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến con gần gũi mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau bảo các con rằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đây là con ta thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất chợt trở về đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của cải trong kho ta&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy ý con xuất nhập&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nhớ nghèo khổ xưa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí thấp kém chưa từng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay được của cha để&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất đổi vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật thường thương chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chúng con vô tội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở trong các tội lỗi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu tập căn lành nhỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật biết chúng con lòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí nguyện thấp kém kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa từng nói với chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con sẽ được thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chúng con được hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu diệt độ rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ Phật miệng sanh ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ pháp hóa sanh ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được phần pháp của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con tuy nói Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chẳng mong cầu đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người dại kia vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì thế trải ngày dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hướng cầu Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con vì Tỳ Kheo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói đạo Vô thượng đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông được nghe pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy thuận dạy người khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các ông ở trong đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dần dần vào Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như cha thương các con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng phương tiện nhỏ kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn dắt lòng chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến được quả Phật lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con tuy tin Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo Phật pháp mà tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chẳng hay biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đối với đạo chí thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mở bày khiến ngộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì chúng con nói thí dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để rõ nghĩa ấy vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người nghèo đến bạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn buộc ngọc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi đi nước khác xa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nghèo lang thang xin&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khổ sở tự nuôi sống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được ít tự cho đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng cầu vật tốt hơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay ngọc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn thấy bảo rằng: Dại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngọc vô giá ta buộc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong áo ông vẫn còn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ông nghèo khổ sở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dại nên mới như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông đem ngọc ấy đổi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mua sắm vật cần dùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường được như ý muốn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thiếu thốn chi hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật cũng lại như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm Bồ Tát thuở xưa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạy chúng con phát tâm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô thượng Chánh đẳng giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con liền quên mất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay chẳng biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được A La Hán đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghèo khó tự cấp dưỡng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc đó còn tự cho đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí nguyện chúng con nhỏ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn chưa từng hết hẳn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay Phật khiến tỉnh ngộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết Bàn chẳng phải thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến nay mới được nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ ký Vô thượng giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con được pháp ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất đổi vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như được ngọc vô giá&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất chợt mong mà được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con nay mới hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thật là con của Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói chúng con đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ được thành Phật quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mang ngọc pháp vô giá&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà trước chẳng hay biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người say rượu nằm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn buộc ngọc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Du hành các nước khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhọc nhằn tìm cơm áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất khó được chút ít&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng cầu hơn nữa chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay ngọc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn thấy bảo rằng: Ông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngọc ta buộc trong áo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay vẫn còn nguyên đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ông say tỉnh rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay biết có ngọc báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng đổi lấy của cần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy ý ông sử dụng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người kia tỉnh ngộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay biết ngọc vô giá&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật cũng lại như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy chúng con nghèo khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng Tiểu thừa trị lành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạy phát tâm Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như bạn thương người say&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Buộc ngọc rồi mới đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật cũng lại như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiện thân làm Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải vô lượng kiếp số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thương xót chúng dối si&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng phương tiện quyền xảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn dắt chúng con đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến phát tâm Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chúng con quên mất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay chẳng biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được chút Tiểu Niết Bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng cầu Vô thượng đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vào cửa trí huệ Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy rõ pháp thật tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhờ Phật lực dẫn dắt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con được ngọc báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ ký bậc nhất ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như được ngọc vô giá&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất chợt mong mà được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con hôm nay đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được Phật pháp bảo tàng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người nghèo được ngọc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bất chợt mong mà được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật mở bày cho chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô thượng trí huệ báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con hôm nay được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Điều chưa từng có vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa từng mong Phật quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay tự nhiên được đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người nghèo lang thang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến nhà bạn thân thiết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn lấy ngọc vô giá&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Buộc trong vạt áo kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho rồi đi nước khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người nghèo say nằm ngủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay chẳng biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỉnh dậy lang thang xin&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Du hành các nước khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu thực nhọc nhằn khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được thì lòng vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tình cờ gặp bạn cũ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạn nói: Ông dại kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao lại khổ sở vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta xưa vì ông đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn ông được giàu sang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An vui tự tại dùng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Buộc ngọc trong áo ông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay vẫn còn nguyên đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông chẳng hay biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhọc nhằn cầu tự sống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất dại chẳng biết ngọc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nay đem ngọc ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đổi chác lấy của cần&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gia nghiệp được giàu lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tùy ý ông sử dụng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật cũng lại như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thuở xưa dạy chúng con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến phát tâm Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con liền quên mất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng hay chẳng biết chi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được A La Hán quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cho đã đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn còn tâm Đại thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa từng dứt hết hẳn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật khiến chúng con tỉnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết Bàn như ngày nghỉ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau sẽ được Phật trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng con hôm nay được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm con Phật chân thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp thọ ký ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất đổi vui mừng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="11144881" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/82d7a35e-765c-4360-92c9-b340ff91045e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">8509a3c0-d927-47ed-8bf9-5640620d9a23</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/82d7a35e-765c-4360-92c9-b340ff91045e</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:19:37 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/ec9d5190-20a5-4d23-911f-c9b972f2805c_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>696</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 3</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 3</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Thí Dụ Thứ Ba</p><p>Lúc bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật chấp tay cung kính mà bạch Phật rằng:</p><p>“Thế Tôn! Con nay theo Thế Tôn nghe pháp âm này, lòng rất vui mừng, được điều chưa từng có. Vì sao? Con từ xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy chư Bồ Tát được thọ ký thành Phật, mà chúng con chẳng được dự việc đó, con rất cảm thương, tự cho là mất vô lượng tri kiến của Như Lai.</p><p>“Thế Tôn! Con thường một mình ở dưới cây rừng trong núi, hoặc ngồi hoặc kinh hành, thường nghĩ rằng: Chúng ta đồng vào pháp tánh, cớ sao Như Lai dùng pháp Tiểu thừa mà cứu độ? Đó là lỗi của chúng con, chẳng phải Thế Tôn có lỗi. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói nhân duyên thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì chắc do nơi Đại thừa mà được độ thoát. Nhưng chúng con chẳng hiểu Phật dùng phương tiện nói pháp, vừa nghe liền tin nhận.</p><p>“Thế Tôn! Con từ xưa đến nay, trọn ngày luôn đêm, thường tự trách mình. Nay từ Thế Tôn được nghe pháp chưa từng có, trước chưa từng nghe, dứt các nghi hối, thân ý thơ thới, rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thật là con Phật, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được phần pháp của Phật.”</p><p>Lúc ấy Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Con nghe tiếng pháp này</p><p>Được điều chưa từng có</p><p>Lòng rất đổi vui mừng</p><p>Lưới nghi đều đã trừ.</p><p>Xưa nay nhờ Phật dạy</p><p>Chẳng mất nơi Đại thừa.</p><p>Tiếng Phật rất ít có</p><p>Hay trừ khổ chúng sanh</p><p>Con đã được lậu tận</p><p>Nghe cũng trừ lo khổ.</p><p>Con ở nơi hang núi</p><p>Hoặc dưới cây rừng</p><p>Hoặc ngồi hoặc kinh hành</p><p>Thường suy nghĩ việc này,</p><p>Thôi ôi! Rất tự trách</p><p>Sao lại tự khi mình</p><p>Chúng ta cũng Phật tử</p><p>Đồng vào pháp vô lậu</p><p>Chẳng được ở vị lai</p><p>Nói pháp vô thượng đạo.</p><p>Sắc vàng ba mươi hai</p><p>Mười lực các giải thoát</p><p>Đồng chung trong một pháp</p><p>Mà chẳng được việc đây</p><p>Tám mươi tướng tốt đẹp</p><p>Mười tám pháp bất cộng</p><p>Các công đức như thế</p><p>Mà ta đều đã mất.</p><p>Lúc con kinh hành riêng</p><p>Thấy Phật ở trong chúng</p><p>Danh đồn khắp mười phương</p><p>Rộng lợi ích chúng sanh</p><p>Tự nghĩ mất lợi này</p><p>Chính con tự khi dối</p><p>Con thường trong ngày đêm</p><p>Hằng suy nghĩ việc đó</p><p>Muốn đem hỏi Thế Tôn?</p><p>Là mất hay không mất?</p><p>Con thường thấy Thế Tôn</p><p>Khen ngợi các Bồ Tát</p><p>Vì thế nên ngày đêm</p><p>Suy lường việc như vậy</p><p>Nay nghe tiếng Phật nói</p><p>Theo cơ nghi dạy pháp</p><p>Vô lậu khó nghĩ bàn</p><p>Khiến chúng đến đạo tràng.</p><p>Con xưa chấp tà kiến</p><p>Làm thầy các Phạm chí</p><p>Thế Tôn rõ tâm con</p><p>Trừ tà nói Niết Bàn.</p><p>Con trừ hết tà kiến</p><p>Được chứng nơi pháp không</p><p>Bấy giờ lòng tự bảo</p><p>Được đến nơi diệt độ</p><p>Mà nay mới tự biết</p><p>Chẳng phải thực diệt độ.</p><p>Nếu lúc được thành Phật</p><p>Đủ ba mươi hai tướng</p><p>Trời người Dạ Xoa chúng</p><p>Rồng thần đều cung kính</p><p>Bấy giờ mới được nói</p><p>Dứt hẳn hết không thừa</p><p>Phật ở trong đại chúng</p><p>Nói con sẽ thành Phật</p><p>Nghe tiếng pháp như vậy</p><p>Lòng nghi hối đã trừ.</p><p>Khi mới nghe Phật nói</p><p>Trong lòng rất sợ nghi</p><p>Phải chăng ma giả Phật</p><p>Não loạn lòng ta ư?</p><p>Phật dùng các món duyên</p><p>Thí dụ khéo nói phô,</p><p>Lòng kia an như biển</p><p>Con nghe lưới nghi dứt.</p><p>Phật nói thuở quá khứ</p><p>Vô lượng Phật diệt độ</p><p>An trụ trong phương tiện</p><p>Cũng đều nói pháp đó.</p><p>Phật hiện tại vị lai</p><p>Số nhiều cũng vô lượng</p><p>Cũng dùng các phương tiện</p><p>Diễn nói pháp như thế.</p><p>Như Thế Tôn ngày nay</p><p>Từ sanh đến xuất gia</p><p>Được đạo chuyển pháp luân</p><p>Cũng dùng phương tiện nói</p><p>Thế Tôn nói đạo thật</p><p>Ba Tuần không nói được</p><p>Vì thế con định biết</p><p>Không phải ma giả Phật</p><p>Con sa vào lưới nghi</p><p>Cho là ma làm ra.</p><p>Nghe tiếng Phật êm dịu</p><p>Sâu xa rất nhiệm mầu</p><p>Nói suốt pháp thanh tịnh</p><p>Tâm con rất vui mừng.</p><p>Nghi hối đã hết hẳn</p><p>An trụ trong thật trí</p><p>Con quyết sẽ thành Phật</p><p>Được trời người cung kính</p><p>Chuyển pháp luân vô thượng</p><p>Giáo hóa các Bồ Tát.</p><p>Bấy giờ Phật bảo Xá Lợi Phất: “Ta nay ở trong đại chúng Trời, Người, Sa Môn, Bà La Môn, v.v... mà nói: Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta.</p><p>Xá Lợi Phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh Văn nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm.</p><p>Xá Lợi Phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp, đầy đủ đạo tu hành của Bồ Tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Nước tên là Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng thanh tịnh đẹp đẽ an ổn giàu vui, trời người đông đảo. Lưu ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có hoa trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh.</p><p>Xá Lợi Phất! Lúc Đức Phật ra đời dầu không phải là đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là Đại Bảo Trang Nghiêm. Vì sao gọi là Đại Bảo Trang Nghiêm? Vì trong cõi đó dùng Bồ Tát làm Đại Bảo vậy. Các Bồ Tát trong số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghị, tính kể hay thí dụ đều không đến được, chẳng phải sức trí huệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có hoa đỡ chân. Các vị Bồ Tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội từ lâu, ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức Phật, tịnh tu phạm hạnh hằng được các Phật khen. Thường tu trí huệ của Phật đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững, bậc Bồ Tát như thế khắp đầy nước đó.</p><p>Xá Lợi Phất! Đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn Bồ Tát mà bảo các Tỳ Kheo: Ông Kiên Mãn Bồ Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, cõi nước của Đức Phật đó cũng lại như đây.</p><p>Xá Lợi Phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ đời ba mươi hai tiểu kiếp.”</p><p>Lúc ấy Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Xá Lợi Phất đời sau</p><p>Thành đấng Phật trí khắp</p><p>Hiệu rằng Phật Hoa Quang</p><p>Sẽ độ vô lượng chúng.</p><p>Cúng dường vô số Phật</p><p>Đầy đủ hạnh Bồ Tát</p><p>Các công đức thập lực</p><p>Chứng được đạo vô thượng</p><p>Quá vô lượng kiếp rồi</p><p>Kiếp tên Đại Bảo Nghiêm</p><p>Cõi nước tên Ly Cấu</p><p>Trong sạch không vết nhơ</p><p>Dùng lưu ly làm đất</p><p>Dây vàng giăng đường sá</p><p>Cây bảy báu sắc đẹp</p><p>Thường có hoa cùng trái</p><p>Bồ Tát trong cõi đó</p><p>Chí niệm thường bền vững</p><p>Thần thông Ba la mật</p><p>Đều đã trọn đầy đủ</p><p>Nơi vô số Phật</p><p>Khéo học đạo Bồ Tát</p><p>Những Đại sĩ như thế</p><p>Phật Hoa Quang hóa độ.</p><p>Lúc Phật làm vương tử</p><p>Rời nước bỏ vinh hoa</p><p>Nơi thân cuối rốt sau</p><p>Xuất gia thành Phật đạo</p><p>Phật Hoa Quang trụ thế</p><p>Thọ mười hai tiểu kiếp</p><p>Chúng nhân dân nước đó</p><p>Sống lâu tám tiểu kiếp</p><p>Sau khi Phật diệt độ</p><p>Chánh pháp trụ ở đời</p><p>Ba mươi hai tiểu kiếp</p><p>Rộng độ các chúng sanh</p><p>Chánh pháp diệt hết rồi</p><p>Tượng pháp cũng ba mươi hai</p><p>Xá lợi rộng truyền khắp</p><p>Trời người đều cúng dường</p><p>Phật Hoa Quang chỗ làm</p><p>Việc đó đều như thế.</p><p>Đấng Lưỡng Túc Tôn kia</p><p>Rất hơn không ai bằng</p><p>Phật tức là thân ông</p><p>Nên phải tự vui mừng.</p><p>Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di và cả đại chúng: Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, v.v... thấy Xá Lợi Phất ở trước Phật lãnh lấy lời thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cởi y trên đang đắp để cúng dường Phật. Thích Đề Hoàn Nhân, Phạm Thiên Vương, v.v... và vô số Thiên tử cũng đem y đẹp của Trời, hoa Trời Mạn Đà La, Ma Ha Mạn Đà La, v.v... cúng dường Phật. Y Trời tung lên trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc Trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trổi. Rưới các thứ hoa Trời mà nói lời rằng: “Phật xưa ở thành Ba La Nại ban đầu chuyển pháp luân bốn đế, nay lại chuyển pháp luân rất lớn vô thượng.”</p><p>Lúc ấy các Thiên tử muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Xưa ở thành Ba Nại</p><p>Chuyển pháp luân Tứ Đế</p><p>Phân biệt nói các pháp</p><p>Sanh diệt của năm nhóm</p><p>Nay lại chuyển pháp luân</p><p>Rất lớn diệu vô thượng</p><p>Pháp đó rất sâu mầu</p><p>Ít có người tin được.</p><p>Chúng ta từ xưa lại</p><p>Thường nghe Thế Tôn nói</p><p>Chưa từng nghe thượng pháp</p><p>Thâm diệu như thế này</p><p>Thế Tôn nói pháp ấy</p><p>Chúng ta đều tùy hỷ</p><p>Đại trí Xá Lợi Phất</p><p>Nay được lãnh Phật ký</p><p>Chúng ta cũng như vậy</p><p>Quyết sẽ được thành Phật</p><p>Trong tất cả thế gian</p><p>Rất tôn không còn trên</p><p>Phật đạo chẳng thể bàn</p><p>Phương tiện tùy nghi nói</p><p>Ta bao nhiêu nghiệp phước</p><p>Đời nay hoặc quá khứ</p><p>Và công đức thấy Phật</p><p>Trọn hồi hướng Phật đạo.</p><p>Bấy giờ Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết rốt ráo Niết Bàn. Các vị hữu học vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không, v.v... nói là được Niết Bàn, mà nay ở trước Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin vì bốn chúng nói nhân duyên đó khiến lìa lòng nghi hối.”</p><p>Lúc ấy Phật bảo Xá Lợi Phất: “Ta trước đâu chẳng nói: Chư Phật Thế Tôn dùng các nhân duyên, lời lẽ thí dụ, phương tiện nói pháp đều là để Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Các lời nói đó đều là để hóa độ Bồ Tát. Nhưng Xá Lợi Phất! Nay dùng thí dụ để rõ nghĩa đó.</p><p>Xá Lợi Phất! Như trong xóm làng thành ấp nước lớn có ông trưởng giả tuổi đã cao lớn mà tài sản vô lượng, nhiều có ruộng nhà cùng tôi tớ. Nhà ông rộng lớn chỉ có một cửa, trong nhà có nhiều người, hoặc mười, hoặc hai mươi, hoặc đến ba mươi, năm mươi, trăm người. Các phòng lầu lâu đều đã cũ mục, tường vách hư nát, cột kèo thấp kém, đòn tay thình lình đồng thời bốc lửa, cháy dữ dội.</p><p>Con cái ông trưởng giả có mười đứa hoặc hai mươi, ba mươi ở trong nhà. Ông trưởng giả thấy lửa lớn từ bốn phía nổi dậy liền kinh sợ mà nghĩ rằng: Ta hay ở nơi cửa nhà lửa mà được ra khỏi an ổn không lo, nhưng con cái ta ở trong nhà lửa vui chơi giỡn cợt không hay không biết, không kinh không sợ. Lửa đến đốt thân khổ đau nhiều vậy mà lòng các con mến chơi chẳng nhàm chẳng sợ chẳng nghĩ đến việc ra.</p><p>Xá Lợi Phất! Ông trưởng giả nghĩ rằng: Ta thân tay có sức hay dùng đãy áo hoặc ghế bàn từ trong nhà lửa bồng các con ra.</p><p>Lại suy nghĩ: Nhà này chỉ có một cửa lại hẹp nhỏ, các con còn thơ dại chưa hiểu, mến chỗ chơi bời hoặc ngã bị hại. Ta phải vì chúng mà nói các sự sợ, nhà này đã cháy phải mau ra liền, chớ để bị hại.</p><p>Nghĩ thế rồi theo ý mà bảo các con: Mau mau ra hết chớ để bị hại.</p><p>Các con si mê mến chơi, dầu nghe cha nói vẫn cứ vui chơi chẳng chịu tin dùng, chẳng kinh chẳng sợ, chẳng sanh lòng lui, cũng chẳng hiểu biết gì là lửa, gì là nhà, thế nào là hại, chỉ chạy giỡn nhìn cha mà thôi.</p><p>Bấy giờ trưởng giả liền nghĩ: Nhà này đã bị lửa lớn cháy rồi. Nếu ta và các con chẳng kịp thời ra, chắc sẽ bị thiêu. Ta nay phải dùng phương tiện khiến các con được thoát.</p><p>Cha biết các con trước theo lòng ưa thích, đều ham những đồ chơi quý lạ, liền bảo rằng: Các con sở thích chơi những vật quý báu khó được, nếu bỏ lỡ sẽ sanh lòng hối. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu nay ở ngoài cửa để cho các con chơi. Các con phải mau ra khỏi nhà lửa, ta sẽ tùy lòng các con muốn mà đều cho hết.</p><p>Các con nghe cha nói những xe quý như thế liền cùng tranh nhau chạy ra khỏi nhà lửa, ở nơi ngã tư ngồi trên đất trống khỏi nạn.</p><p>Ông trưởng giả thấy các con được thoát khỏi nhà lửa, ở nơi ngã tư ngồi không còn bị ngăn ngại, lòng được tự tại, vui mừng hớn hở. Bấy giờ các con thưa cha rằng: Cha xưa hứa cho các con các thứ xe quý: xe dê, xe hươu, xe trâu, xin cha cho chúng con.</p><p>Xá Lợi Phất! Lúc ấy trưởng giả liền cho mỗi đứa một cỗ xe lớn, cao rộng lớn trang nghiêm, lan can bao quanh, chuông nhỏ treo bốn bên, lại trương trướng lọng trên, cũng dùng các vật báu lạ trang nghiêm, dây kết bằng châu ngọc, tua hoa rủ xuống, các thứ hoa đẹp trải khắp, dây tết bằng lụa đẹp, có nệm báu, lót gối đỏ, trâu trắng kéo, sắc trắng da mập, hình mạo đoan chánh, có sức mạnh, đi đều đặn, mau như gió thổi, lại có nhiều tôi tớ để hầu hạ giữ gìn.</p><p>Vì sao? Ông trưởng giả kia giàu lớn vô cùng, các kho đều đầy dẫy, mà nghĩ rằng: Tài sản ta vô lượng, chẳng nên dùng xe nhỏ xấu cho các con. Các con ta nay đã thoát khỏi nạn, đáng dùng sức ta mà cho chúng xe lớn báu.</p><p>Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Ông trưởng giả kia đều cho các con xe lớn báu trâu trắng đồng một thứ có tội dối không?</p><p>Xá Lợi Phất thưa: Thưa không, Thế Tôn! Ông trưởng giả kia chỉ khiến các con khỏi nạn lửa, toàn được tánh mạng, huống cho cho xe lớn. Vì sao? Nếu được tánh mạng còn là lợi lớn, huống dùng phương tiện cứu khỏi nhà nạn. Huống ông trưởng giả lại cho xe lớn, đâu có tội dối.</p><p>Phật bảo Xá Lợi Phất: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói. Xá Lợi Phất! Như Lai cũng vậy, là cha tất cả thế gian, dứt hẳn các sợ hãi, suy nhược, lo rầu, vô minh hắc ám, đầy đủ vô lượng tri kiến, lực, vô sở úy, có đại thần lực và trí lực, đủ phương tiện trí huệ ba la mật, đại từ đại bi, thường không lười mỏi, luôn cầu việc lành, lợi ích tất cả.</p><p>Sinh trong tam giới cũ hư mục nát, bị khổ lửa dữ thiêu, dạy bảo chúng sanh khổ khó sinh tử.</p><p>Như trưởng giả kia dùng ba xe dụ con ra khỏi nhà lửa, rồi cho xe lớn báu.</p><p>Như Lai cũng vậy, dùng ba thừa dạy bảo chúng sanh, rồi dùng đại thừa dạy bảo.</p><p>Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho thiền định, giải thoát của chư Phật, đều đồng một tướng một thứ, được các Thánh khen ngợi hay sanh vui thanh tịnh.</p><p>Xá Lợi Phất! Như trưởng giả kia trước dùng ba thứ xe dụ con, sau mới cho xe lớn an ổn bậc nhất. Nhưng trưởng giả kia không hư dối, vì trước không có dối, chỉ dùng phương tiện dụ con ra mà thôi. Như Lai cũng vậy, không hư dối, trước nói ba thừa dụ dắt chúng sanh, sau mới dùng đại thừa mà độ.</p><p>Vì sao? Như Lai có vô lượng trí huệ lực vô sở úy, các pháp tàng, hay cho tất cả chúng sanh đại thừa pháp, nhưng không phải tất cả đều thọ được.</p><p>Xá Lợi Phất! Vì nhân duyên ấy nên biết chư Phật dùng phương tiện lực, ở một Phật thừa phân biệt nói ba.</p><p>Phật muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Giả sử có trưởng giả</p><p>Nhà lớn cũ hư xấu</p><p>Rất rộng lớn cao to</p><p>Nền móng đã mục nát</p><p>Cột kèo xiêu vẹo nghiêng</p><p>Tường vách khắp sứt mẻ.</p><p>Cửa sổ hư hỏng nặng</p><p>Bụi bẩn rơi rắc đầy</p><p>Lửa bỗng từ bốn phía</p><p>Cháy dữ dội cùng lúc</p><p>Trưởng giả đang ở ngoài</p><p>Con cái ở trong nhà</p><p>Trưởng giả lo con bị nạn</p><p>Liền vào cứu con ra</p><p>Bảo con mau ra đi</p><p>Các con vui chơi</p><p>Không chịu ra, không hay</p><p>Không kinh không sợ hãi.</p><p>Trưởng giả nghĩ phương tiện</p><p>Bảo có xe dê hươu trâu</p><p>Mau ra mà lấy chơi</p><p>Các con chen ra khỏi</p><p>Trưởng giả cho mỗi đứa</p><p>Xe trâu lớn báu đẹp</p><p>Xe ấy cao rộng lớn</p><p>Các báu trang nghiêm quanh</p><p>Lan can bao bốn phía</p><p>Lọng che trùm trên xe</p><p>Chuông nhỏ treo thòng xuống</p><p>Vàng dây xen lẫn nhau</p><p>Anh lạc báu rủ xuống</p><p>Dây ngọc khắp buông thòng</p><p>Hoa báu kết khắp nơi</p><p>Lụa mịn lót đệm êm</p><p>Thảm trắng lông tinh sạch</p><p>Trâu lớn da trắng sạch</p><p>Hình mập sức lực mạnh</p><p>Kéo xe đi đều đặn</p><p>Nhanh như gió thoảng qua</p><p>Lại có nhiều kẻ hầu</p><p>Giữ gìn theo hai bên</p><p>Cho xe lớn như vậy</p><p>Vì khiến con vui mừng</p><p>Không hư dối chút nào.</p><p>Như Lai cũng vậy</p><p>Làm cha chúng sanh khổ</p><p>Ra khỏi tam giới nạn</p><p>Hầm lửa đáng sợ hãi</p><p>Dạy ba thừa Thanh Văn</p><p>Duyên Giác và Phật thừa</p><p>Dụ dắt khiến ra khỏi</p><p>Rồi cho đại thừa pháp</p><p>Khiến được Phật tri kiến</p><p>Như Lai không hư dối</p><p>Dùng đại thừa độ thoát</p><p>Tất cả đều bình đẳng</p><p>Không thừa hai ba khác</p><p>Chỉ có một Phật thừa.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Thí Dụ Thứ Ba&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ, Ngài Xá Lợi Phất hớn hở vui mừng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đến trước Phật chấp tay cung kính mà bạch Phật rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thế Tôn! Con nay theo Thế Tôn nghe pháp âm này, lòng rất vui mừng, được điều chưa từng có. Vì sao? Con từ xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy chư Bồ Tát được thọ ký thành Phật, mà chúng con chẳng được dự việc đó, con rất cảm thương, tự cho là mất vô lượng tri kiến của Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thế Tôn! Con thường một mình ở dưới cây rừng trong núi, hoặc ngồi hoặc kinh hành, thường nghĩ rằng: Chúng ta đồng vào pháp tánh, cớ sao Như Lai dùng pháp Tiểu thừa mà cứu độ? Đó là lỗi của chúng con, chẳng phải Thế Tôn có lỗi. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói nhân duyên thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thì chắc do nơi Đại thừa mà được độ thoát. Nhưng chúng con chẳng hiểu Phật dùng phương tiện nói pháp, vừa nghe liền tin nhận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Thế Tôn! Con từ xưa đến nay, trọn ngày luôn đêm, thường tự trách mình. Nay từ Thế Tôn được nghe pháp chưa từng có, trước chưa từng nghe, dứt các nghi hối, thân ý thơ thới, rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thật là con Phật, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh, được phần pháp của Phật.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nghe tiếng pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được điều chưa từng có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng rất đổi vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lưới nghi đều đã trừ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xưa nay nhờ Phật dạy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng mất nơi Đại thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng Phật rất ít có&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay trừ khổ chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con đã được lậu tận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe cũng trừ lo khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con ở nơi hang núi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc dưới cây rừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc ngồi hoặc kinh hành&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường suy nghĩ việc này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thôi ôi! Rất tự trách&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao lại tự khi mình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta cũng Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng vào pháp vô lậu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng được ở vị lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp vô thượng đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc vàng ba mươi hai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười lực các giải thoát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đồng chung trong một pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà chẳng được việc đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tám mươi tướng tốt đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười tám pháp bất cộng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các công đức như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà ta đều đã mất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc con kinh hành riêng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Phật ở trong chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Danh đồn khắp mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng lợi ích chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự nghĩ mất lợi này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chính con tự khi dối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con thường trong ngày đêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hằng suy nghĩ việc đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn đem hỏi Thế Tôn?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là mất hay không mất?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con thường thấy Thế Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khen ngợi các Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì thế nên ngày đêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Suy lường việc như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay nghe tiếng Phật nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo cơ nghi dạy pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu khó nghĩ bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến chúng đến đạo tràng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con xưa chấp tà kiến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm thầy các Phạm chí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn rõ tâm con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trừ tà nói Niết Bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con trừ hết tà kiến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được chứng nơi pháp không&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ lòng tự bảo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được đến nơi diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà nay mới tự biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng phải thực diệt độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lúc được thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đủ ba mươi hai tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời người Dạ Xoa chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồng thần đều cung kính&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ mới được nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dứt hẳn hết không thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật ở trong đại chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói con sẽ thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe tiếng pháp như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng nghi hối đã trừ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi mới nghe Phật nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong lòng rất sợ nghi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải chăng ma giả Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Não loạn lòng ta ư?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng các món duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thí dụ khéo nói phô,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng kia an như biển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con nghe lưới nghi dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói thuở quá khứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng Phật diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ trong phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng đều nói pháp đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật hiện tại vị lai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số nhiều cũng vô lượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng dùng các phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diễn nói pháp như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Thế Tôn ngày nay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ sanh đến xuất gia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được đạo chuyển pháp luân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng dùng phương tiện nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn nói đạo thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba Tuần không nói được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì thế con định biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phải ma giả Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con sa vào lưới nghi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho là ma làm ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe tiếng Phật êm dịu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sâu xa rất nhiệm mầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói suốt pháp thanh tịnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm con rất vui mừng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghi hối đã hết hẳn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An trụ trong thật trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con quyết sẽ thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được trời người cung kính&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyển pháp luân vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giáo hóa các Bồ Tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật bảo Xá Lợi Phất: “Ta nay ở trong đại chúng Trời, Người, Sa Môn, Bà La Môn, v.v... mà nói: Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bản nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh Văn nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa Bồ Tát được chư Phật hộ niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp, đầy đủ đạo tu hành của Bồ Tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Nước tên là Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng thanh tịnh đẹp đẽ an ổn giàu vui, trời người đông đảo. Lưu ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có hoa trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Lúc Đức Phật ra đời dầu không phải là đời ác mà bởi bản nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là Đại Bảo Trang Nghiêm. Vì sao gọi là Đại Bảo Trang Nghiêm? Vì trong cõi đó dùng Bồ Tát làm Đại Bảo vậy. Các Bồ Tát trong số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghị, tính kể hay thí dụ đều không đến được, chẳng phải sức trí huệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có hoa đỡ chân. Các vị Bồ Tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội từ lâu, ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức Phật, tịnh tu phạm hạnh hằng được các Phật khen. Thường tu trí huệ của Phật đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững, bậc Bồ Tát như thế khắp đầy nước đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn Bồ Tát mà bảo các Tỳ Kheo: Ông Kiên Mãn Bồ Tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, cõi nước của Đức Phật đó cũng lại như đây.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ đời ba mươi hai tiểu kiếp.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất đời sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành đấng Phật trí khắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiệu rằng Phật Hoa Quang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ độ vô lượng chúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường vô số Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ hạnh Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các công đức thập lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứng được đạo vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quá vô lượng kiếp rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp tên Đại Bảo Nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước tên Ly Cấu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong sạch không vết nhơ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng lưu ly làm đất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dây vàng giăng đường sá&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cây bảy báu sắc đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường có hoa cùng trái&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ Tát trong cõi đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí niệm thường bền vững&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thần thông Ba la mật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều đã trọn đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nơi vô số Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo học đạo Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những Đại sĩ như thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Hoa Quang hóa độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc Phật làm vương tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rời nước bỏ vinh hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nơi thân cuối rốt sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xuất gia thành Phật đạo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Hoa Quang trụ thế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thọ mười hai tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng nhân dân nước đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống lâu tám tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Phật diệt độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp trụ ở đời&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ba mươi hai tiểu kiếp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rộng độ các chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chánh pháp diệt hết rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tượng pháp cũng ba mươi hai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá lợi rộng truyền khắp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời người đều cúng dường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Hoa Quang chỗ làm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc đó đều như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đấng Lưỡng Túc Tôn kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất hơn không ai bằng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tức là thân ông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nên phải tự vui mừng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di và cả đại chúng: Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Dà, v.v... thấy Xá Lợi Phất ở trước Phật lãnh lấy lời thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cởi y trên đang đắp để cúng dường Phật. Thích Đề Hoàn Nhân, Phạm Thiên Vương, v.v... và vô số Thiên tử cũng đem y đẹp của Trời, hoa Trời Mạn Đà La, Ma Ha Mạn Đà La, v.v... cúng dường Phật. Y Trời tung lên trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc Trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trổi. Rưới các thứ hoa Trời mà nói lời rằng: “Phật xưa ở thành Ba La Nại ban đầu chuyển pháp luân bốn đế, nay lại chuyển pháp luân rất lớn vô thượng.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy các Thiên tử muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xưa ở thành Ba Nại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyển pháp luân Tứ Đế&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phân biệt nói các pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh diệt của năm nhóm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay lại chuyển pháp luân&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất lớn diệu vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp đó rất sâu mầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ít có người tin được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta từ xưa lại&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường nghe Thế Tôn nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa từng nghe thượng pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thâm diệu như thế này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn nói pháp ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta đều tùy hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đại trí Xá Lợi Phất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay được lãnh Phật ký&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta cũng như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quyết sẽ được thành Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong tất cả thế gian&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất tôn không còn trên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đạo chẳng thể bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương tiện tùy nghi nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta bao nhiêu nghiệp phước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đời nay hoặc quá khứ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và công đức thấy Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trọn hồi hướng Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật được thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết rốt ráo Niết Bàn. Các vị hữu học vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không, v.v... nói là được Niết Bàn, mà nay ở trước Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin vì bốn chúng nói nhân duyên đó khiến lìa lòng nghi hối.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy Phật bảo Xá Lợi Phất: “Ta trước đâu chẳng nói: Chư Phật Thế Tôn dùng các nhân duyên, lời lẽ thí dụ, phương tiện nói pháp đều là để Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Các lời nói đó đều là để hóa độ Bồ Tát. Nhưng Xá Lợi Phất! Nay dùng thí dụ để rõ nghĩa đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như trong xóm làng thành ấp nước lớn có ông trưởng giả tuổi đã cao lớn mà tài sản vô lượng, nhiều có ruộng nhà cùng tôi tớ. Nhà ông rộng lớn chỉ có một cửa, trong nhà có nhiều người, hoặc mười, hoặc hai mươi, hoặc đến ba mươi, năm mươi, trăm người. Các phòng lầu lâu đều đã cũ mục, tường vách hư nát, cột kèo thấp kém, đòn tay thình lình đồng thời bốc lửa, cháy dữ dội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con cái ông trưởng giả có mười đứa hoặc hai mươi, ba mươi ở trong nhà. Ông trưởng giả thấy lửa lớn từ bốn phía nổi dậy liền kinh sợ mà nghĩ rằng: Ta hay ở nơi cửa nhà lửa mà được ra khỏi an ổn không lo, nhưng con cái ta ở trong nhà lửa vui chơi giỡn cợt không hay không biết, không kinh không sợ. Lửa đến đốt thân khổ đau nhiều vậy mà lòng các con mến chơi chẳng nhàm chẳng sợ chẳng nghĩ đến việc ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Ông trưởng giả nghĩ rằng: Ta thân tay có sức hay dùng đãy áo hoặc ghế bàn từ trong nhà lửa bồng các con ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại suy nghĩ: Nhà này chỉ có một cửa lại hẹp nhỏ, các con còn thơ dại chưa hiểu, mến chỗ chơi bời hoặc ngã bị hại. Ta phải vì chúng mà nói các sự sợ, nhà này đã cháy phải mau ra liền, chớ để bị hại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghĩ thế rồi theo ý mà bảo các con: Mau mau ra hết chớ để bị hại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con si mê mến chơi, dầu nghe cha nói vẫn cứ vui chơi chẳng chịu tin dùng, chẳng kinh chẳng sợ, chẳng sanh lòng lui, cũng chẳng hiểu biết gì là lửa, gì là nhà, thế nào là hại, chỉ chạy giỡn nhìn cha mà thôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ trưởng giả liền nghĩ: Nhà này đã bị lửa lớn cháy rồi. Nếu ta và các con chẳng kịp thời ra, chắc sẽ bị thiêu. Ta nay phải dùng phương tiện khiến các con được thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cha biết các con trước theo lòng ưa thích, đều ham những đồ chơi quý lạ, liền bảo rằng: Các con sở thích chơi những vật quý báu khó được, nếu bỏ lỡ sẽ sanh lòng hối. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu nay ở ngoài cửa để cho các con chơi. Các con phải mau ra khỏi nhà lửa, ta sẽ tùy lòng các con muốn mà đều cho hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con nghe cha nói những xe quý như thế liền cùng tranh nhau chạy ra khỏi nhà lửa, ở nơi ngã tư ngồi trên đất trống khỏi nạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông trưởng giả thấy các con được thoát khỏi nhà lửa, ở nơi ngã tư ngồi không còn bị ngăn ngại, lòng được tự tại, vui mừng hớn hở. Bấy giờ các con thưa cha rằng: Cha xưa hứa cho các con các thứ xe quý: xe dê, xe hươu, xe trâu, xin cha cho chúng con.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Lúc ấy trưởng giả liền cho mỗi đứa một cỗ xe lớn, cao rộng lớn trang nghiêm, lan can bao quanh, chuông nhỏ treo bốn bên, lại trương trướng lọng trên, cũng dùng các vật báu lạ trang nghiêm, dây kết bằng châu ngọc, tua hoa rủ xuống, các thứ hoa đẹp trải khắp, dây tết bằng lụa đẹp, có nệm báu, lót gối đỏ, trâu trắng kéo, sắc trắng da mập, hình mạo đoan chánh, có sức mạnh, đi đều đặn, mau như gió thổi, lại có nhiều tôi tớ để hầu hạ giữ gìn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Ông trưởng giả kia giàu lớn vô cùng, các kho đều đầy dẫy, mà nghĩ rằng: Tài sản ta vô lượng, chẳng nên dùng xe nhỏ xấu cho các con. Các con ta nay đã thoát khỏi nạn, đáng dùng sức ta mà cho chúng xe lớn báu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Ông trưởng giả kia đều cho các con xe lớn báu trâu trắng đồng một thứ có tội dối không?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất thưa: Thưa không, Thế Tôn! Ông trưởng giả kia chỉ khiến các con khỏi nạn lửa, toàn được tánh mạng, huống cho cho xe lớn. Vì sao? Nếu được tánh mạng còn là lợi lớn, huống dùng phương tiện cứu khỏi nhà nạn. Huống ông trưởng giả lại cho xe lớn, đâu có tội dối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Xá Lợi Phất: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói. Xá Lợi Phất! Như Lai cũng vậy, là cha tất cả thế gian, dứt hẳn các sợ hãi, suy nhược, lo rầu, vô minh hắc ám, đầy đủ vô lượng tri kiến, lực, vô sở úy, có đại thần lực và trí lực, đủ phương tiện trí huệ ba la mật, đại từ đại bi, thường không lười mỏi, luôn cầu việc lành, lợi ích tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sinh trong tam giới cũ hư mục nát, bị khổ lửa dữ thiêu, dạy bảo chúng sanh khổ khó sinh tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trưởng giả kia dùng ba xe dụ con ra khỏi nhà lửa, rồi cho xe lớn báu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai cũng vậy, dùng ba thừa dạy bảo chúng sanh, rồi dùng đại thừa dạy bảo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho thiền định, giải thoát của chư Phật, đều đồng một tướng một thứ, được các Thánh khen ngợi hay sanh vui thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như trưởng giả kia trước dùng ba thứ xe dụ con, sau mới cho xe lớn an ổn bậc nhất. Nhưng trưởng giả kia không hư dối, vì trước không có dối, chỉ dùng phương tiện dụ con ra mà thôi. Như Lai cũng vậy, không hư dối, trước nói ba thừa dụ dắt chúng sanh, sau mới dùng đại thừa mà độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Như Lai có vô lượng trí huệ lực vô sở úy, các pháp tàng, hay cho tất cả chúng sanh đại thừa pháp, nhưng không phải tất cả đều thọ được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Vì nhân duyên ấy nên biết chư Phật dùng phương tiện lực, ở một Phật thừa phân biệt nói ba.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật muốn tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả sử có trưởng giả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhà lớn cũ hư xấu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất rộng lớn cao to&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nền móng đã mục nát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cột kèo xiêu vẹo nghiêng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tường vách khắp sứt mẻ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cửa sổ hư hỏng nặng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bụi bẩn rơi rắc đầy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lửa bỗng từ bốn phía&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cháy dữ dội cùng lúc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả đang ở ngoài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con cái ở trong nhà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả lo con bị nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền vào cứu con ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo con mau ra đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con vui chơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không chịu ra, không hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không kinh không sợ hãi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả nghĩ phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo có xe dê hươu trâu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mau ra mà lấy chơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con chen ra khỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả cho mỗi đứa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xe trâu lớn báu đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xe ấy cao rộng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các báu trang nghiêm quanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lan can bao bốn phía&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lọng che trùm trên xe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuông nhỏ treo thòng xuống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vàng dây xen lẫn nhau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Anh lạc báu rủ xuống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dây ngọc khắp buông thòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoa báu kết khắp nơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lụa mịn lót đệm êm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảm trắng lông tinh sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trâu lớn da trắng sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hình mập sức lực mạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kéo xe đi đều đặn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhanh như gió thoảng qua&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có nhiều kẻ hầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ gìn theo hai bên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho xe lớn như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì khiến con vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hư dối chút nào.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai cũng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm cha chúng sanh khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ra khỏi tam giới nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hầm lửa đáng sợ hãi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạy ba thừa Thanh Văn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Duyên Giác và Phật thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ dắt khiến ra khỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi cho đại thừa pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến được Phật tri kiến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai không hư dối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng đại thừa độ thoát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả đều bình đẳng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thừa hai ba khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ có một Phật thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="20533916" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/4fbae02a-43bc-4477-8636-b5e5bb4cb68f/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">6998d3ce-f3c7-4c3d-b5d1-ac34ed93fe8d</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/4fbae02a-43bc-4477-8636-b5e5bb4cb68f</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:14:21 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/12a8fbf0-e4bf-4e7a-8002-d1b90f190472_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>1283</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 2</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 2</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Phương Tiện Thứ Hai</p><p>Lúc ấy, Thế Tôn từ tam muội an lành dậy, bảo Xá Lợi Phất: Trí huệ chư Phật rất sâu vô lượng, cửa trí huệ ấy khó hiểu khó vào, hết thảy Thanh Văn, Bích Chi Phật không thể biết được.</p><p>Vì sao?</p><p>Phật từng thân cận trăm nghìn vạn ức vô số chư Phật, tận tu vô lượng đạo pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh tấn, danh nghe khắp nơi, thành tựu pháp sâu mầu chưa từng có, theo chỗ thích nghi mà nói pháp, ý thú khó hiểu.</p><p>Xá Lợi Phất! Từ khi ta thành Phật đến nay, dùng các nhân duyên, dùng các thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dẫn dắt chúng sanh, khiến xa lìa các chấp trước.</p><p>Vì sao?</p><p>Như Lai đã đầy đủ phương tiện tri kiến ba la mật.</p><p>Xá Lợi Phất! Tri kiến Như Lai rộng lớn sâu xa, vô lượng vô ngại, lực, vô sở úy, thiền định, giải thoát tam muội, sâu vào vô tế, thành tựu hết thảy pháp chưa từng có.</p><p>Xá Lợi Phất! Như Lai hay đủ cách phân biệt, khéo nói các pháp, lời dịu dàng làm vui lòng chúng sanh.</p><p>Xá Lợi Phất! Nói tóm, Phật thành tựu vô lượng vô biên pháp hi hữu sâu mầu.</p><p>Ta dừng, không nói nữa.</p><p>Xá Lợi Phất! Sao phải nói nữa? Pháp Phật thành tựu rất sâu mầu hi hữu khó hiểu, chỉ Phật với Phật mới cứu kính được các pháp thật tướng.</p><p>Thế nào là các pháp thật tướng? Các pháp như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu kính.</p><p>Lúc ấy Thế Tôn muốn nặng lại nghĩa này, nói kệ rằng:</p><p>Thế Hùng không lường được</p><p>Trời người không hay biết</p><p>Chúng sanh không loài nào</p><p>Hay biết Phật trí lực</p><p>Vô úy với tam muội</p><p>Giải thoát các thiền định</p><p>Và các pháp khác Phật</p><p>Không ai lường được hết.</p><p>Theo vô số chư Phật</p><p>Tu hành các đạo pháp</p><p>Sâu mầu khó nghĩ bàn</p><p>Khó thấy khó hiểu biết.</p><p>Vô lượng ức kiếp tu</p><p>Những đạo pháp như vậy</p><p>Ở đạo tràng được quả</p><p>Ta đã biết rõ hết.</p><p>Quả báo lớn như vậy</p><p>Các tính tướng nghĩa thú</p><p>Ta và mười phương Phật</p><p>Mới hay biết việc ấy.</p><p>Pháp ấy không hiển thị</p><p>Lời nói tướng lặng hết</p><p>Các loài chúng sanh khác</p><p>Không ai hay biết được.</p><p>Trừ Bồ Tát chúng</p><p>Tin chắc sức bền vững.</p><p>Các đệ tử Phật chúng</p><p>Cúng dường chư Phật rồi</p><p>Lậu hết trụ thân sau</p><p>Không kham nhận pháp ấy.</p><p>Dù đầy thế gian này</p><p>Đều như Xá Lợi Phất</p><p>Cùng suy lường Phật trí</p><p>Hết kiếp không hay biết.</p><p>Dù đầy mười phương cõi</p><p>Đều như Xá Lợi Phất</p><p>Và đệ tử chúng khác</p><p>Đầy mười phương suy lường</p><p>Cũng không hay biết được.</p><p>Bích Chi Phật trí bén</p><p>Vô lậu thân sau rốt</p><p>Đầy mười phương số ấy</p><p>Như tre lau số đông</p><p>Một lòng dùng diệu trí</p><p>Kiếp số hằng sa suy</p><p>Cũng không hay biết Phật trí.</p><p>Bồ Tát bất thối chuyển</p><p>Số đông như hằng sa</p><p>Cũng chung suy lường ấy</p><p>Vẫn không hay biết được.</p><p>Lại bảo Xá Lợi Phất</p><p>Pháp sâu mầu vô lậu</p><p>Khó thấy khó hiểu ấy</p><p>Ta nay đã đầy đủ</p><p>Chỉ ta hay biết đó</p><p>Mười phương Phật cũng vậy.</p><p>Xá Lợi Phất nên biết</p><p>Lời chư Phật không khác</p><p>Đối Phật nói pháp ấy</p><p>Phải sanh đại tin lực</p><p>Thế Tôn pháp lâu dài</p><p>Sau mới nói như thật</p><p>Bảo các Thanh Văn chúng</p><p>Và cầu Duyên Giác thừa</p><p>Ta khiến thoát khổ nạn</p><p>Đến Niết Bàn rốt ráo</p><p>Phật dùng phương tiện lực</p><p>Chỉ các pháp bất đồng</p><p>Làm hiển nhất thừa thật.</p><p>Khi ấy trong đại chúng có hàng Thanh Văn lậu tận A La Hán, A Nhã Kiều Trần Như v.v..., một ngàn hai trăm người, và các vị phát tâm Thanh Văn, Duyên Giác như Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đều nghĩ rằng: Hôm nay Thế Tôn cớ sao ân cần ngợi khen phương tiện mà nói rằng: Pháp Phật được rất sâu mầu khó hiểu, lời nói ý thú khó biết. Nếu có một người nghe theo thời chúng con đều nghi hoặc.</p><p>Xá Lợi Phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa thông, bèn bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nhân duyên gì mà ân cần ngợi khen phương tiện đệ nhất, pháp rất sâu mầu khó hiểu của chư Phật? Con từ xưa đến nay chưa từng nghe Phật nói như thế. Nay xin Phật bày giải.</p><p>Xá Lợi Phất muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Huệ Nhật Đại Thánh Tôn</p><p>Lâu mới nói pháp này</p><p>Tự nói như ta đây</p><p>Lực vô úy tam muội</p><p>Thiền định giải thoát v.v...</p><p>Pháp khó nghĩ bàn được</p><p>Pháp được ở đạo tràng</p><p>Không ai hay hỏi đến</p><p>Ý con khó lường được</p><p>Cũng không ai hay hỏi</p><p>Không hỏi mà tự nói</p><p>Khen ngợi đạo ta tu</p><p>Trí huệ rất vi diệu</p><p>Chư Phật được như thế.</p><p>Vô lậu A La Hán</p><p>Và cầu Niết Bàn người</p><p>Nay đều sa nghi lưới</p><p>Sao Phật nói như vậy?</p><p>Các cầu Duyên Giác khác</p><p>Tỳ Kheo Tỳ Kheo Ni</p><p>Trời rồng quỷ thần v.v...</p><p>Càn Thát Bà A Tu La</p><p>Ngó nhau sanh lòng nghi</p><p>Nhìn Phật Tối Tôn Túc</p><p>Việc này là thế nào</p><p>Xin Phật giải rõ cho</p><p>Trong Thanh Văn chúng Phật</p><p>Nói con là đệ nhất</p><p>Nay con tự trí huệ</p><p>Nghi hoặc không tự giải</p><p>Hay là pháp rốt ráo</p><p>Hay là đạo ta tu</p><p>Con từ miệng Phật sanh</p><p>Chắp tay chờ mong nghe</p><p>Xin nói lời vi diệu</p><p>Vì nói như thật đi</p><p>Trời rồng như hằng sa</p><p>Bồ Tát cầu Phật tám muôn</p><p>Các vua muôn ức nước</p><p>Chuyển Luân đến chắp tay</p><p>Muốn nghe đạo viên mãn.</p><p>Lúc ấy Phật bảo Xá Lợi Phất: Dừng lại, dừng lại, không cần nói nữa. Nếu nói việc ấy thì trời người trong tất cả thế gian đều kinh ngạc nghi hoặc.</p><p>Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Xin nói đi, xin nói đi. Vì sao? Trong hội này vô lượng trăm nghìn muôn ức A Tăng Kỳ chúng sanh, từng thấy chư Phật, căn lợi trí huệ thông đạt, nếu nghe Phật nói sẽ hay tin theo.</p><p>Xá Lợi Phất muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Pháp Vương vô thượng tôn</p><p>Xin nói chớ tự lo</p><p>Vô lượng chúng ở đây</p><p>Có hay kính tin được.</p><p>Phật lại ngăn Xá Lợi Phất: Nếu nói việc ấy thì tất cả thế gian trời người A Tu La đều kinh ngạc nghi hoặc, Tỳ Kheo tăng thượng mạn sẽ sa hầm lớn.</p><p>Khi ấy Thế Tôn nói kệ rằng:</p><p>Dừng lại, dừng lại, không cần nói</p><p>Pháp ta vi diệu khó nghĩ bàn</p><p>Kẻ tăng thượng mạn nghe tất nhiên</p><p>Không kính tin pháp ta.</p><p>Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Xin nói đi, xin nói đi. Trong hội hôm nay, hạng người như con trăm nghìn muôn ức, đời đời đã từng theo Phật, hạng người này tất sẽ tin kính, dài đêm an ổn lợi ích nhiều.</p><p>Khi ấy Xá Lợi Phất muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Vô Thượng Lưỡng Túc Tôn</p><p>Xin nói pháp đệ nhất</p><p>Con là con trưởng Phật</p><p>Xin thương phân biệt nói</p><p>Vô lượng chúng ở đây</p><p>Hay kính tin pháp ấy</p><p>Phật đời đời giáo hóa</p><p>Hạng người như con đây</p><p>Chắp tay một lòng nghe</p><p>Xin Phật phân biệt nói</p><p>Hạng người như con đây</p><p>Nghe pháp ấy sẽ vui</p><p>Bấy giờ Thế Tôn bảo Xá Lợi Phất: Ông đã ba lần ân cần thỉnh, đâu được không nói. Ông nay lắng nghe, khéo nghĩ nhớ kỹ, ta sẽ vì ông phân biệt nói rõ.</p><p>Khi nói lời ấy, trong hội có năm nghìn Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tăng thượng mạn, từ chỗ ngồi đứng dậy lạy Phật mà lui ra.</p><p>Vì sao?</p><p>Gốc tội hạng này sâu nặng, tăng thượng mạn, chưa được cho được, chưa chứng cho chứng, nên không ở lại.</p><p>Thế Tôn im lặng không cản.</p><p>Bấy giờ Phật bảo Xá Lợi Phất: Chúng ta nay không cành lá, chỉ có hạt chắc. Hạng người tăng thượng mạn lui đi cũng tốt.</p><p>Ông nay lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.</p><p>Xá Lợi Phất bạch rằng: Vâng, Thế Tôn, con ưa nghe.</p><p>Phật bảo Xá Lợi Phất: Pháp vi diệu như thế, chư Phật Như Lai đúng thời mới nói, như hoa Ưu Đàm thời tiết mới hiện một lần.</p><p>Xá Lợi Phất! Ông các người nên tin lời Phật nói, lời không hư vọng.</p><p>Xá Lợi Phất! Chư Phật tùy nghi nói pháp, ý thú khó hiểu.</p><p>Vì sao?</p><p>Ta dùng vô số phương tiện, các nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp, là pháp ấy không phải suy lường phân biệt mà hay hiểu được, chỉ có chư Phật mới hay biết thôi.</p><p>Vì sao?</p><p>Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà hiện trên đời.</p><p>Xá Lợi Phất! Sao nói chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà hiện trên đời?</p><p>Chư Phật Thế Tôn muốn chúng sanh khai Phật tri kiến khiến được thanh tịnh mà hiện trên đời, muốn chỉ Phật tri kiến cho chúng sanh mà hiện trên đời, muốn chúng sanh ngộ Phật tri kiến mà hiện trên đời, muốn chúng sanh nhập Phật tri kiến đạo mà hiện trên đời.</p><p>Xá Lợi Phất! Như Lai chỉ vì một đại sự nhân duyên mà hiện trên đời.</p><p>Phật bảo Xá Lợi Phất: Chư Phật Như Lai giáo hóa chỉ Bồ Tát, việc làm thường vì một việc, chỉ đem Phật tri kiến chỉ thị chúng sanh khiến ngộ nhập.</p><p>Xá Lợi Phất! Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có thừa khác hoặc hai hoặc ba.</p><p>Xá Lợi Phất! Các Phật mười phương quá khứ, vị lai, hiện tại cũng thế.</p><p>Xá Lợi Phất! Chư Phật quá khứ dùng vô lượng vô số phương tiện, các nhân duyên, thí dụ, lời lẽ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, là pháp ấy đều là nhất thừa.</p><p>Chúng sanh theo Phật nghe pháp, cứu cánh đều được nhất thiết loài trí.</p><p>Xá Lợi Phất! Chư Phật ra đời ở đời ác trược, kiếp trược, chúng sanh trược, phiền não trược, kiến trược, mạng trược, trong ngũ trược ấy, nên dùng phương tiện nói có ba thừa.</p><p>Xá Lợi Phất! Như có trưởng giả, có nhà lớn, nhà ấy cũ hư, cao rộng, nền móng mục nát, cột cây xiêu vẹo, tường vách sứt mẻ. Trưởng giả có nhiều con, năm mười hai mươi hoặc ba mươi, chỉ có một cửa, nhà bỗng bị lửa cháy, trưởng giả lo con bị nạn, liền nghĩ cách cứu.</p><p>Ông trưởng giả bảo các con: Mau mau ra khỏi nhà, các con không chịu, vui chơi không hay biết khổ, không kinh không sợ.</p><p>Trưởng giả nghĩ: Nhà này chỉ có một cửa, hẹp nhỏ, các con nhỏ dại, chưa hiểu, tham vui chỗ chơi, hoặc sẽ bị hại, phải dùng phương tiện bảo rằng: Ta có các xe, xe dê, xe hươu, xe trâu, mau ra mà lấy.</p><p>Các con nghe có xe, chen nhau ra, trưởng giả bèn cho mỗi đứa một xe lớn, xe trâu trắng, trang nghiêm đẹp đẽ.</p><p>Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Ông trưởng giả ấy cho các con xe trâu trắng đồng một thứ, có tội dối không?</p><p>Xá Lợi Phất! Không, Thế Tôn. Ông trưởng giả chỉ khiến các con khỏi nạn lửa, toàn được tánh mạng, huống cho cho xe lớn. Vì sao? Nếu được tánh mạng còn là lợi lớn, huống dùng phương tiện cứu khỏi nhà nạn. Huống ông trưởng giả lại cho xe lớn, đâu có tội dối.</p><p>Phật bảo Xá Lợi Phất: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói. Xá Lợi Phất! Như Lai cũng vậy, là cha tất cả thế gian, dứt hẳn các sợ hãi, suy nhược, lo rầu, vô minh hắc ám, đầy đủ vô lượng tri kiến, lực, vô sở úy, có đại thần lực và trí lực, đủ phương tiện trí huệ ba la mật, đại từ đại bi, thường không lười mỏi, luôn cầu việc lành, lợi ích tất cả.</p><p>Sinh trong tam giới cũ hư mục nát, bị khổ lửa dữ thiêu, dạy bảo chúng sanh khổ khó sinh tử.</p><p>Như trưởng giả kia dùng ba xe dụ con ra khỏi nhà lửa, rồi cho xe lớn báu.</p><p>Như Lai cũng vậy, dùng ba thừa dạy bảo chúng sanh, rồi dùng đại thừa dạy bảo.</p><p>Xá Lợi Phất! Như các con kia vì tin lời cha mà ra khỏi nạn lửa, được toàn tánh mạng, nhưng chưa thật được, trưởng giả liền thật cho xe lớn.</p><p>Như Lai cũng vậy, hay làm cha tất cả chúng sanh, thấy chúng sanh ra khỏi sinh tử khổ nạn hầm lửa tam giới đáng sợ, đáng lẽ được Niết Bàn vui của Thanh Văn, nhưng Như Lai không cho thật được, dùng đại thừa giáo hóa khiến được Phật tri kiến.</p><p>Xá Lợi Phất! Như trưởng giả kia tuy sau cho con xe lớn, nhưng không hư dối, vì trước không có dối, chỉ dùng phương tiện dụ con ra.</p><p>Như Lai cũng vậy, không hư dối, trước nói ba thừa dụ dắt chúng sanh, sau mới dùng đại thừa mà độ.</p><p>Vì sao?</p><p>Như Lai có vô lượng trí huệ lực vô sở úy, các pháp tàng, hay cho tất cả chúng sanh đại thừa pháp, nhưng không phải tất cả đều thọ được.</p><p>Xá Lợi Phất! Vì nhân duyên ấy nên biết chư Phật dùng phương tiện lực, ở một Phật thừa phân biệt nói ba.</p><p>Thế Tôn muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:</p><p>Giả sử có trưởng giả</p><p>Nhà lớn cũ hư xấu</p><p>Rất rộng lớn cao to</p><p>Nền móng đã mục nát</p><p>Cột kèo xiêu vẹo nghiêng</p><p>Tường vách khắp sứt mẻ.</p><p>Cửa sổ hư hỏng nặng</p><p>Bụi bẩn rơi rắc đầy</p><p>Lửa bỗng từ bốn phía</p><p>Cháy dữ dội cùng lúc</p><p>Trưởng giả đang ở ngoài</p><p>Con cái ở trong nhà</p><p>Trưởng giả lo con bị nạn</p><p>Liền vào cứu con ra</p><p>Bảo con mau ra đi</p><p>Các con vui chơi</p><p>Không chịu ra, không hay</p><p>Không kinh không sợ hãi.</p><p>Trưởng giả nghĩ phương tiện</p><p>Bảo có xe dê hươu trâu</p><p>Mau ra mà lấy chơi</p><p>Các con chen ra khỏi</p><p>Trưởng giả cho mỗi đứa</p><p>Xe trâu lớn báu đẹp</p><p>Xe ấy cao rộng lớn</p><p>Các báu trang nghiêm quanh</p><p>Lan can bao bốn phía</p><p>Lọng che trùm trên xe</p><p>Chuông nhỏ treo thòng xuống</p><p>Vàng dây xen lẫn nhau</p><p>Anh lạc báu rủ xuống</p><p>Dây ngọc khắp buông thòng</p><p>Hoa báu kết khắp nơi</p><p>Lụa mịn lót đệm êm</p><p>Thảm trắng lông tinh sạch</p><p>Trâu lớn da trắng sạch</p><p>Hình mập sức lực mạnh</p><p>Kéo xe đi đều đặn</p><p>Nhanh như gió thoảng qua</p><p>Lại có nhiều kẻ hầu</p><p>Giữ gìn theo hai bên</p><p>Cho xe lớn như vậy</p><p>Vì khiến con vui mừng</p><p>Không hư dối chút nào.</p><p>Như Lai cũng vậy</p><p>Làm cha chúng sanh khổ</p><p>Ra khỏi tam giới nạn</p><p>Hầm lửa đáng sợ hãi</p><p>Dạy ba thừa Thanh Văn</p><p>Duyên Giác và Phật thừa</p><p>Dụ dắt khiến ra khỏi</p><p>Rồi cho đại thừa pháp</p><p>Khiến được Phật tri kiến</p><p>Như Lai không hư dối</p><p>Dùng đại thừa độ thoát</p><p>Tất cả đều bình đẳng</p><p>Không thừa hai ba khác</p><p>Chỉ có một Phật thừa.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Phương Tiện Thứ Hai&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy, Thế Tôn từ tam muội an lành dậy, bảo Xá Lợi Phất: Trí huệ chư Phật rất sâu vô lượng, cửa trí huệ ấy khó hiểu khó vào, hết thảy Thanh Văn, Bích Chi Phật không thể biết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật từng thân cận trăm nghìn vạn ức vô số chư Phật, tận tu vô lượng đạo pháp của chư Phật, dũng mãnh tinh tấn, danh nghe khắp nơi, thành tựu pháp sâu mầu chưa từng có, theo chỗ thích nghi mà nói pháp, ý thú khó hiểu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Từ khi ta thành Phật đến nay, dùng các nhân duyên, dùng các thí dụ, rộng nói ngôn giáo, dùng vô số phương tiện dẫn dắt chúng sanh, khiến xa lìa các chấp trước.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai đã đầy đủ phương tiện tri kiến ba la mật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Tri kiến Như Lai rộng lớn sâu xa, vô lượng vô ngại, lực, vô sở úy, thiền định, giải thoát tam muội, sâu vào vô tế, thành tựu hết thảy pháp chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như Lai hay đủ cách phân biệt, khéo nói các pháp, lời dịu dàng làm vui lòng chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Nói tóm, Phật thành tựu vô lượng vô biên pháp hi hữu sâu mầu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta dừng, không nói nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Sao phải nói nữa? Pháp Phật thành tựu rất sâu mầu hi hữu khó hiểu, chỉ Phật với Phật mới cứu kính được các pháp thật tướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế nào là các pháp thật tướng? Các pháp như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu kính.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy Thế Tôn muốn nặng lại nghĩa này, nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Hùng không lường được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời người không hay biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh không loài nào&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay biết Phật trí lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô úy với tam muội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giải thoát các thiền định&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các pháp khác Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai lường được hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo vô số chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu hành các đạo pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sâu mầu khó nghĩ bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó thấy khó hiểu biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng ức kiếp tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Những đạo pháp như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ở đạo tràng được quả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta đã biết rõ hết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quả báo lớn như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các tính tướng nghĩa thú&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta và mười phương Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới hay biết việc ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp ấy không hiển thị&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói tướng lặng hết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các loài chúng sanh khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai hay biết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trừ Bồ Tát chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tin chắc sức bền vững.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các đệ tử Phật chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường chư Phật rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lậu hết trụ thân sau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không kham nhận pháp ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù đầy thế gian này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều như Xá Lợi Phất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cùng suy lường Phật trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết kiếp không hay biết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù đầy mười phương cõi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều như Xá Lợi Phất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và đệ tử chúng khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy mười phương suy lường&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng không hay biết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bích Chi Phật trí bén&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu thân sau rốt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy mười phương số ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như tre lau số đông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một lòng dùng diệu trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kiếp số hằng sa suy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng không hay biết Phật trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ Tát bất thối chuyển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số đông như hằng sa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng chung suy lường ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn không hay biết được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại bảo Xá Lợi Phất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp sâu mầu vô lậu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó thấy khó hiểu ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nay đã đầy đủ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ ta hay biết đó&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười phương Phật cũng vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất nên biết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời chư Phật không khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đối Phật nói pháp ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phải sanh đại tin lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn pháp lâu dài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau mới nói như thật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo các Thanh Văn chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và cầu Duyên Giác thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta khiến thoát khổ nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến Niết Bàn rốt ráo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật dùng phương tiện lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ các pháp bất đồng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm hiển nhất thừa thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy trong đại chúng có hàng Thanh Văn lậu tận A La Hán, A Nhã Kiều Trần Như v.v..., một ngàn hai trăm người, và các vị phát tâm Thanh Văn, Duyên Giác như Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đều nghĩ rằng: Hôm nay Thế Tôn cớ sao ân cần ngợi khen phương tiện mà nói rằng: Pháp Phật được rất sâu mầu khó hiểu, lời nói ý thú khó biết. Nếu có một người nghe theo thời chúng con đều nghi hoặc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất biết lòng nghi của bốn chúng, chính mình cũng chưa thông, bèn bạch Phật rằng: Thế Tôn! Nhân duyên gì mà ân cần ngợi khen phương tiện đệ nhất, pháp rất sâu mầu khó hiểu của chư Phật? Con từ xưa đến nay chưa từng nghe Phật nói như thế. Nay xin Phật bày giải.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Huệ Nhật Đại Thánh Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lâu mới nói pháp này&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự nói như ta đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lực vô úy tam muội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiền định giải thoát v.v...&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp khó nghĩ bàn được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp được ở đạo tràng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai hay hỏi đến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ý con khó lường được&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng không ai hay hỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hỏi mà tự nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khen ngợi đạo ta tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí huệ rất vi diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phật được như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lậu A La Hán&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và cầu Niết Bàn người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay đều sa nghi lưới&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao Phật nói như vậy?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các cầu Duyên Giác khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỳ Kheo Tỳ Kheo Ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời rồng quỷ thần v.v...&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Càn Thát Bà A Tu La&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngó nhau sanh lòng nghi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhìn Phật Tối Tôn Túc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc này là thế nào&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin Phật giải rõ cho&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong Thanh Văn chúng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói con là đệ nhất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay con tự trí huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghi hoặc không tự giải&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay là pháp rốt ráo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay là đạo ta tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con từ miệng Phật sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chắp tay chờ mong nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin nói lời vi diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nói như thật đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời rồng như hằng sa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ Tát cầu Phật tám muôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các vua muôn ức nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuyển Luân đến chắp tay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn nghe đạo viên mãn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc ấy Phật bảo Xá Lợi Phất: Dừng lại, dừng lại, không cần nói nữa. Nếu nói việc ấy thì trời người trong tất cả thế gian đều kinh ngạc nghi hoặc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Xin nói đi, xin nói đi. Vì sao? Trong hội này vô lượng trăm nghìn muôn ức A Tăng Kỳ chúng sanh, từng thấy chư Phật, căn lợi trí huệ thông đạt, nếu nghe Phật nói sẽ hay tin theo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp Vương vô thượng tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin nói chớ tự lo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng chúng ở đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có hay kính tin được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật lại ngăn Xá Lợi Phất: Nếu nói việc ấy thì tất cả thế gian trời người A Tu La đều kinh ngạc nghi hoặc, Tỳ Kheo tăng thượng mạn sẽ sa hầm lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Thế Tôn nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dừng lại, dừng lại, không cần nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp ta vi diệu khó nghĩ bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ tăng thượng mạn nghe tất nhiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không kính tin pháp ta.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất lại bạch Phật rằng: Thế Tôn! Xin nói đi, xin nói đi. Trong hội hôm nay, hạng người như con trăm nghìn muôn ức, đời đời đã từng theo Phật, hạng người này tất sẽ tin kính, dài đêm an ổn lợi ích nhiều.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Xá Lợi Phất muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô Thượng Lưỡng Túc Tôn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin nói pháp đệ nhất&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con là con trưởng Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin thương phân biệt nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng chúng ở đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay kính tin pháp ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đời đời giáo hóa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hạng người như con đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chắp tay một lòng nghe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin Phật phân biệt nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hạng người như con đây&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp ấy sẽ vui&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Thế Tôn bảo Xá Lợi Phất: Ông đã ba lần ân cần thỉnh, đâu được không nói. Ông nay lắng nghe, khéo nghĩ nhớ kỹ, ta sẽ vì ông phân biệt nói rõ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi nói lời ấy, trong hội có năm nghìn Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, tăng thượng mạn, từ chỗ ngồi đứng dậy lạy Phật mà lui ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gốc tội hạng này sâu nặng, tăng thượng mạn, chưa được cho được, chưa chứng cho chứng, nên không ở lại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn im lặng không cản.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ Phật bảo Xá Lợi Phất: Chúng ta nay không cành lá, chỉ có hạt chắc. Hạng người tăng thượng mạn lui đi cũng tốt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông nay lắng nghe, ta sẽ vì ông nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất bạch rằng: Vâng, Thế Tôn, con ưa nghe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Xá Lợi Phất: Pháp vi diệu như thế, chư Phật Như Lai đúng thời mới nói, như hoa Ưu Đàm thời tiết mới hiện một lần.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Ông các người nên tin lời Phật nói, lời không hư vọng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Chư Phật tùy nghi nói pháp, ý thú khó hiểu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta dùng vô số phương tiện, các nhân duyên, lời lẽ thí dụ diễn nói các pháp, là pháp ấy không phải suy lường phân biệt mà hay hiểu được, chỉ có chư Phật mới hay biết thôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà hiện trên đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Sao nói chư Phật Thế Tôn chỉ vì một đại sự nhân duyên mà hiện trên đời?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phật Thế Tôn muốn chúng sanh khai Phật tri kiến khiến được thanh tịnh mà hiện trên đời, muốn chỉ Phật tri kiến cho chúng sanh mà hiện trên đời, muốn chúng sanh ngộ Phật tri kiến mà hiện trên đời, muốn chúng sanh nhập Phật tri kiến đạo mà hiện trên đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như Lai chỉ vì một đại sự nhân duyên mà hiện trên đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Xá Lợi Phất: Chư Phật Như Lai giáo hóa chỉ Bồ Tát, việc làm thường vì một việc, chỉ đem Phật tri kiến chỉ thị chúng sanh khiến ngộ nhập.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như Lai chỉ dùng một Phật thừa mà vì chúng sanh nói pháp, không có thừa khác hoặc hai hoặc ba.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Các Phật mười phương quá khứ, vị lai, hiện tại cũng thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Chư Phật quá khứ dùng vô lượng vô số phương tiện, các nhân duyên, thí dụ, lời lẽ mà vì chúng sanh diễn nói các pháp, là pháp ấy đều là nhất thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng sanh theo Phật nghe pháp, cứu cánh đều được nhất thiết loài trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Chư Phật ra đời ở đời ác trược, kiếp trược, chúng sanh trược, phiền não trược, kiến trược, mạng trược, trong ngũ trược ấy, nên dùng phương tiện nói có ba thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như có trưởng giả, có nhà lớn, nhà ấy cũ hư, cao rộng, nền móng mục nát, cột cây xiêu vẹo, tường vách sứt mẻ. Trưởng giả có nhiều con, năm mười hai mươi hoặc ba mươi, chỉ có một cửa, nhà bỗng bị lửa cháy, trưởng giả lo con bị nạn, liền nghĩ cách cứu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ông trưởng giả bảo các con: Mau mau ra khỏi nhà, các con không chịu, vui chơi không hay biết khổ, không kinh không sợ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả nghĩ: Nhà này chỉ có một cửa, hẹp nhỏ, các con nhỏ dại, chưa hiểu, tham vui chỗ chơi, hoặc sẽ bị hại, phải dùng phương tiện bảo rằng: Ta có các xe, xe dê, xe hươu, xe trâu, mau ra mà lấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con nghe có xe, chen nhau ra, trưởng giả bèn cho mỗi đứa một xe lớn, xe trâu trắng, trang nghiêm đẹp đẽ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Ông trưởng giả ấy cho các con xe trâu trắng đồng một thứ, có tội dối không?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Không, Thế Tôn. Ông trưởng giả chỉ khiến các con khỏi nạn lửa, toàn được tánh mạng, huống cho cho xe lớn. Vì sao? Nếu được tánh mạng còn là lợi lớn, huống dùng phương tiện cứu khỏi nhà nạn. Huống ông trưởng giả lại cho xe lớn, đâu có tội dối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Xá Lợi Phất: Lành thay, lành thay! Như lời ông nói. Xá Lợi Phất! Như Lai cũng vậy, là cha tất cả thế gian, dứt hẳn các sợ hãi, suy nhược, lo rầu, vô minh hắc ám, đầy đủ vô lượng tri kiến, lực, vô sở úy, có đại thần lực và trí lực, đủ phương tiện trí huệ ba la mật, đại từ đại bi, thường không lười mỏi, luôn cầu việc lành, lợi ích tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sinh trong tam giới cũ hư mục nát, bị khổ lửa dữ thiêu, dạy bảo chúng sanh khổ khó sinh tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trưởng giả kia dùng ba xe dụ con ra khỏi nhà lửa, rồi cho xe lớn báu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai cũng vậy, dùng ba thừa dạy bảo chúng sanh, rồi dùng đại thừa dạy bảo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như các con kia vì tin lời cha mà ra khỏi nạn lửa, được toàn tánh mạng, nhưng chưa thật được, trưởng giả liền thật cho xe lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai cũng vậy, hay làm cha tất cả chúng sanh, thấy chúng sanh ra khỏi sinh tử khổ nạn hầm lửa tam giới đáng sợ, đáng lẽ được Niết Bàn vui của Thanh Văn, nhưng Như Lai không cho thật được, dùng đại thừa giáo hóa khiến được Phật tri kiến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Như trưởng giả kia tuy sau cho con xe lớn, nhưng không hư dối, vì trước không có dối, chỉ dùng phương tiện dụ con ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai cũng vậy, không hư dối, trước nói ba thừa dụ dắt chúng sanh, sau mới dùng đại thừa mà độ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai có vô lượng trí huệ lực vô sở úy, các pháp tàng, hay cho tất cả chúng sanh đại thừa pháp, nhưng không phải tất cả đều thọ được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Vì nhân duyên ấy nên biết chư Phật dùng phương tiện lực, ở một Phật thừa phân biệt nói ba.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn muốn lại nói nghĩa này mà nói kệ rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giả sử có trưởng giả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhà lớn cũ hư xấu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rất rộng lớn cao to&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nền móng đã mục nát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cột kèo xiêu vẹo nghiêng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tường vách khắp sứt mẻ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cửa sổ hư hỏng nặng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bụi bẩn rơi rắc đầy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lửa bỗng từ bốn phía&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cháy dữ dội cùng lúc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả đang ở ngoài&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con cái ở trong nhà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả lo con bị nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Liền vào cứu con ra&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo con mau ra đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con vui chơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không chịu ra, không hay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không kinh không sợ hãi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả nghĩ phương tiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bảo có xe dê hươu trâu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mau ra mà lấy chơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các con chen ra khỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trưởng giả cho mỗi đứa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xe trâu lớn báu đẹp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xe ấy cao rộng lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các báu trang nghiêm quanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lan can bao bốn phía&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lọng che trùm trên xe&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chuông nhỏ treo thòng xuống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vàng dây xen lẫn nhau&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Anh lạc báu rủ xuống&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dây ngọc khắp buông thòng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoa báu kết khắp nơi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lụa mịn lót đệm êm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thảm trắng lông tinh sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trâu lớn da trắng sạch&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hình mập sức lực mạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kéo xe đi đều đặn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhanh như gió thoảng qua&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có nhiều kẻ hầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ gìn theo hai bên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho xe lớn như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì khiến con vui mừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hư dối chút nào.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai cũng vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm cha chúng sanh khổ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ra khỏi tam giới nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hầm lửa đáng sợ hãi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạy ba thừa Thanh Văn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Duyên Giác và Phật thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dụ dắt khiến ra khỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi cho đại thừa pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến được Phật tri kiến&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai không hư dối&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng đại thừa độ thoát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả đều bình đẳng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thừa hai ba khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ có một Phật thừa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="16712933" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/c1f4d10e-0c42-484c-8255-d9b3b8996307/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">1cc44b0e-c113-4ea9-b0d7-dc72380964f2</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/c1f4d10e-0c42-484c-8255-d9b3b8996307</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:11:44 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/4/40b9f8c6-a0e1-449e-ba65-3dc3165baf5c_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>1044</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 1</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Hoa_Phẩm 1</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa</p><p>Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &#34;nhất thừa&#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.</p><p>Toàn văn Phẩm Tựa Thứ Nhất (Phẩm 1) Kinh Pháp Hoa</p><p>Ta nghe như vầy: Một thời Phật ở núi Kỳ Xà Quật, gần thành Vương Xá, cùng với chúng Đại Tỳ Kheo một vạn hai ngàn vị. Tất cả đều là bậc A La Hán, các lậu đã hết, không còn phiền não, được lợi ích lớn, dứt các kết sử, tâm được tự tại. Tên là: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nâu Lầu Đà, những vị đại đệ tử như thế. Và hàng Đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát... cùng với các vị Đại Bồ Tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích Đề Hoàn Nhân... đại chúng cùng đến dự hội.</p><p>Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn vì bốn chúng vây quanh, cúng dường, tôn kính, cung kính, tán thán, vì các Bồ Tát nói kinh Đại Thừa tên Vô Lượng Nghĩa, giáo hóa Bồ Tát pháp, Phật hộ niệm.</p><p>Phật nói kinh này xong, kết già phu tọa, nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội, thân tâm bất động.</p><p>Khi ấy trời mưa hoa Mạn Đà La, Ma Ha Mạn Đà La, Mạn Thù Sa, Ma Ha Mạn Thù Sa, rải trên Phật và đại chúng.</p><p>Khắp Phật thế giới sáu thứ chấn động.</p><p>Khi ấy trong hội Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Trời, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Giá, nhân và phi nhân, cùng các tiểu vương, Chuyển Luân Thánh Vương, v.v., đại chúng ấy được việc chưa từng có, hoan hỷ chắp tay, một lòng nhìn Phật.</p><p>Khi ấy Phật từ bạch hào tướng giữa chặn mày phóng hào quang soi sáng mười tám nghìn cõi phương Đông, dưới suốt địa ngục A Tỳ, trên đến trời Hữu Đỉnh.</p><p>Từ cõi này thấy sáu đạo chúng sanh ở sáu cõi kia.</p><p>Lại thấy chư Phật hiện tại ở cõi kia, và nghe kinh pháp chư Phật nói.</p><p>Lại thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di ở cõi kia, tu hành đắc đạo.</p><p>Lại thấy các Bồ Tát Ma Ha Tát, nhân duyên, tín giải, tướng mạo, hành Bồ Tát đạo.</p><p>Lại thấy chư Phật diệt độ, lại thấy sau diệt độ xây tháp bảy báu cúng dường xá lợi.</p><p>Khi ấy Di Lặc Bồ Tát nghĩ: Nay Thế Tôn hiện thần biến tướng, nhân duyên gì mà có việc này? Phật nay nhập tam muội, việc bất khả tư nghị hi hữu như vậy, nên hỏi ai? Ai hay trả lời?</p><p>Lại nghĩ: Văn Thù Sư Lợi này là pháp tử của chư Phật quá khứ, chắc từng thấy việc hi hữu này, nay ta hỏi thử.</p><p>Khi ấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cùng các Trời, Long, Quỷ Thần, v.v., nghĩ: Hào quang thần thông của Phật này, nay nên hỏi ai?</p><p>Khi ấy Di Lặc Bồ Tát muốn tự giải nghi, lại quan sát ý bốn chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cùng chúng hội Trời, Long, Quỷ Thần, v.v., mà hỏi Văn Thù Sư Lợi: Nhân duyên gì mà có thần thông tướng lành này, phóng hào quang lớn soi mười tám nghìn cõi phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của chư Phật.</p><p>Tức nói kệ hỏi:</p><p>Văn Thù Sư Lợi!</p><p>Cớ sao Đạo Sư</p><p>Từ bạch hào tướng</p><p>Phóng hào quang lớn</p><p>Soi khắp nơi nơi?</p><p>Trời mưa hoa Mạn Đà</p><p>Ma Ha Mạn Đà</p><p>Gió chiên đàn thơm</p><p>Làm vui lòng chúng.</p><p>Cõi đất trang nghiêm</p><p>Thế giới chấn động</p><p>Bốn bộ hoan hỷ</p><p>Thân tâm vui vẻ</p><p>Được việc chưa từng.</p><p>Bạch hào sáng soi</p><p>Phương Đông mười tám nghìn</p><p>Cõi vàng ròng ánh</p><p>Từ A Tỳ địa ngục</p><p>Trên đến Hữu Đỉnh</p><p>Sáu đạo chúng sanh</p><p>Sanh tử đến đi</p><p>Thiện ác nghiệp duyên</p><p>Quả báo tốt xấu</p><p>Đều thấy ở đây.</p><p>Lại thấy chư Phật</p><p>Thánh Sư Tử</p><p>Nói kinh điển diệu</p><p>Nhiệm mầu bậc nhất.</p><p>Tiếng thanh tịnh dịu</p><p>Dạy Bồ Tát chúng</p><p>Phạm âm thâm diệu</p><p>Làm người ưa nghe.</p><p>Chư Phật cõi kia</p><p>Nói pháp ba thừa</p><p>Dùng nhân duyên dụ</p><p>Khai ngộ chúng sanh.</p><p>Nếu người khổ nạn</p><p>Nhàm già bệnh chết</p><p>Nói Niết Bàn pháp</p><p>Dứt hết khổ ràng.</p><p>Nếu người có phước</p><p>Cúng dường chư Phật</p><p>Chí cầu thù thắng</p><p>Nói Duyên Giác pháp.</p><p>Nếu có Phật tử</p><p>Tu hành công đức</p><p>Chí cầu Phật huệ</p><p>Nói Đại Thừa pháp.</p><p>Văn Thù Sư Lợi!</p><p>Tôi ở đây thấy</p><p>Nghìn ức việc ấy</p><p>Thấy nhiều như vậy</p><p>Nay lược nói ra.</p><p>Tôi thấy cõi kia</p><p>Hằng sa Bồ Tát</p><p>Dùng nhân duyên cầu</p><p>Phật đạo không đồng.</p><p>Hoặc bố thí vàng</p><p>Bạc, san hô, ngọc</p><p>Trân bảo xe cộ</p><p>Cúng dường chư Phật.</p><p>Hoặc thí xe báu</p><p>Dùng vàng bạc trang</p><p>Bốn ngựa kéo nhanh</p><p>Cúng dường chư Phật.</p><p>Hoặc thí thân thịt</p><p>Tay chân xương tủy</p><p>Cầu đạo Bồ Đề</p><p>Không tiếc thân mạng.</p><p>Hoặc thí vợ con</p><p>Tài bảo trân quý</p><p>Cầu đạo vô thượng</p><p>Vui mừng không tiếc.</p><p>Tôi thấy các vua</p><p>Đến nơi Phật hỏi</p><p>Đạo vô thượng giác</p><p>Theo Phật xuất gia.</p><p>Hay tinh tấn tu</p><p>Thường thích ngồi thiền</p><p>Dưới rừng cây rừng</p><p>Suy nghĩ pháp thật.</p><p>Hoặc sâu tam muội</p><p>Thấy Phật mười phương</p><p>Thân vàng ròng sáng</p><p>Trăm phước tướng nghiêm.</p><p>Hoặc nghe Phật nói</p><p>Vui mừng hớn hở</p><p>Được đà la ni</p><p>Chứng Bồ Tát đạo.</p><p>Lại thấy Phật tử</p><p>Thiền định, trí huệ</p><p>Nghe pháp, nói pháp</p><p>Cúng dường chư Phật.</p><p>Hoặc hóa trăm nghìn</p><p>Vô số chúng sanh</p><p>Làm Tỳ Kheo hình</p><p>Nghe pháp vui mừng.</p><p>Lại thấy Phật tử</p><p>Trụ thiền định lực</p><p>Dạo các cõi nước</p><p>Cầu pháp vô thượng.</p><p>Hoặc thấy Phật tử</p><p>Đầy đủ thần thông</p><p>Dạo khắp mười phương</p><p>Cúng dường chư Phật.</p><p>Hoặc thấy Phật tử</p><p>Diệt độ sau Phật</p><p>Dẫn dắt chúng sanh</p><p>Thành tựu Phật đạo.</p><p>Các tướng pháp ấy</p><p>Không đồng không khác</p><p>Nhờ hào quang Phật</p><p>Thấy khắp mười phương.</p><p>Văn Thù Sư Lợi!</p><p>Các chúng sanh kia</p><p>Thấy việc này rồi</p><p>Vui mừng hớn hở</p><p>Nói chưa từng có.</p><p>Hào quang Phật soi</p><p>Phương Đông cõi nước</p><p>Mười tám nghìn số</p><p>Sắc đồng vàng ròng</p><p>Rực rỡ sáng ngời.</p><p>Từ A Tỳ địa ngục</p><p>Trên đến Hữu Đỉnh</p><p>Cõi nước giữa ấy</p><p>Vô lượng chúng sanh</p><p>Sanh tử đến đi</p><p>Thiện ác nghiệp duyên</p><p>Quả báo tốt xấu</p><p>Đều thấy ở đây.</p><p>Lại thấy chư Phật</p><p>Thân vàng ròng sáng</p><p>Phóng vô lượng quang</p><p>Soi khắp mười phương.</p><p>Dùng Phạm âm nói</p><p>Dạy dỗ chúng sanh</p><p>Phật vì đại chúng</p><p>Diễn nói diệu pháp</p><p>Dùng bốn đế pháp</p><p>Độ chúng khổ nạn</p><p>Làm cho xa lìa</p><p>Già bệnh chết khổ.</p><p>Nói Niết Bàn pháp</p><p>Dứt hết khổ ràng.</p><p>Nếu có phước người</p><p>Cúng dường chư Phật</p><p>Nói Duyên Giác pháp</p><p>Tự giác ngộ duyên.</p><p>Nếu có Phật tử</p><p>Tu hành các hạnh</p><p>Cầu vô thượng huệ</p><p>Nói Đại Thừa đạo.</p><p>Văn Thù Sư Lợi!</p><p>Từ khi Phật chuyển</p><p>Pháp luân đến nay</p><p>Sanh diệt chư Phật</p><p>Độ vô lượng chúng.</p><p>Tôi thấy việc ấy</p><p>Vô số nghìn ức</p><p>Phật phóng hào quang</p><p>Soi chiếu mười phương.</p><p>Dùng diệu âm nói</p><p>Diệu pháp vô thượng</p><p>Làm chúng sanh tỉnh</p><p>Suy nghĩ pháp thật.</p><p>Vì nhân duyên ấy</p><p>Biết việc này rồi</p><p>Hướng Văn Thù nói</p><p>Cớ sao hào quang</p><p>Từ bạch hào Phật</p><p>Phóng ra sáng ngời?</p><p>Trời mưa hoa thơm</p><p>Gió chiên đàn mát</p><p>Làm đẹp lòng chúng</p><p>Cõi nước trang nghiêm</p><p>Việc hi hữu ấy</p><p>Nhân duyên gì đây?</p><p>Xin Văn Thù nói.</p><p>Bốn bộ chúng hội</p><p>Long thần tám bộ</p><p>Và các vương chúng</p><p>Đều mang lòng nghi</p><p>Chắp tay nhìn trông</p><p>Muốn nghe đầy đủ.</p><p>Văn Thù Sư Lợi!</p><p>Xin nói nhân duyên</p><p>Phật phóng hào quang</p><p>Soi phương Đông kia</p><p>Thấy Phật việc ấy</p><p>Nhân duyên gì đây?</p><p>Phật tử suy nghĩ</p><p>Chắc Phật sẽ nói</p><p>Pháp diệu nhiệm mầu</p><p>Nhân duyên gì đây?</p><p>Việc tôi thấy hôm nay</p><p>Do Phật lực hiện</p><p>Chắc nói Đại Thừa</p><p>Pháp mầu nhất thừa?</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Giải thích ngắn gọn ý nghĩa Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh) là bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, dạy về Diệu Pháp - pháp mầu nhiệm như hoa sen, khẳng định tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có khả năng thành Phật. Kinh nhấn mạnh &amp;#34;nhất thừa&amp;#34; - con đường duy nhất dẫn đến giác ngộ, qua các phương tiện của Phật để dẫn dắt chúng sanh từ tam thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát) về nhất thừa, phá bỏ chấp trước, mang lại bình đẳng và lợi ích cho tất cả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Toàn văn Phẩm Tựa Thứ Nhất (Phẩm 1) Kinh Pháp Hoa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nghe như vầy: Một thời Phật ở núi Kỳ Xà Quật, gần thành Vương Xá, cùng với chúng Đại Tỳ Kheo một vạn hai ngàn vị. Tất cả đều là bậc A La Hán, các lậu đã hết, không còn phiền não, được lợi ích lớn, dứt các kết sử, tâm được tự tại. Tên là: Trưởng lão Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lư Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nâu Lầu Đà, những vị đại đệ tử như thế. Và hàng Đại Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát... cùng với các vị Đại Bồ Tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích Đề Hoàn Nhân... đại chúng cùng đến dự hội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn vì bốn chúng vây quanh, cúng dường, tôn kính, cung kính, tán thán, vì các Bồ Tát nói kinh Đại Thừa tên Vô Lượng Nghĩa, giáo hóa Bồ Tát pháp, Phật hộ niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói kinh này xong, kết già phu tọa, nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ tam muội, thân tâm bất động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy trời mưa hoa Mạn Đà La, Ma Ha Mạn Đà La, Mạn Thù Sa, Ma Ha Mạn Thù Sa, rải trên Phật và đại chúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khắp Phật thế giới sáu thứ chấn động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy trong hội Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, Trời, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Giá, nhân và phi nhân, cùng các tiểu vương, Chuyển Luân Thánh Vương, v.v., đại chúng ấy được việc chưa từng có, hoan hỷ chắp tay, một lòng nhìn Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Phật từ bạch hào tướng giữa chặn mày phóng hào quang soi sáng mười tám nghìn cõi phương Đông, dưới suốt địa ngục A Tỳ, trên đến trời Hữu Đỉnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ cõi này thấy sáu đạo chúng sanh ở sáu cõi kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy chư Phật hiện tại ở cõi kia, và nghe kinh pháp chư Phật nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di ở cõi kia, tu hành đắc đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy các Bồ Tát Ma Ha Tát, nhân duyên, tín giải, tướng mạo, hành Bồ Tát đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy chư Phật diệt độ, lại thấy sau diệt độ xây tháp bảy báu cúng dường xá lợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Di Lặc Bồ Tát nghĩ: Nay Thế Tôn hiện thần biến tướng, nhân duyên gì mà có việc này? Phật nay nhập tam muội, việc bất khả tư nghị hi hữu như vậy, nên hỏi ai? Ai hay trả lời?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nghĩ: Văn Thù Sư Lợi này là pháp tử của chư Phật quá khứ, chắc từng thấy việc hi hữu này, nay ta hỏi thử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cùng các Trời, Long, Quỷ Thần, v.v., nghĩ: Hào quang thần thông của Phật này, nay nên hỏi ai?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy Di Lặc Bồ Tát muốn tự giải nghi, lại quan sát ý bốn chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cùng chúng hội Trời, Long, Quỷ Thần, v.v., mà hỏi Văn Thù Sư Lợi: Nhân duyên gì mà có thần thông tướng lành này, phóng hào quang lớn soi mười tám nghìn cõi phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tức nói kệ hỏi:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cớ sao Đạo Sư&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bạch hào tướng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phóng hào quang lớn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Soi khắp nơi nơi?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời mưa hoa Mạn Đà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma Ha Mạn Đà&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gió chiên đàn thơm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm vui lòng chúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi đất trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế giới chấn động&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn bộ hoan hỷ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân tâm vui vẻ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được việc chưa từng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch hào sáng soi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương Đông mười tám nghìn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi vàng ròng ánh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ A Tỳ địa ngục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trên đến Hữu Đỉnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáu đạo chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh tử đến đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện ác nghiệp duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quả báo tốt xấu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều thấy ở đây.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thánh Sư Tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói kinh điển diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiệm mầu bậc nhất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng thanh tịnh dịu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạy Bồ Tát chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phạm âm thâm diệu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm người ưa nghe.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phật cõi kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói pháp ba thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng nhân duyên dụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khai ngộ chúng sanh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người khổ nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhàm già bệnh chết&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Niết Bàn pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dứt hết khổ ràng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu người có phước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí cầu thù thắng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Duyên Giác pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu hành công đức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chí cầu Phật huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Đại Thừa pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi ở đây thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghìn ức việc ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy nhiều như vậy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay lược nói ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi thấy cõi kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hằng sa Bồ Tát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng nhân duyên cầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật đạo không đồng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc bố thí vàng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạc, san hô, ngọc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trân bảo xe cộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc thí xe báu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng vàng bạc trang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn ngựa kéo nhanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc thí thân thịt&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tay chân xương tủy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu đạo Bồ Đề&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không tiếc thân mạng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc thí vợ con&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tài bảo trân quý&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu đạo vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng không tiếc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi thấy các vua&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đến nơi Phật hỏi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạo vô thượng giác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo Phật xuất gia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay tinh tấn tu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường thích ngồi thiền&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dưới rừng cây rừng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Suy nghĩ pháp thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc sâu tam muội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Phật mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân vàng ròng sáng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trăm phước tướng nghiêm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc nghe Phật nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng hớn hở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được đà la ni&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứng Bồ Tát đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiền định, trí huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp, nói pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc hóa trăm nghìn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô số chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm Tỳ Kheo hình&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp vui mừng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trụ thiền định lực&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạo các cõi nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu pháp vô thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc thấy Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đầy đủ thần thông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạo khắp mười phương&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường chư Phật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc thấy Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệt độ sau Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn dắt chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thành tựu Phật đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các tướng pháp ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không đồng không khác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhờ hào quang Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy khắp mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Các chúng sanh kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy việc này rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vui mừng hớn hở&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói chưa từng có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hào quang Phật soi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương Đông cõi nước&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mười tám nghìn số&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sắc đồng vàng ròng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rực rỡ sáng ngời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ A Tỳ địa ngục&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trên đến Hữu Đỉnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước giữa ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô lượng chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh tử đến đi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện ác nghiệp duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quả báo tốt xấu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều thấy ở đây.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại thấy chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân vàng ròng sáng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phóng vô lượng quang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Soi khắp mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng Phạm âm nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dạy dỗ chúng sanh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật vì đại chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diễn nói diệu pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng bốn đế pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ chúng khổ nạn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm cho xa lìa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Già bệnh chết khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Niết Bàn pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dứt hết khổ ràng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có phước người&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cúng dường chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Duyên Giác pháp&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự giác ngộ duyên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có Phật tử&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu hành các hạnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cầu vô thượng huệ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nói Đại Thừa đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ khi Phật chuyển&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp luân đến nay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sanh diệt chư Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Độ vô lượng chúng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi thấy việc ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô số nghìn ức&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật phóng hào quang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Soi chiếu mười phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dùng diệu âm nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệu pháp vô thượng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm chúng sanh tỉnh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Suy nghĩ pháp thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì nhân duyên ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết việc này rồi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hướng Văn Thù nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cớ sao hào quang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bạch hào Phật&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phóng ra sáng ngời?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trời mưa hoa thơm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gió chiên đàn mát&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm đẹp lòng chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cõi nước trang nghiêm&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc hi hữu ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân duyên gì đây?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin Văn Thù nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bốn bộ chúng hội&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Long thần tám bộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và các vương chúng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều mang lòng nghi&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chắp tay nhìn trông&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Muốn nghe đầy đủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Văn Thù Sư Lợi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xin nói nhân duyên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật phóng hào quang&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Soi phương Đông kia&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy Phật việc ấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân duyên gì đây?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật tử suy nghĩ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chắc Phật sẽ nói&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp diệu nhiệm mầu&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhân duyên gì đây?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc tôi thấy hôm nay&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do Phật lực hiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chắc nói Đại Thừa&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp mầu nhất thừa?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Pháp Hoa mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí huệ, diệt trừ tội chướng, được chư Phật hộ niệm, trồng căn lành, vãng sanh Tịnh độ, dẫn đến vãng sanh Cực Lạc, chứng quả Bồ Đề, độ thoát chúng sanh, và đạt giác ngộ viên mãn, như hoa sen nở rộ giữa bùn lầy.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2459689" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/40e55951-b5e9-4432-82b6-d957276a612d/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">485ca05b-afe4-48df-ae43-787da95688a9</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/40e55951-b5e9-4432-82b6-d957276a612d</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:04:32 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/c3a1de8d-dc23-476f-b844-cec9238dfb7c_kinh_ph_p_hoa.jpg"/>
                <itunes:duration>153</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phần 10_Trang Nghiêm Tịnh Độ</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phần 10_Trang Nghiêm Tịnh Độ</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 10 – Trang nghiêm Tịnh độ</p><p><br></p><p>“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?</p><p>Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có sở đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, không.</p><p>Thật không có pháp nào Như Lai sở đắc gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Nếu có Bồ-tát đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bảy báu để bố thí, phước đức ấy nhiều chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh này, thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói, phước đức ấy vượt hơn phước đức kia.</p><p>Vì sao? Vì tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như điện, nên quán như vậy.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 10 – Trang nghiêm Tịnh độ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có sở đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thật không có pháp nào Như Lai sở đắc gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Nếu có Bồ-tát đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bảy báu để bố thí, phước đức ấy nhiều chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe kinh này, thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói, phước đức ấy vượt hơn phước đức kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như điện, nên quán như vậy.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="796630" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/701ff17c-36b9-41bf-b750-430182dfcb33/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">38b8ab7c-95f4-4d2a-ae5a-8cb13159ea88</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/701ff17c-36b9-41bf-b750-430182dfcb33</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 04:02:17 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/7d6b8ac8-edde-4539-bfca-61f4f7b242ec_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>49</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 9_Một Câu Kệ Vượt Hơn</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 9_Một Câu Kệ Vượt Hơn</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 9 – Một câu kệ vượt hơn</p><p><br></p><p>Phật bảo Tu-bồ-đề: “Nếu lại có người nghe kinh này, không kinh, không sợ, không hãi, phước đức ấy vượt hơn phước đức kia.</p><p>Vì sao? Tu-bồ-đề! Vì các đức Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều từ kinh này mà ra.</p><p>Tu-bồ-đề! Pháp Phật mà Như Lai nói, tức chẳng phải pháp Phật, ấy gọi là pháp Phật.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 9 – Một câu kệ vượt hơn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Tu-bồ-đề: “Nếu lại có người nghe kinh này, không kinh, không sợ, không hãi, phước đức ấy vượt hơn phước đức kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Tu-bồ-đề! Vì các đức Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều từ kinh này mà ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề! Pháp Phật mà Như Lai nói, tức chẳng phải pháp Phật, ấy gọi là pháp Phật.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="435931" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/b3624e20-2c83-4f0e-8b07-a57d6f606f9f/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">fa70741e-f9f5-4251-b1e4-96543dca4915</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/b3624e20-2c83-4f0e-8b07-a57d6f606f9f</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:54:23 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/9418eb7b-085f-447a-917e-a492df8bee75_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>27</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 8_Theo Tướng Mà Thấy</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 8_Theo Tướng Mà Thấy</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 8 – Theo tướng mà thấy</p><p><br></p><p>“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?</p><p>Như Lai có nhục nhãn chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, có.</p><p>Như Lai có nhục nhãn.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?</p><p>Như Lai có thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, có.</p><p>Như Lai có đủ năm thứ mắt.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?</p><p>Như hằng hà trung sở hữu sa số, Phật nói là sa chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, có.</p><p>Như Lai nói đó là sa.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Nếu có người dùng bảy báu đầy cả số thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, phước đức ấy nhiều chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 8 – Theo tướng mà thấy&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai có nhục nhãn chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai có nhục nhãn.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai có thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai có đủ năm thứ mắt.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hằng hà trung sở hữu sa số, Phật nói là sa chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, có.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai nói đó là sa.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Nếu có người dùng bảy báu đầy cả số thế giới nhiều như số cát sông Hằng để bố thí, phước đức ấy nhiều chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="820035" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/bf735b91-bd97-4328-afcd-680fa29750d5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">3b9321f5-7326-40ea-a695-b5dd2bb88570</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/bf735b91-bd97-4328-afcd-680fa29750d5</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:53:10 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/aca49c87-fd42-484e-b7a9-12093e598112_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>51</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 7_Vô Sở Đắc Giả</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 7_Vô Sở Đắc Giả</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 7 – Vô sở đắc giả</p><p><br></p><p>“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?</p><p>Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có sở đắc pháp chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, không.</p><p>Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không có sở đắc pháp nào.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói: ‘Ta phải trang nghiêm cõi Phật’, thì không thể gọi là Bồ-tát.</p><p>Vì sao? Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật, tức chẳng phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm.</p><p>Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát thông đạt vô ngã pháp, Như Lai nói người ấy là chân thật Bồ-tát.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 7 – Vô sở đắc giả&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có sở đắc pháp chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, không.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng thật không có sở đắc pháp nào.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói: ‘Ta phải trang nghiêm cõi Phật’, thì không thể gọi là Bồ-tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật, tức chẳng phải trang nghiêm, ấy gọi là trang nghiêm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát thông đạt vô ngã pháp, Như Lai nói người ấy là chân thật Bồ-tát.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="619415" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/9ab85727-46db-45a5-b950-087f44144726/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">b424478e-1131-419f-b145-422b4783289a</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/9ab85727-46db-45a5-b950-087f44144726</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:50:17 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/1b5d0e2d-1235-48d2-b565-cb3d2fba69a2_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>38</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 6_Pháp Không Sở Đắc</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 6_Pháp Không Sở Đắc</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 6 – Pháp không sở đắc</p><p><br></p><p>“Vì sao? Tu-bồ-đề! Như Lai nói đệ nhất ba-la-mật, tức chẳng phải đệ nhất ba-la-mật, ấy gọi là đệ nhất ba-la-mật.</p><p>Tu-bồ-đề! Nhẫn nhục ba-la-mật, Như Lai nói tức chẳng phải nhẫn nhục ba-la-mật, ấy gọi là nhẫn nhục ba-la-mật.</p><p>Vì sao? Tu-bồ-đề! Như thuở xưa ta bị vua Ca-lợi cắt thịt từng đốt, khi ấy ta không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.</p><p>Vì sao? Nếu khi ấy ta có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, ắt phải sanh lòng sân hận.</p><p>Tu-bồ-đề! Lại nhớ thuở quá khứ, ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với pháp không có sở đắc, ấy gọi là sở đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 6 – Pháp không sở đắc&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Vì sao? Tu-bồ-đề! Như Lai nói đệ nhất ba-la-mật, tức chẳng phải đệ nhất ba-la-mật, ấy gọi là đệ nhất ba-la-mật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề! Nhẫn nhục ba-la-mật, Như Lai nói tức chẳng phải nhẫn nhục ba-la-mật, ấy gọi là nhẫn nhục ba-la-mật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Tu-bồ-đề! Như thuở xưa ta bị vua Ca-lợi cắt thịt từng đốt, khi ấy ta không có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Nếu khi ấy ta có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, ắt phải sanh lòng sân hận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề! Lại nhớ thuở quá khứ, ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng, đối với pháp không có sở đắc, ấy gọi là sở đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="816692" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/d112de33-5d3a-4511-9c2d-036d97a84f85/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">1ed5971d-2b2d-401a-b3ed-7a8561845c47</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/d112de33-5d3a-4511-9c2d-036d97a84f85</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:39:29 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/80a7a86e-f354-4166-9c86-9f33d6793738_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>51</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 5_Ly Tướng Xuất Hiện</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 5_Ly Tướng Xuất Hiện</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 5 – Ly tướng xuất hiện</p><p><br></p><p>Tu-bồ-đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn!</p><p>Trong đời vị lai, nếu có chúng sanh nghe kinh này, sanh lòng tin trong sạch, thì người ấy có thật chăng?”</p><p>Phật nói: “Tu-bồ-đề! Không nên nói như vậy.</p><p>Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người trì giới, tu phước, đối với kinh này hay sanh lòng tin trong sạch, người ấy không phải một Phật, hai Phật, ba, bốn, năm Phật mà trồng các cội lành, đã ở nơi vô lượng ngàn muôn ức Phật mà trồng các cội lành.</p><p>Tu-bồ-đề! Nếu có người nghe kinh này, không kinh, không sợ, không hãi, nên biết người ấy rất là hi hữu.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 5 – Ly tướng xuất hiện&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề bạch Phật: “Bạch Thế Tôn!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời vị lai, nếu có chúng sanh nghe kinh này, sanh lòng tin trong sạch, thì người ấy có thật chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: “Tu-bồ-đề! Không nên nói như vậy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người trì giới, tu phước, đối với kinh này hay sanh lòng tin trong sạch, người ấy không phải một Phật, hai Phật, ba, bốn, năm Phật mà trồng các cội lành, đã ở nơi vô lượng ngàn muôn ức Phật mà trồng các cội lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề! Nếu có người nghe kinh này, không kinh, không sợ, không hãi, nên biết người ấy rất là hi hữu.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="716800" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3b34ad48-4533-415e-9960-bf565a0b3f87/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">c9b61aba-3929-412a-96cb-1862b8d6f445</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3b34ad48-4533-415e-9960-bf565a0b3f87</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:38:08 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/800547e6-a2fa-4ee0-b049-1c12a161e016_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>44</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 4_Chánh Pháp Không Trụ</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 4_Chánh Pháp Không Trụ</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 4 – Chánh pháp không trụ</p><p><br></p><p>“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?</p><p>Có thể do thân tướng mà thấy Như Lai chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, không thể.</p><p>Không thể do thân tướng mà thấy Như Lai.</p><p>Vì sao? Vì Như Lai nói thân tướng, tức phi thân tướng.”</p><p>Phật bảo Tu-bồ-đề: “Phàm những gì có tướng, đều là hư vọng.</p><p>Nếu thấy các tướng phi tướng, tức thấy Như Lai.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 4 – Chánh pháp không trụ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có thể do thân tướng mà thấy Như Lai chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, không thể.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thể do thân tướng mà thấy Như Lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì Như Lai nói thân tướng, tức phi thân tướng.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Tu-bồ-đề: “Phàm những gì có tướng, đều là hư vọng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu thấy các tướng phi tướng, tức thấy Như Lai.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="480235" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/c956f95f-d8b5-457d-a5fe-ddc74f97d4e2/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">3de2c864-c174-4207-8f96-52d237aedb00</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/c956f95f-d8b5-457d-a5fe-ddc74f97d4e2</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:35:27 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/2f777fd6-e847-4be1-a907-a50176461d74_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>30</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 3_Phước Đức Không Thể Nghĩ Bàn</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 3_Phước Đức Không Thể Nghĩ Bàn</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 3 – Phước đức không thể nghĩ bàn</p><p><br></p><p>“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?</p><p>Phương đông hư không có thể nghĩ bàn chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, không thể.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Nam, tây, bắc, bốn phương phụ, trên dưới hư không có thể nghĩ bàn chăng?”</p><p>“Bạch Thế Tôn, không thể.”</p><p>“Tu-bồ-đề! Bồ-tát không trụ tướng bố thí, phước đức cũng lại như vậy, không thể nghĩ bàn.</p><p>Tu-bồ-đề! Bồ-tát chỉ nên như lời dạy ấy mà trụ.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 3 – Phước đức không thể nghĩ bàn&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phương đông hư không có thể nghĩ bàn chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, không thể.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Nam, tây, bắc, bốn phương phụ, trên dưới hư không có thể nghĩ bàn chăng?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Bạch Thế Tôn, không thể.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Tu-bồ-đề! Bồ-tát không trụ tướng bố thí, phước đức cũng lại như vậy, không thể nghĩ bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề! Bồ-tát chỉ nên như lời dạy ấy mà trụ.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="541257" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/157bbd82-9a42-4b5a-81c1-d458198d41f3/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">20601944-f930-4b46-84c9-1fefc4e56bc3</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/157bbd82-9a42-4b5a-81c1-d458198d41f3</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:29:14 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/3e3cb66d-5500-433b-b81d-4e34d72adcf8_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>33</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 2_Không Trụ Tướng Bố Thí</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 2_Không Trụ Tướng Bố Thí</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 2 – Không trụ tướng bố thí</p><p><br></p><p>Phật nói: “Tu-bồ-đề! Các vị Bồ-tát nên hàng phục tâm như vầy:</p><p>Tất cả các loài chúng sanh, nếu loài trứng sinh, loài thai sinh, loài thấp sinh, loài hóa sinh, có hình sắc, không hình sắc, có tưởng, không tưởng, phi có tưởng phi vô tưởng, ta đều khiến vào Niết-bàn vô dư mà độ thoát.</p><p>Khi độ thoát vô lượng chúng sanh như vậy, thật không có chúng sanh nào được độ thoát.</p><p>Vì sao? Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thì không phải Bồ-tát.</p><p>Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ-tát đối với pháp, không nên trụ nơi đâu mà bố thí.</p><p>Nghĩa là không trụ nơi sắc mà bố thí, không trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.</p><p>Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên như vậy bố thí, không trụ tướng.</p><p>Vì sao? Vì nếu Bồ-tát không trụ tướng bố thí, phước đức ấy không thể nghĩ bàn.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 2 – Không trụ tướng bố thí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật nói: “Tu-bồ-đề! Các vị Bồ-tát nên hàng phục tâm như vầy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tất cả các loài chúng sanh, nếu loài trứng sinh, loài thai sinh, loài thấp sinh, loài hóa sinh, có hình sắc, không hình sắc, có tưởng, không tưởng, phi có tưởng phi vô tưởng, ta đều khiến vào Niết-bàn vô dư mà độ thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi độ thoát vô lượng chúng sanh như vậy, thật không có chúng sanh nào được độ thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thì không phải Bồ-tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại nữa, Tu-bồ-đề! Bồ-tát đối với pháp, không nên trụ nơi đâu mà bố thí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghĩa là không trụ nơi sắc mà bố thí, không trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố thí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên như vậy bố thí, không trụ tướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì sao? Vì nếu Bồ-tát không trụ tướng bố thí, phước đức ấy không thể nghĩ bàn.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="1040718" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/5cc2f942-10bd-43a3-851a-3023e726c1e7/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">1fcbbb08-45d0-494f-8f46-28ca5c922d40</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/5cc2f942-10bd-43a3-851a-3023e726c1e7</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:25:02 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/6b695a09-6efe-4df7-87c5-e3d2ff91b1a4_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>65</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Kim Cang_Phần 1_Pháp Hội Tại Kỳ Viên</itunes:title>
                <title>Kinh Kim Cang_Phần 1_Pháp Hội Tại Kỳ Viên</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Kim Cang-PHẦN 1 – Pháp hội tại Kỳ Viên</p><p><br></p><p>Tôi nghe như vầy:</p><p>Một thời Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp-cô-độc, nước Xá-vệ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.</p><p>Khi ấy, đến giờ khất thực, Đức Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào thành lớn Xá-vệ để khất thực.</p><p>Trong thành ấy, khất thực lần lượt xong, Ngài trở về tinh xá.</p><p>Cơm xong, cất y bát, rửa chân, trải tọa cụ mà ngồi.</p><p>Bấy giờ, trong chúng, Tôn giả Tu-bồ-đề từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai bên phải, gối bên phải quỳ sát đất, chắp tay hướng về Phật mà bạch rằng:</p><p>“Hi hữu, Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm các Bồ-tát, khéo phó chúc các Bồ-tát.</p><p>Bạch Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ như thế nào? Nên hàng phục tâm như thế nào?”</p><p>Phật bảo Tu-bồ-đề: “Lành thay, lành thay! Như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các Bồ-tát, khéo phó chúc các Bồ-tát.</p><p>Nay ông hãy lắng nghe, tôi sẽ vì ông mà nói: Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ như vậy, nên hàng phục tâm như vậy.”</p><p>Tu-bồ-đề bạch: “Dạ, bạch Thế Tôn, con muốn được nghe.”</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Kim Cang-PHẦN 1 – Pháp hội tại Kỳ Viên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tôi nghe như vầy:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Một thời Đức Phật ở tại vườn Kỳ-đà Cấp-cô-độc, nước Xá-vệ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ấy, đến giờ khất thực, Đức Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào thành lớn Xá-vệ để khất thực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong thành ấy, khất thực lần lượt xong, Ngài trở về tinh xá.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cơm xong, cất y bát, rửa chân, trải tọa cụ mà ngồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ, trong chúng, Tôn giả Tu-bồ-đề từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo vai bên phải, gối bên phải quỳ sát đất, chắp tay hướng về Phật mà bạch rằng:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Hi hữu, Thế Tôn! Như Lai khéo hộ niệm các Bồ-tát, khéo phó chúc các Bồ-tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bạch Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ như thế nào? Nên hàng phục tâm như thế nào?”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật bảo Tu-bồ-đề: “Lành thay, lành thay! Như lời ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các Bồ-tát, khéo phó chúc các Bồ-tát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ông hãy lắng nghe, tôi sẽ vì ông mà nói: Thiện nam tử, thiện nữ nhân phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên trụ như vậy, nên hàng phục tâm như vậy.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu-bồ-đề bạch: “Dạ, bạch Thế Tôn, con muốn được nghe.”&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="1350844" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/7cb39037-19c3-4ff1-8c2a-cdc698c1790f/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">31bd8341-0903-4bba-8075-c6361df7c4a8</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/7cb39037-19c3-4ff1-8c2a-cdc698c1790f</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:21:36 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/3ddfaed6-db96-4024-8d10-78fb649fcecc_kinh_kim_cang.jpg"/>
                <itunes:duration>84</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Tâm Kinh</itunes:title>
                <title>Kinh Tâm Kinh</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Lời dẫn:</p><p>Kinh Tâm Kinh (Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh) là tinh hoa của bộ kinh Bát Nhã, dạy về trí tuệ siêu việt (Bát Nhã) nhận ra tính không của vạn pháp, rằng ngũ uẩn đều hư ảo, giúp chúng sinh vượt qua mọi khổ đau, ách nạn, và đạt đến giác ngộ Niết Bàn.</p><p>Kinh văn:</p><p>Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.</p><p>Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.</p><p>Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.</p><p>Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.</p><p>Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo.</p><p>Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.</p><p>Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.</p><p>Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.</p><p>Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.</p><p>Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:</p><p>Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm Kinh Tâm Kinh:</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh Tâm Kinh mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí tuệ Bát Nhã, trừ diệt khổ đau ách nạn, phá trừ chấp trước, xa lìa điên đảo mộng tưởng, dẫn đến cứu cánh Niết Bàn và giác ngộ viên mãn, đồng thời được chư Phật ba đời hộ niệm.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Tâm Kinh (Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh) là tinh hoa của bộ kinh Bát Nhã, dạy về trí tuệ siêu việt (Bát Nhã) nhận ra tính không của vạn pháp, rằng ngũ uẩn đều hư ảo, giúp chúng sinh vượt qua mọi khổ đau, ách nạn, và đạt đến giác ngộ Niết Bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm Kinh Tâm Kinh:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh Tâm Kinh mang lại lợi ích vô lượng: tăng trưởng trí tuệ Bát Nhã, trừ diệt khổ đau ách nạn, phá trừ chấp trước, xa lìa điên đảo mộng tưởng, dẫn đến cứu cánh Niết Bàn và giác ngộ viên mãn, đồng thời được chư Phật ba đời hộ niệm.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2129502" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/4ce7ad08-6229-4fe1-b0b2-a3a12c0ba7b5/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">3fba1abb-463f-4f9a-8404-425529f3f8b5</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/4ce7ad08-6229-4fe1-b0b2-a3a12c0ba7b5</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 03:11:50 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/3/8ff7b5c0-1f9c-4d41-925c-6d534d6de7f2_kinh_t_m_kinh.jpg"/>
                <itunes:duration>133</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh A Di Đà (Thuộc 8 bộ Kinh Thường Gặp: 1. Kinh A Di Đà I 2. Kinh Kim Cang I 3. Kinh Tâm Kinh I 4. Kinh Pháp Hoa I 5. Kinh Địa Tạng I 6. Kinh Lăng Nghiêm I 7. Kinh Hoa Nghiêm I 8. Kinh Niết Bàn)</itunes:title>
                <title>Kinh A Di Đà (Thuộc 8 bộ Kinh Thường Gặp: 1. Kinh A Di Đà I 2. Kinh Kim Cang I 3. Kinh Tâm Kinh I 4. Kinh Pháp Hoa I 5. Kinh Địa Tạng I 6. Kinh Lăng Nghiêm I 7. Kinh Hoa Nghiêm I 8. Kinh Niết Bàn)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>TOÀN VĂN KINH A DI ĐÀ</p><p>Dẫn nhập:</p><p>Kinh A Di Đà là một trong những bộ kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa, mô tả thế giới Cực Lạc – một cõi tịnh độ an vui do Phật A Di Đà làm chủ. Kinh nhấn mạnh lời nguyện cứu độ của Phật A Di Đà, giúp chúng sinh thoát khổ bằng cách niệm danh hiệu Ngài, dẫn đến vãng sinh về cõi ấy để tu tập và đạt giác ngộ.</p><p>Kinh Văn:</p><p>Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát (ba lần).</p><p>Phật Nói Kinh A Di Đà.</p><p>Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ, cấp Cô Độc nước Xá-Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội: đều là bậc A La Hán mọi người đều quen biết, như là: Trưởng lão Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Đại Ca-Diếp, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, Ma-Ha Câu-Hy-La, Ly-Bà-Đa, Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già, Nan-Đà, A-Nan-Đà, La-Hầu-La, Kiều-Phạm-Ba-Đề, Tân Đầu-Lư-Phả-La-Đọa, Ca-Lưu-Đà-Di, Ma-Ha Kiếp Tân Na, Bạc-Câu-La, A-Nâu-Lầu-Đà, những vị đại đệ tử như thế. Và hàng Đại Bồ Tát, Văn-Thù-Sư-Lợi: Pháp-Vương-Tử, A-Dật-Đa Bồ Tát, Càn-Đà-Ha-Đề Bồ Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ tát… cùng với các vị Đại Bồ tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích-Đề-Hoàn-Nhơn.... đại chúng cùng đến dự hội.</p><p>Bấy giờ đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá-Lợi-Phất rằng: “Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.</p><p>Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.</p><p>Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.</p><p>Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.</p><p>Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sánh trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch.</p><p>Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.</p><p>Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của đức Phật đó, thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời mạn đà la. Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành.</p><p>Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.</p><p>Tiếng chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần.. Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!</p><p>Xá-Lợi-Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hóa làm ra đấy thôi.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Trong cõi nước của đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung. Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di</p><p>Đà?</p><p>Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn nại đến nay, đã được mười kiếp.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bực A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ tát chúng cũng đông như thế.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Lại trong cõi cực lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực bất thối chuyển.</p><p>Trong đó có rất nhiều vị bực nhất sanh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a-tăng-kỳ để nói thôi!</p><p>Xá-Lợi-Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sanh về nước đó. Vì sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.</p><p>Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có đức A-Súc-Bệ-Phật, Tu-Di-Tướng Phật, Đại-Tu-Di Phật, Tu-Di-Quang Phật, Diệu-Âm Phật; Hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Nam, có đức Nhật- Nguyệt-Đăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tu Di-Đăng Phật, Vô-Lượng-Tinh-Tấn Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại-Minh Phật, Bửu-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Bắc, có đức Diệm-Kiên-Phật, Tối-Thắng-Âm Phật, Nan-Trở Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng-Minh Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương dưới, có đức Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, Đạt-Mạ Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ</p><p>Niệm Này”.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương trên, có đức Phạm-Âm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc Bửu-Hoa-Nghiêm-Thân Phật, Ta La-Thọ-Vương Phật, Bửu-Hoa Đức Phật, Kiến-Nhất-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Nơi ý của ông nghĩ thế nào, vì sao tên là Kinh: Nhứt-Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm?</p><p>Xá-Lợi-Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của đức Phật, thời những thiện nam tử cùng thiện nữ nhân ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các đức Phật nói.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi nước của đức Phật A Di Đà, thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; nơi cõi nước kia, hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Cho nên các thiện nam tử thiện nữ nhân nếu người nào có lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời nầy: “Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có thể ở trong cõi Ta Bà đời ác năm món trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài vì các chúng sanh nói kinh pháp mà tất cả thế gian khó tin này”.</p><p>Xá-Lợi-Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó!</p><p>Đức Phật nói kinh này rồi, ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Tỳ kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A-Tu-La, v.v… nghe lời của Đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận, đảnh lễ Phật mà lui ra.</p><p>Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh A Di Đà:</p><p>Việc nghe và trì niệm Kinh A Di Đà mang lại lợi ích to lớn: giúp tâm trí thanh tịnh, được chư Phật hộ niệm, tăng trưởng thiện căn, dẫn đến vãng sinh về cõi Cực Lạc, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử khổ đau, và cuối cùng đạt được quả vị giác ngộ viên mãn.</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;TOÀN VĂN KINH A DI ĐÀ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn nhập:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh A Di Đà là một trong những bộ kinh quan trọng của Phật giáo Đại thừa, mô tả thế giới Cực Lạc – một cõi tịnh độ an vui do Phật A Di Đà làm chủ. Kinh nhấn mạnh lời nguyện cứu độ của Phật A Di Đà, giúp chúng sinh thoát khổ bằng cách niệm danh hiệu Ngài, dẫn đến vãng sinh về cõi ấy để tu tập và đạt giác ngộ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh Văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nam mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát (ba lần).&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phật Nói Kinh A Di Đà.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọ, cấp Cô Độc nước Xá-Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội: đều là bậc A La Hán mọi người đều quen biết, như là: Trưởng lão Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Đại Ca-Diếp, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, Ma-Ha Câu-Hy-La, Ly-Bà-Đa, Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già, Nan-Đà, A-Nan-Đà, La-Hầu-La, Kiều-Phạm-Ba-Đề, Tân Đầu-Lư-Phả-La-Đọa, Ca-Lưu-Đà-Di, Ma-Ha Kiếp Tân Na, Bạc-Câu-La, A-Nâu-Lầu-Đà, những vị đại đệ tử như thế. Và hàng Đại Bồ Tát, Văn-Thù-Sư-Lợi: Pháp-Vương-Tử, A-Dật-Đa Bồ Tát, Càn-Đà-Ha-Đề Bồ Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ tát… cùng với các vị Đại Bồ tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích-Đề-Hoàn-Nhơn.... đại chúng cùng đến dự hội.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bấy giờ đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá-Lợi-Phất rằng: “Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực lạc? Vì chúng sanh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất. Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sánh trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của đức Phật đó, thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời mạn đà la. Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Lại nữa, Xá-Lợi-Phất! Cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, nào chim Bạch hạc, Khổng-tước, Anh-võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời kêu tiếng hòa nhã.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tiếng chim đó diễn nói những pháp như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần, bát thánh đạo phần.. Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó thiệt là do tội báo sanh ra. Vì sao? Vì cõi của đức Phật đó không có ba đường dữ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Cõi của đức Phật đó tên đường dữ còn không có huống gì lại có sự thật. Những giống chim đó là do đức Phật A Di Đà muốn làm cho tiếng pháp được tuyên lưu mà biến hóa làm ra đấy thôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Trong cõi nước của đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung. Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Nơi ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đà?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó, hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại vì thế nên hiệu là A Di Đà.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Đức Phật A Di Đà thành Phật nhẫn nại đến nay, đã được mười kiếp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử đều là bực A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ tát chúng cũng đông như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Lại trong cõi cực lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực bất thối chuyển.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đó có rất nhiều vị bực nhất sanh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên a-tăng-kỳ để nói thôi!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sanh về nước đó. Vì sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhơn duyên mà được sanh về cõi đó.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tạp loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có đức A-Súc-Bệ-Phật, Tu-Di-Tướng Phật, Đại-Tu-Di Phật, Tu-Di-Quang Phật, Diệu-Âm Phật; Hằng hà sa số những đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi Tam thiên Đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Nam, có đức Nhật- Nguyệt-Đăng Phật, Danh-Văn-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tu Di-Đăng Phật, Vô-Lượng-Tinh-Tấn Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Tây, có đức Vô Lượng-Thọ Phật, Vô-Lượng-Tướng Phật, Vô-Lượng-Tràng Phật, Đại Quang Phật, Đại-Minh Phật, Bửu-Tướng Phật, Tịnh-Quang Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương Bắc, có đức Diệm-Kiên-Phật, Tối-Thắng-Âm Phật, Nan-Trở Phật, Nhựt-Sanh Phật, Võng-Minh Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương dưới, có đức Sư-Tử Phật, Danh-Văn Phật, Danh-Quang Phật, Đạt-Mạ Phật, Pháp-Tràng Phật, Trì-Pháp Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niệm Này”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Thế giới phương trên, có đức Phạm-Âm Phật, Tú-Vương Phật, Hương-Thượng Phật, Hương-Quang Phật, Đại-Diệm-Kiên Phật, Tạp-Sắc Bửu-Hoa-Nghiêm-Thân Phật, Ta La-Thọ-Vương Phật, Bửu-Hoa Đức Phật, Kiến-Nhất-Thiết-Nghĩa Phật, Như-Tu-Di-Sơn Phật… Hằng hà sa số những đức Phật như thế, đều tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin Kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Nơi ý của ông nghĩ thế nào, vì sao tên là Kinh: Nhứt-Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe kinh này mà thọ trì đó, và nghe danh hiệu của đức Phật, thời những thiện nam tử cùng thiện nữ nhân ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thối chuyển nơi đạo Vô thượng chánh đẳng chánh giác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Cho nên các ông đều phải tin nhận lời của Ta và của các đức Phật nói.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cõi nước của đức Phật A Di Đà, thời những người ấy đều đặng không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; nơi cõi nước kia, hoặc đã sanh về rồi, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Cho nên các thiện nam tử thiện nữ nhân nếu người nào có lòng tin thời phải nên phát nguyện sanh về cõi nước kia.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, các đức Phật đó cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta mà nói lời nầy: “Đức Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm được việc rất khó khăn hi hữu, có thể ở trong cõi Ta Bà đời ác năm món trược: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, mà Ngài chứng được ngôi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài vì các chúng sanh nói kinh pháp mà tất cả thế gian khó tin này”.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xá-Lợi-Phất! Phải biết rằng Ta ở trong đời ác ngũ trược thật hành việc khó này: đặng thành bậc Vô Thượng Chánh Giác và vì tất cả thế gian nói kinh pháp khó tin này, đó là rất khó!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đức Phật nói kinh này rồi, ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Tỳ kheo, tất cả trong đời: Trời, Người, A-Tu-La, v.v… nghe lời của Đức Phật dạy, đều vui mừng tin nhận, đảnh lễ Phật mà lui ra.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lợi lạc của việc nghe và trì niệm kinh A Di Đà:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc nghe và trì niệm Kinh A Di Đà mang lại lợi ích to lớn: giúp tâm trí thanh tịnh, được chư Phật hộ niệm, tăng trưởng thiện căn, dẫn đến vãng sinh về cõi Cực Lạc, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử khổ đau, và cuối cùng đạt được quả vị giác ngộ viên mãn.&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="11645178" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/8dae7ce6-6a2c-4d84-b726-d6b583bef82e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">e2fb2290-9d78-4dca-b17d-6e7518464c56</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/8dae7ce6-6a2c-4d84-b726-d6b583bef82e</link>
                <pubDate>Thu, 06 Nov 2025 02:51:43 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/6/2/02a3ef9d-e730-4f14-abb0-adf2176781d1_kinh_add.jpg"/>
                <itunes:duration>727</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 21_Địa Ngục (Bộ 26 Phẩm)_test</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 21_Địa Ngục (Bộ 26 Phẩm)_test</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 21: TẠP LỤC (Pakiṇṇaka Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Tạp Lục là tập hợp nhiều lời dạy ngắn gọn nhưng sâu sắc của Đức Phật, nhắc người tu luôn giữ chánh niệm, hành thiện, và sống trí tuệ trong từng việc nhỏ nhất. Mỗi câu là một viên ngọc của tuệ giác, giúp ta soi chiếu lại đời sống mình để sống đúng pháp, đúng tâm. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm được tỉnh thức, sáng suốt và vững chãi trong mọi hoàn cảnh.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Bỏ điều lợi nhỏ,</p><p>Thấy điều lợi lớn hơn,</p><p>Người trí bỏ lợi nhỏ,</p><p>Để đạt lợi ích lớn và lâu dài.</p><p><br></p><p>Ai muốn lợi mình mà làm hại người,</p><p>Kẻ ấy sẽ bị oán hận,</p><p>Và khổ đau sẽ trở lại với chính mình.</p><p><br></p><p>Không nên làm việc ác,</p><p>Không nên bỏ việc lành,</p><p>Ai buông lung theo ác,</p><p>Sau phải gặt lấy khổ đau.</p><p><br></p><p>Như hoa tươi đẹp nhưng không hương,</p><p>Lời nói hay mà không thực hành,</p><p>Không đem lại kết quả.</p><p><br></p><p>Như hoa tươi đẹp lại có hương,</p><p>Lời nói hay kèm việc làm thiện,</p><p>Đem lại phước báu lớn lao.</p><p><br></p><p>Ai làm được điều nên làm,</p><p>Đừng để lòng hối tiếc,</p><p>Người trí làm việc thiện,</p><p>Không bao giờ sầu muộn.</p><p><br></p><p>Như ong lấy mật nơi hoa,</p><p>Không làm hại màu và hương,</p><p>Người trí đến với đời,</p><p>Không làm tổn hại ai.</p><p><br></p><p>Đừng nhìn lỗi người,</p><p>Đừng nhìn điều người làm hay chưa,</p><p>Hãy nhìn việc chính mình,</p><p>Điều mình đã làm hay chưa.</p><p><br></p><p>Như hoa sen mọc giữa bùn,</p><p>Không nhiễm bùn,</p><p>Người tu sống giữa đời,</p><p>Không bị đời làm ô uế.</p><p><br></p><p>Ai nói lời thiện,</p><p>Ai làm việc thiện,</p><p>Ai giữ tâm thiện,</p><p>Người ấy được hạnh phúc lớn.</p><p><br></p><p>Ai sống chánh niệm,</p><p>Không phóng dật,</p><p>Người ấy như ánh sáng,</p><p>Chiếu soi giữa đêm tối vô minh.</p><p><br></p><p>Hãy tránh điều ác dù nhỏ,</p><p>Như tránh hố lửa,</p><p>Hãy làm điều lành dù nhỏ,</p><p>Như góp giọt nước thành sông.</p><p><br></p><p>Hết Phẩm 21.</p><p>Nghe và trì niệm Phẩm Tạp Lục giúp ta nuôi dưỡng chánh niệm và tinh tấn trong đời thường. Khi biết nhìn lại mình, hành thiện trong từng việc nhỏ, tâm dần thanh tịnh, phước đức tăng trưởng, và cuộc sống trở nên an vui, sáng trong.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 22 – Địa Ngục (Nirayavagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 21: TẠP LỤC (Pakiṇṇaka Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Tạp Lục là tập hợp nhiều lời dạy ngắn gọn nhưng sâu sắc của Đức Phật, nhắc người tu luôn giữ chánh niệm, hành thiện, và sống trí tuệ trong từng việc nhỏ nhất. Mỗi câu là một viên ngọc của tuệ giác, giúp ta soi chiếu lại đời sống mình để sống đúng pháp, đúng tâm. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm được tỉnh thức, sáng suốt và vững chãi trong mọi hoàn cảnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bỏ điều lợi nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy điều lợi lớn hơn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí bỏ lợi nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Để đạt lợi ích lớn và lâu dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai muốn lợi mình mà làm hại người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ấy sẽ bị oán hận,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và khổ đau sẽ trở lại với chính mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nên làm việc ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nên bỏ việc lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai buông lung theo ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau phải gặt lấy khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa tươi đẹp nhưng không hương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói hay mà không thực hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không đem lại kết quả.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa tươi đẹp lại có hương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói hay kèm việc làm thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đem lại phước báu lớn lao.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai làm được điều nên làm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng để lòng hối tiếc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí làm việc thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không bao giờ sầu muộn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ong lấy mật nơi hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không làm hại màu và hương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí đến với đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không làm tổn hại ai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng nhìn lỗi người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng nhìn điều người làm hay chưa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy nhìn việc chính mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Điều mình đã làm hay chưa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa sen mọc giữa bùn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nhiễm bùn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người tu sống giữa đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không bị đời làm ô uế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nói lời thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai làm việc thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai giữ tâm thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy được hạnh phúc lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống chánh niệm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phóng dật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy như ánh sáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chiếu soi giữa đêm tối vô minh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy tránh điều ác dù nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như tránh hố lửa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy làm điều lành dù nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như góp giọt nước thành sông.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết Phẩm 21.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Phẩm Tạp Lục giúp ta nuôi dưỡng chánh niệm và tinh tấn trong đời thường. Khi biết nhìn lại mình, hành thiện trong từng việc nhỏ, tâm dần thanh tịnh, phước đức tăng trưởng, và cuộc sống trở nên an vui, sáng trong.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 22 – Địa Ngục (Nirayavagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2535758" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3acd655d-b68b-44c9-aca0-1528fcea9c7f/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">241ed7ad-8e4c-44a7-9e5c-7dc544f508cf</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3acd655d-b68b-44c9-aca0-1528fcea9c7f</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 09:56:51 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/9/11b536a3-a8c1-42ca-bcaf-7f446e9bc6dd_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>158</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 20 (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 20 (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 20: ĐẠO (Maggavagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Đạo trình bày con đường đưa đến an vui và giải thoát – đó là Bát Chánh Đạo, là đời sống có trí tuệ, giới hạnh và định tâm. Người biết đi đúng đường sẽ thoát khỏi khổ đau, không còn lầm lạc trong vòng sinh tử. Nghe và trì niệm phẩm này giúp ta nhận ra hướng đi sáng của tâm linh, khơi dậy niềm tin và sự tinh tấn trên đường tu học.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Trong các con đường,</p><p>Bát Chánh Đạo là tối thượng;</p><p>Trong các pháp,</p><p>Pháp Tứ Đế là bậc nhất;</p><p>Trong các pháp hạnh,</p><p>Từ bỏ ái là tối thắng.</p><p><br></p><p>Quả thật, đây là con đường duy nhất,</p><p>Không có con đường nào khác,</p><p>Đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh;</p><p>Hãy theo con đường này,</p><p>Ngươi sẽ đoạn tận khổ đau.</p><p><br></p><p>Ta đã chỉ con đường,</p><p>Dẫn đến chấm dứt khổ đau;</p><p>Tự ngươi phải nỗ lực,</p><p>Chư Phật chỉ là người chỉ đường.</p><p><br></p><p>Hãy tinh tấn nỗ lực,</p><p>Người hành trì con đường này,</p><p>Sẽ thoát khỏi ách ràng buộc,</p><p>Của sanh tử, khổ đau.</p><p><br></p><p>Mọi pháp hữu vi đều vô thường,</p><p>Ai thấy rõ điều ấy bằng trí tuệ,</p><p>Sẽ chán lìa khổ não;</p><p>Đó là con đường thanh tịnh.</p><p><br></p><p>Mọi pháp hữu vi đều khổ,</p><p>Ai thấy rõ điều ấy bằng trí tuệ,</p><p>Sẽ chán lìa khổ não;</p><p>Đó là con đường thanh tịnh.</p><p><br></p><p>Mọi pháp hữu vi đều vô ngã,</p><p>Ai thấy rõ điều ấy bằng trí tuệ,</p><p>Sẽ chán lìa khổ não;</p><p>Đó là con đường thanh tịnh.</p><p><br></p><p>Người lười biếng, không tinh tấn,</p><p>Không hướng tâm về đạo,</p><p>Không điều phục căn, không chánh niệm,</p><p>Người ấy không đạt đạo.</p><p><br></p><p>Người trí tỉnh giác,</p><p>Tinh tấn tu hành,</p><p>Đi đúng con đường,</p><p>Sẽ thoát khỏi luân hồi.</p><p><br></p><p>Người trí tự điều phục,</p><p>Như người thợ khéo uốn tên,</p><p>Tự gọt giũa thân tâm,</p><p>Sẽ đạt đến an tịnh.</p><p><br></p><p>Hãy cắt đứt rừng ái,</p><p>Không chỉ một cây;</p><p>Từ rừng ái mọc ra sợ hãi,</p><p>Cắt sạch rừng ái, mới được an vui.</p><p><br></p><p>Chừng nào chưa đoạn ái dục,</p><p>Lòng còn luyến ái vợ con,</p><p>Người ấy vẫn chưa tự do,</p><p>Như con bê còn theo mẹ.</p><p><br></p><p>Hãy cắt ái, diệt ái,</p><p>Như bứt hoa sen khỏi bùn nhơ,</p><p>Hãy bước đi con đường an tịnh,</p><p>Đưa đến giải thoát vô biên.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 20.</p><p>Nghe và trì niệm Phẩm Đạo giúp tâm thấy rõ con đường chân chánh để thoát khổ. Khi hiểu và hành theo Bát Chánh Đạo, người ấy sẽ dần diệt vô minh, thanh lọc tâm ý, và đạt đến an lạc chân thật. Công đức nghe – trì phẩm này giúp khơi dậy trí sáng, gieo nhân giải thoát và đem lại bình yên cho đời.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 21 – Phẩm Tạp Lục (Pakiṇṇaka Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 20: ĐẠO (Maggavagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Đạo trình bày con đường đưa đến an vui và giải thoát – đó là Bát Chánh Đạo, là đời sống có trí tuệ, giới hạnh và định tâm. Người biết đi đúng đường sẽ thoát khỏi khổ đau, không còn lầm lạc trong vòng sinh tử. Nghe và trì niệm phẩm này giúp ta nhận ra hướng đi sáng của tâm linh, khơi dậy niềm tin và sự tinh tấn trên đường tu học.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong các con đường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bát Chánh Đạo là tối thượng;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong các pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Pháp Tứ Đế là bậc nhất;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong các pháp hạnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bỏ ái là tối thắng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Quả thật, đây là con đường duy nhất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có con đường nào khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đưa đến thanh tịnh cho chúng sinh;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy theo con đường này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngươi sẽ đoạn tận khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta đã chỉ con đường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dẫn đến chấm dứt khổ đau;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự ngươi phải nỗ lực,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phật chỉ là người chỉ đường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy tinh tấn nỗ lực,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hành trì con đường này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ thoát khỏi ách ràng buộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Của sanh tử, khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mọi pháp hữu vi đều vô thường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy rõ điều ấy bằng trí tuệ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chán lìa khổ não;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là con đường thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mọi pháp hữu vi đều khổ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy rõ điều ấy bằng trí tuệ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chán lìa khổ não;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là con đường thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mọi pháp hữu vi đều vô ngã,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy rõ điều ấy bằng trí tuệ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chán lìa khổ não;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là con đường thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người lười biếng, không tinh tấn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hướng tâm về đạo,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không điều phục căn, không chánh niệm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy không đạt đạo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí tỉnh giác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tinh tấn tu hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đi đúng con đường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ thoát khỏi luân hồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí tự điều phục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người thợ khéo uốn tên,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự gọt giũa thân tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ đạt đến an tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy cắt đứt rừng ái,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không chỉ một cây;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ rừng ái mọc ra sợ hãi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cắt sạch rừng ái, mới được an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chừng nào chưa đoạn ái dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng còn luyến ái vợ con,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy vẫn chưa tự do,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như con bê còn theo mẹ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy cắt ái, diệt ái,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như bứt hoa sen khỏi bùn nhơ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy bước đi con đường an tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đưa đến giải thoát vô biên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 20.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Phẩm Đạo giúp tâm thấy rõ con đường chân chánh để thoát khổ. Khi hiểu và hành theo Bát Chánh Đạo, người ấy sẽ dần diệt vô minh, thanh lọc tâm ý, và đạt đến an lạc chân thật. Công đức nghe – trì phẩm này giúp khơi dậy trí sáng, gieo nhân giải thoát và đem lại bình yên cho đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 21 – Phẩm Tạp Lục (Pakiṇṇaka Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="3061551" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/d2759eea-01cc-4096-b607-10423e5b68bd/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">fb662c9e-89e0-42a2-ac32-c9623cc36f94</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/d2759eea-01cc-4096-b607-10423e5b68bd</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 09:53:56 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/9/026f293a-8c4e-4c72-894d-2e8d85050b68_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>191</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 19_Hiền Trí (Bộ 26 Phẩm) (?)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 19_Hiền Trí (Bộ 26 Phẩm) (?)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 19: HIỀN TRÍ (Dhammaṭṭha Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Hiền Trí dạy rằng người thật sự trí tuệ không phải ở hình tướng hay lời nói, mà ở hành động chân chánh, tâm ngay thẳng, và biết sống đúng với chánh pháp. Trí tuệ không thể vay mượn — nó được trưởng dưỡng bằng thực hành, bằng đời sống trong sáng và tỉnh thức. Nghe và trì niệm phẩm này giúp mỗi người nhận ra giá trị của trí huệ, nuôi dưỡng tâm chánh trực và hành thiện trong từng việc làm.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Không vì hình tướng mà gọi là bậc hiền,</p><p>Không vì lời nói mà gọi là người trí.</p><p>Ai bình tĩnh, hiền hòa,</p><p>Người ấy thật là bậc hiền trí.</p><p><br></p><p>Không phải nhiều lời mà là người có trí,</p><p>Người bình tĩnh, không sân hận,</p><p>Dù ít nói, nhưng sống có trí,</p><p>Mới thật là người trí.</p><p><br></p><p>Không phải do tóc bạc mà thành bậc trưởng thượng,</p><p>Người chỉ có tuổi đời,</p><p>Chưa chắc là bậc lão thực.</p><p><br></p><p>Ai có trí, chân thật,</p><p>Không nhiễm ô, tự chế,</p><p>Sống chánh hạnh,</p><p>Người ấy mới thật là bậc trưởng thượng.</p><p><br></p><p>Không vì lời nói hay học rộng,</p><p>Mà được gọi là Sa-môn,</p><p>Ai dứt bỏ ác pháp,</p><p>Người ấy mới thật là Sa-môn.</p><p><br></p><p>Không phải chỉ nhờ trì giới,</p><p>Mà được gọi là Phạm chí,</p><p>Ai đã thanh tịnh, dứt trừ nhiễm ô,</p><p>Người ấy mới thật là Phạm chí.</p><p><br></p><p>Ai không làm hại ai,</p><p>Không nói dối, giữ giới,</p><p>Biết tiết chế, không tham,</p><p>Người ấy mới thật là người hiền.</p><p><br></p><p>Không phải chỉ nhờ ăn xin,</p><p>Mà được gọi là người tu,</p><p>Người thật tu là người buông bỏ,</p><p>Không tham đắm, sống chánh niệm.</p><p><br></p><p>Ai sống an tịnh,</p><p>Biết rõ pháp, không chấp thủ,</p><p>Không dính mắc đời này đời sau,</p><p>Người ấy thật là bậc trí.</p><p><br></p><p>Ai không bị khen chê làm dao động,</p><p>Tâm như đá tảng vững vàng,</p><p>Người ấy được gọi là bậc trí tuệ,</p><p>Sáng soi giữa đời.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 19.</p><p>Nghe và trì niệm Phẩm Hiền Trí giúp ta hiểu rằng trí tuệ không đến từ học rộng nói hay, mà từ tâm an tịnh và hành thiện. Khi biết sống chân thật, khiêm cung và chánh niệm, người ấy tự nhiên trở thành bậc hiền giữa đời. Công đức nghe và thực hành phẩm này giúp khai mở trí sáng và đem lại bình an lâu dài.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 20 – Đạo (Maggavagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 19: HIỀN TRÍ (Dhammaṭṭha Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Hiền Trí dạy rằng người thật sự trí tuệ không phải ở hình tướng hay lời nói, mà ở hành động chân chánh, tâm ngay thẳng, và biết sống đúng với chánh pháp. Trí tuệ không thể vay mượn — nó được trưởng dưỡng bằng thực hành, bằng đời sống trong sáng và tỉnh thức. Nghe và trì niệm phẩm này giúp mỗi người nhận ra giá trị của trí huệ, nuôi dưỡng tâm chánh trực và hành thiện trong từng việc làm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không vì hình tướng mà gọi là bậc hiền,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không vì lời nói mà gọi là người trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai bình tĩnh, hiền hòa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy thật là bậc hiền trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phải nhiều lời mà là người có trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người bình tĩnh, không sân hận,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù ít nói, nhưng sống có trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới thật là người trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phải do tóc bạc mà thành bậc trưởng thượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người chỉ có tuổi đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa chắc là bậc lão thực.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có trí, chân thật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nhiễm ô, tự chế,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống chánh hạnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy mới thật là bậc trưởng thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không vì lời nói hay học rộng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà được gọi là Sa-môn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai dứt bỏ ác pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy mới thật là Sa-môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phải chỉ nhờ trì giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà được gọi là Phạm chí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai đã thanh tịnh, dứt trừ nhiễm ô,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy mới thật là Phạm chí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai không làm hại ai,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nói dối, giữ giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết tiết chế, không tham,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy mới thật là người hiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phải chỉ nhờ ăn xin,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà được gọi là người tu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thật tu là người buông bỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không tham đắm, sống chánh niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống an tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết rõ pháp, không chấp thủ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không dính mắc đời này đời sau,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy thật là bậc trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai không bị khen chê làm dao động,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm như đá tảng vững vàng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy được gọi là bậc trí tuệ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáng soi giữa đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 19.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Phẩm Hiền Trí giúp ta hiểu rằng trí tuệ không đến từ học rộng nói hay, mà từ tâm an tịnh và hành thiện. Khi biết sống chân thật, khiêm cung và chánh niệm, người ấy tự nhiên trở thành bậc hiền giữa đời. Công đức nghe và thực hành phẩm này giúp khai mở trí sáng và đem lại bình an lâu dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 20 – Đạo (Maggavagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2630635" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/734ae105-a1ae-4500-bcfa-c9299946f0fe/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">e4f8362c-aa8d-4f8f-9002-9f5094d25f76</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/734ae105-a1ae-4500-bcfa-c9299946f0fe</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:32:28 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/8/ae675f0b-e427-4718-9439-94bfdb6dc1c6_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>164</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 18_Ái (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 18_Ái (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 18: PHẨM ÁI (Piya Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Ái dạy về sợi dây ràng buộc mạnh mẽ nhất trong đời sống con người — đó là ái dục, là sự dính mắc với người, với vật, với ý niệm về “ta và của ta”. Chính ái khiến con người trôi lăn trong sinh tử. Người tu học cần nhận ra bản chất vô thường của mọi pháp, để dần dứt bỏ chấp thủ và đạt được tâm tự tại. Nghe và trì niệm phẩm này giúp lòng bớt vướng mắc, tâm được nhẹ nhàng, và sống an vui giữa cuộc đời vô thường.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Ai sống buông lung theo ái dục,</p><p>Không biết tự chế,</p><p>Ái tăng trưởng như cỏ hoang,</p><p>Sẽ phải tái sinh như con khỉ tìm trái trong rừng.</p><p><br></p><p>Ai bị ái chi phối,</p><p>Dễ bị đau khổ chi phối,</p><p>Ai dứt ái ly dục,</p><p>Không còn sầu khổ, sợ hãi.</p><p><br></p><p>Ai sống theo ái,</p><p>Tự tạo khổ cho mình,</p><p>Như con thỏ sa lưới,</p><p>Khó thoát khỏi trần gian.</p><p><br></p><p>Ai thân ái với người thân,</p><p>Sẽ khổ khi chia ly,</p><p>Không thân ái, không ràng buộc,</p><p>Đó là an lạc lâu dài.</p><p><br></p><p>Từ ái sinh sầu muộn,</p><p>Từ ái sinh sợ hãi,</p><p>Không ái thì không sầu,</p><p>Không ái thì không sợ.</p><p><br></p><p>Ai có ái thì có khổ,</p><p>Không ái thì hết khổ,</p><p>Biết rõ điều ấy,</p><p>Người trí không còn chấp thủ.</p><p><br></p><p>Ai có lòng thương quá mức,</p><p>Sẽ chịu khổ vì thương,</p><p>Ai không thương mù quáng,</p><p>Không bị sầu khổ trói buộc.</p><p><br></p><p>Ai buộc lòng mình vào ái,</p><p>Người ấy đang gieo nhân trói buộc,</p><p>Ai buông bỏ mọi ái dục,</p><p>Người ấy tự do như gió giữa trời.</p><p><br></p><p>Người đầy lòng tin,</p><p>Biết pháp, sống chánh hạnh,</p><p>Không tham ái, biết điều độ,</p><p>Được người trí thương kính.</p><p><br></p><p>Ai mong cầu điều bất tử,</p><p>Tâm hướng về Niết-bàn,</p><p>Không còn ái nhiễm thế gian,</p><p>Người ấy được gọi là bậc thánh.</p><p><br></p><p>Khi người thân lâu ngày xa cách gặp lại,</p><p>Lòng hân hoan, vui sướng.</p><p>Cũng vậy, khi người lành qua đời,</p><p>Được hội ngộ chư thiện hữu.</p><p><br></p><p>Ai từng sống thiện lành,</p><p>Sau khi rời bỏ cõi này,</p><p>Sẽ sinh về nơi an lạc,</p><p>Như người thân gặp lại nhau chốn lành.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 18.</p><p>Nghe và trì niệm Phẩm Ái giúp nhận ra nguồn gốc của khổ là dính mắc và tham luyến. Khi tâm biết buông bỏ, lòng trở nên tự do, thanh thản. Công đức ấy giúp người nghe được an vui trong hiện tại, và gieo nhân giải thoát trong tương lai.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 19 – Hiền Trí (Dhammaṭṭha Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 18: PHẨM ÁI (Piya Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Ái dạy về sợi dây ràng buộc mạnh mẽ nhất trong đời sống con người — đó là ái dục, là sự dính mắc với người, với vật, với ý niệm về “ta và của ta”. Chính ái khiến con người trôi lăn trong sinh tử. Người tu học cần nhận ra bản chất vô thường của mọi pháp, để dần dứt bỏ chấp thủ và đạt được tâm tự tại. Nghe và trì niệm phẩm này giúp lòng bớt vướng mắc, tâm được nhẹ nhàng, và sống an vui giữa cuộc đời vô thường.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống buông lung theo ái dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không biết tự chế,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ái tăng trưởng như cỏ hoang,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ phải tái sinh như con khỉ tìm trái trong rừng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai bị ái chi phối,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dễ bị đau khổ chi phối,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai dứt ái ly dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn sầu khổ, sợ hãi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống theo ái,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự tạo khổ cho mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như con thỏ sa lưới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó thoát khỏi trần gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thân ái với người thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ khổ khi chia ly,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thân ái, không ràng buộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là an lạc lâu dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ ái sinh sầu muộn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ ái sinh sợ hãi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ái thì không sầu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ái thì không sợ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có ái thì có khổ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ái thì hết khổ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết rõ điều ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí không còn chấp thủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có lòng thương quá mức,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chịu khổ vì thương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai không thương mù quáng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không bị sầu khổ trói buộc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai buộc lòng mình vào ái,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy đang gieo nhân trói buộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai buông bỏ mọi ái dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy tự do như gió giữa trời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đầy lòng tin,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết pháp, sống chánh hạnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không tham ái, biết điều độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được người trí thương kính.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai mong cầu điều bất tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm hướng về Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn ái nhiễm thế gian,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy được gọi là bậc thánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi người thân lâu ngày xa cách gặp lại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng hân hoan, vui sướng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng vậy, khi người lành qua đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được hội ngộ chư thiện hữu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai từng sống thiện lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi rời bỏ cõi này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ sinh về nơi an lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người thân gặp lại nhau chốn lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 18.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Phẩm Ái giúp nhận ra nguồn gốc của khổ là dính mắc và tham luyến. Khi tâm biết buông bỏ, lòng trở nên tự do, thanh thản. Công đức ấy giúp người nghe được an vui trong hiện tại, và gieo nhân giải thoát trong tương lai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 19 – Hiền Trí (Dhammaṭṭha Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2822478" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/a9b476ef-6869-405a-b45b-6b4275376111/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d1b755c8-31b6-4a00-9bc8-273b4c94783e</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/a9b476ef-6869-405a-b45b-6b4275376111</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:28:33 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/8/7c860bad-6ca9-46e9-b9c1-3332f88b2bbb_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>176</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 17_Ô Uế (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 17_Ô Uế (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 17: Ô UẾ (Mala Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Ô Uế dạy rằng, điều làm ô nhiễm con người không phải là bụi đất bên ngoài, mà chính là những nhiễm ô trong tâm — như tham, sân, si, và giả dối. Người tu hành cần thanh lọc nội tâm, sống trong chánh hạnh, để trí tuệ và an lạc hiển bày. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm được trong sáng, gột sạch những cấu uế bên trong.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Người đời như lá úa,</p><p>Sứ giả Diêm Vương đã đến gần,</p><p>Ngươi đang đứng bên bờ tử vong,</p><p>Vậy mà chưa chuẩn bị cho con đường đi xa.</p><p><br></p><p>Hãy làm điều lành,</p><p>Hãy sống chân chánh,</p><p>Người làm điều thiện sẽ được an vui,</p><p>Khi từ giã cõi đời này.</p><p><br></p><p>Hãy làm người khéo điều phục,</p><p>Như người nắn cung chuẩn xác,</p><p>Sửa mình từng chút,</p><p>Tâm sẽ dần trở nên ngay thẳng.</p><p><br></p><p>Người tự mình làm điều ác,</p><p>Tự mình nhiễm ô,</p><p>Tự mình không làm ác,</p><p>Tự mình thanh tịnh.</p><p>Thanh tịnh hay ô uế,</p><p>Đều do chính mình,</p><p>Không ai có thể gột rửa cho ai.</p><p><br></p><p>Như người thợ vàng lọc vàng,</p><p>Dần dần, từng chút, từng chút,</p><p>Người trí loại bỏ cấu uế,</p><p>Làm tâm trở nên sáng trong.</p><p><br></p><p>Như sắt bị gỉ bởi chính nó,</p><p>Ăn mòn vật ấy,</p><p>Người ác cũng vậy,</p><p>Bị chính ác nghiệp của mình hủy diệt.</p><p><br></p><p>Lời nói phi pháp làm hại chính mình,</p><p>Ai coi thường giới luật,</p><p>Không chế ngự lời nói,</p><p>Sẽ tự chuốc lấy khổ đau.</p><p><br></p><p>Phi pháp là điều tồi tệ nhất,</p><p>Xa lìa giới là ô uế lớn nhất,</p><p>Người buông lung là người mất mát nhất,</p><p>Vì không tự điều phục thân tâm.</p><p><br></p><p>Không có nhiễm ô nào lớn hơn si mê,</p><p>Không có khổ nào lớn hơn tham dục,</p><p>Không có uế nào sánh bằng vô minh,</p><p>Không có an lạc nào bằng trí tuệ.</p><p><br></p><p>Dễ thay làm điều ác,</p><p>Khó thay làm điều lành,</p><p>Người ngu dễ buông mình theo ác pháp,</p><p>Người trí tự điều phục như người hộ thân.</p><p><br></p><p>Ai che giấu lỗi người khác,</p><p>Mà phô bày lỗi của người hiền,</p><p>Người ấy gieo nghiệp xấu,</p><p>Tự hại mình, chẳng hại ai.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 17.</p><p>Nghe và trì niệm Phẩm Ô Uế giúp tâm được soi sáng, biết tự quán chiếu và thanh lọc. Người gột sạch cấu uế trong tâm sẽ tự do khỏi sầu khổ, thân tâm nhẹ nhõm, và mở ra con đường an lạc, giải thoát.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 18 – Ái (Piya Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 17: Ô UẾ (Mala Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Ô Uế dạy rằng, điều làm ô nhiễm con người không phải là bụi đất bên ngoài, mà chính là những nhiễm ô trong tâm — như tham, sân, si, và giả dối. Người tu hành cần thanh lọc nội tâm, sống trong chánh hạnh, để trí tuệ và an lạc hiển bày. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm được trong sáng, gột sạch những cấu uế bên trong.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đời như lá úa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sứ giả Diêm Vương đã đến gần,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngươi đang đứng bên bờ tử vong,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vậy mà chưa chuẩn bị cho con đường đi xa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy làm điều lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy sống chân chánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người làm điều thiện sẽ được an vui,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi từ giã cõi đời này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy làm người khéo điều phục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người nắn cung chuẩn xác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sửa mình từng chút,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm sẽ dần trở nên ngay thẳng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người tự mình làm điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình nhiễm ô,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình không làm ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình thanh tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thanh tịnh hay ô uế,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đều do chính mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai có thể gột rửa cho ai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người thợ vàng lọc vàng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dần dần, từng chút, từng chút,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí loại bỏ cấu uế,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm tâm trở nên sáng trong.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như sắt bị gỉ bởi chính nó,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn mòn vật ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ác cũng vậy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị chính ác nghiệp của mình hủy diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói phi pháp làm hại chính mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai coi thường giới luật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không chế ngự lời nói,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ tự chuốc lấy khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phi pháp là điều tồi tệ nhất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa lìa giới là ô uế lớn nhất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người buông lung là người mất mát nhất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì không tự điều phục thân tâm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có nhiễm ô nào lớn hơn si mê,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có khổ nào lớn hơn tham dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có uế nào sánh bằng vô minh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có an lạc nào bằng trí tuệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dễ thay làm điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó thay làm điều lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu dễ buông mình theo ác pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí tự điều phục như người hộ thân.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai che giấu lỗi người khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà phô bày lỗi của người hiền,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy gieo nghiệp xấu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự hại mình, chẳng hại ai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 17.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Phẩm Ô Uế giúp tâm được soi sáng, biết tự quán chiếu và thanh lọc. Người gột sạch cấu uế trong tâm sẽ tự do khỏi sầu khổ, thân tâm nhẹ nhõm, và mở ra con đường an lạc, giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 18 – Ái (Piya Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2741394" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/83e5e18f-cb84-4c30-8567-25f06f5e8259/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">2f3b3ee1-2385-403e-9446-ec8af99c941f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/83e5e18f-cb84-4c30-8567-25f06f5e8259</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:23:31 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/8/f483adbd-7582-4bdc-b11b-0933a7843c06_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>171</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 16_Phẫn Nộ (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 16_Phẫn Nộ (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 16: PHẪN NỘ (Kodha Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Phẫn Nộ dạy cách chế ngự giận dữ — ngọn lửa có thể thiêu rụi công đức và hạnh phúc nếu không được điều phục. Người biết nhẫn, biết lắng nghe và từ bi với cả kẻ làm hại mình chính là người mạnh mẽ thật sự. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm trở nên nhu hòa, từ ái, và xa lìa oán hận.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Hãy dập tắt cơn giận,</p><p>Hãy chế ngự tự cao,</p><p>Thoát khỏi mọi ràng buộc,</p><p>Không ôm giữ hư danh.</p><p><br></p><p>Ai dập được cơn giận</p><p>Như ngăn xe lăn xuống dốc,</p><p>Người ấy là kẻ đánh xe giỏi,</p><p>Kẻ khác chỉ cầm dây cương mà thôi.</p><p><br></p><p>Hãy thắng giận bằng từ bi,</p><p>Thắng ác bằng thiện,</p><p>Thắng xan tham bằng bố thí,</p><p>Thắng vọng ngữ bằng chân thật.</p><p><br></p><p>Hãy nói lời chân thật,</p><p>Không giận, không hại người,</p><p>Chỉ xin chút ít, biết đủ,</p><p>Và sống theo chánh pháp.</p><p><br></p><p>Người mà tâm từ trải khắp,</p><p>Không làm hại ai,</p><p>Người ấy không sầu muộn,</p><p>Được an vui trong đời này và đời sau.</p><p><br></p><p>Người tinh tấn, chế ngự lời nói,</p><p>Khéo kiểm soát thân tâm,</p><p>Không làm điều ác,</p><p>Người ấy được hiền trí khen ngợi.</p><p><br></p><p>Ai từng làm điều ác,</p><p>Sau sám hối và làm lành,</p><p>Người ấy chiếu sáng như mặt trăng</p><p>Thoát khỏi mây mù.</p><p><br></p><p>Ai làm điều lành mà sau lại làm ác,</p><p>Người ấy mờ tối như mặt trăng</p><p>Bị che phủ bởi mây đen.</p><p><br></p><p>Người phàm thấy lỗi người khác,</p><p>Dễ thấy như sàng trấu;</p><p>Nhưng lỗi mình thì giấu kín,</p><p>Như kẻ săn chim giấu mồi.</p><p><br></p><p>Ai thấy lỗi người mà tìm,</p><p>Lỗi mình không thấy,</p><p>Tâm tà, nhiễm ô,</p><p>Không bao giờ an lạc.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 16.</p><p>Trì niệm Phẩm Phẫn Nộ giúp tâm an tịnh, diệt trừ sân hận và oán thù. Khi tâm không còn giận dữ, trí tuệ hiển lộ, từ bi tăng trưởng, và người ấy sống trong an vui, hạnh phúc. Lợi lạc của việc nghe và hành theo phẩm này là hóa giải khổ đau, mang lại bình an cho mình và người.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 17 – Ô Uế (Mala Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 16: PHẪN NỘ (Kodha Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Phẫn Nộ dạy cách chế ngự giận dữ — ngọn lửa có thể thiêu rụi công đức và hạnh phúc nếu không được điều phục. Người biết nhẫn, biết lắng nghe và từ bi với cả kẻ làm hại mình chính là người mạnh mẽ thật sự. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm trở nên nhu hòa, từ ái, và xa lìa oán hận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy dập tắt cơn giận,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy chế ngự tự cao,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thoát khỏi mọi ràng buộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ôm giữ hư danh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai dập được cơn giận&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ngăn xe lăn xuống dốc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy là kẻ đánh xe giỏi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ khác chỉ cầm dây cương mà thôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy thắng giận bằng từ bi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng ác bằng thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng xan tham bằng bố thí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng vọng ngữ bằng chân thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy nói lời chân thật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không giận, không hại người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ xin chút ít, biết đủ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Và sống theo chánh pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người mà tâm từ trải khắp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không làm hại ai,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy không sầu muộn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được an vui trong đời này và đời sau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người tinh tấn, chế ngự lời nói,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo kiểm soát thân tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không làm điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy được hiền trí khen ngợi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai từng làm điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau sám hối và làm lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy chiếu sáng như mặt trăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thoát khỏi mây mù.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai làm điều lành mà sau lại làm ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy mờ tối như mặt trăng&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị che phủ bởi mây đen.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người phàm thấy lỗi người khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dễ thấy như sàng trấu;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng lỗi mình thì giấu kín,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như kẻ săn chim giấu mồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thấy lỗi người mà tìm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lỗi mình không thấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm tà, nhiễm ô,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không bao giờ an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 16.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì niệm Phẩm Phẫn Nộ giúp tâm an tịnh, diệt trừ sân hận và oán thù. Khi tâm không còn giận dữ, trí tuệ hiển lộ, từ bi tăng trưởng, và người ấy sống trong an vui, hạnh phúc. Lợi lạc của việc nghe và hành theo phẩm này là hóa giải khổ đau, mang lại bình an cho mình và người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 17 – Ô Uế (Mala Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2376097" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/8815b575-b5b1-450e-8a4a-46fd19db98a0/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">52a5643e-6298-453f-a992-ee2135c02e06</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/8815b575-b5b1-450e-8a4a-46fd19db98a0</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:20:27 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/8/d604cd25-f434-4101-8ceb-1d0a9f8b805d_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>148</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 15_Lạc (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 15_Lạc (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 15: LẠC (Sukha Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Lạc dạy về niềm vui chân thật – niềm vui đến từ tâm thanh tịnh, trí tuệ và lòng từ bi. Không phải dục lạc thế gian, mà là an lạc của người biết buông xả, sống chánh hạnh và không làm hại ai. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm được nhẹ nhàng, an ổn, và nuôi dưỡng hạnh phúc bền lâu.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Sống hạnh phúc thay,</p><p>Chúng ta không oán hận giữa những người oán hận.</p><p>Giữa những người oán hận,</p><p>Ta sống không oán hận.</p><p><br></p><p>Sống hạnh phúc thay,</p><p>Chúng ta không bệnh giữa những người bệnh.</p><p>Giữa những người bệnh hoạn,</p><p>Ta sống không bệnh hoạn.</p><p><br></p><p>Sống hạnh phúc thay,</p><p>Chúng ta không tham giữa những người tham.</p><p>Giữa những người tham dục,</p><p>Ta sống không tham dục.</p><p><br></p><p>Sống hạnh phúc thay,</p><p>Chúng ta chẳng có chi;</p><p>Chúng ta sống vui như chư thiên</p><p>Sáng chói trong cõi thiền.</p><p><br></p><p>Thắng hận bằng không hận,</p><p>Thắng ác bằng thiện lành,</p><p>Thắng xan tham bằng bố thí,</p><p>Thắng vọng ngữ bằng chân thật.</p><p><br></p><p>Ai nói lời thô ác,</p><p>Người ấy sẽ chịu khổ.</p><p>Ai không nói lời thô ác,</p><p>Người ấy được an vui.</p><p><br></p><p>Không có lạc nào hơn lạc ly dục,</p><p>Không có khổ nào hơn khổ hữu ái.</p><p>Không có vui nào hơn tâm an tịnh,</p><p>Không có tài sản nào hơn trí tuệ.</p><p><br></p><p>Sức khỏe là tài sản lớn nhất,</p><p>Biết đủ là giàu sang nhất,</p><p>Niềm tin là bạn tốt nhất,</p><p>Niết-bàn là an lạc tối thượng.</p><p><br></p><p>Ai đã nếm được hương vị giải thoát,</p><p>Sẽ không còn ham thích hương vị thế gian.</p><p>Ai trú trong rừng tịch tịnh,</p><p>Tâm không dao động,</p><p>Người ấy hưởng an lạc của bậc thánh.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 15.</p><p>Nghe và trì niệm Phẩm Lạc giúp tâm dứt bỏ tham dục, biết đủ và sống an nhiên giữa đời. Lợi lạc của việc nghe – trì phẩm này là nuôi dưỡng tâm từ, buông bỏ phiền não, và mở cửa cho hạnh phúc chân thật phát sinh trong từng hơi thở.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 16 – Phẫn Nộ (Kodha Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 15: LẠC (Sukha Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Lạc dạy về niềm vui chân thật – niềm vui đến từ tâm thanh tịnh, trí tuệ và lòng từ bi. Không phải dục lạc thế gian, mà là an lạc của người biết buông xả, sống chánh hạnh và không làm hại ai. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm được nhẹ nhàng, an ổn, và nuôi dưỡng hạnh phúc bền lâu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống hạnh phúc thay,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta không oán hận giữa những người oán hận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữa những người oán hận,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sống không oán hận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống hạnh phúc thay,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta không bệnh giữa những người bệnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữa những người bệnh hoạn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sống không bệnh hoạn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống hạnh phúc thay,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta không tham giữa những người tham.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữa những người tham dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta sống không tham dục.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống hạnh phúc thay,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta chẳng có chi;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta sống vui như chư thiên&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sáng chói trong cõi thiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng hận bằng không hận,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng ác bằng thiện lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng xan tham bằng bố thí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng vọng ngữ bằng chân thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nói lời thô ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy sẽ chịu khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai không nói lời thô ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy được an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có lạc nào hơn lạc ly dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có khổ nào hơn khổ hữu ái.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có vui nào hơn tâm an tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có tài sản nào hơn trí tuệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sức khỏe là tài sản lớn nhất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết đủ là giàu sang nhất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niềm tin là bạn tốt nhất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn là an lạc tối thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai đã nếm được hương vị giải thoát,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ không còn ham thích hương vị thế gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai trú trong rừng tịch tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm không dao động,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy hưởng an lạc của bậc thánh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 15.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm Phẩm Lạc giúp tâm dứt bỏ tham dục, biết đủ và sống an nhiên giữa đời. Lợi lạc của việc nghe – trì phẩm này là nuôi dưỡng tâm từ, buông bỏ phiền não, và mở cửa cho hạnh phúc chân thật phát sinh trong từng hơi thở.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 16 – Phẫn Nộ (Kodha Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2294595" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/cc169232-62c1-4ad8-8512-076d7629b85e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">ab3ca409-4596-4d45-b54d-49672978f165</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/cc169232-62c1-4ad8-8512-076d7629b85e</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:16:57 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/8/3e031a30-a28f-4356-8f7c-307a1dd10b58_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>143</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 14_Phật (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 14_Phật (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ – PHẨM 14: PHẬT (Buddhavagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Phật ca ngợi Đức Thế Tôn – bậc Giác Ngộ viên mãn, người đã vượt khỏi mọi ràng buộc thế gian và chỉ đường cho chúng sinh đến bến an vui. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm phát khởi lòng tin, noi theo hạnh giác ngộ và gieo trồng phước đức lớn.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Thắng trận rồi, Ngài không còn oán hận.</p><p>Ngài chiến thắng, nhưng không ai là thù.</p><p>Thế Tôn là người chiến thắng tối thượng,</p><p>Không còn ai có thể khuất phục Ngài.</p><p><br></p><p>Ai có thể theo dõi dấu chân của Phật,</p><p>Như người tìm vết chim bay giữa hư không?</p><p>Người giải thoát khỏi mọi trói buộc,</p><p>Không còn tái sanh, không còn bị ràng buộc.</p><p><br></p><p>Người có trí tâm định, tinh tấn,</p><p>Không còn nhiễm trần, đã đạt Niết-bàn,</p><p>Thì các hàng chư thiên cũng tôn kính,</p><p>Bậc Giác Ngộ ấy là bậc hi hữu ở đời.</p><p><br></p><p>Khó được thân người,</p><p>Khó được sống lâu,</p><p>Khó được nghe chánh pháp,</p><p>Khó được gặp Phật ra đời.</p><p><br></p><p>Chớ làm điều ác dù nhỏ,</p><p>Siêng làm điều lành dù nhỏ,</p><p>Giữ tâm trong sạch,</p><p>Ấy là lời chư Phật dạy.</p><p><br></p><p>Nhẫn nhục là khổ hạnh tối thượng,</p><p>Niết-bàn là tối thắng trong các pháp.</p><p>Ai hại người khác là không phải Sa-môn,</p><p>Ai làm khổ người khác không phải Phật tử.</p><p><br></p><p>Không nói lời ác,</p><p>Không làm hại ai,</p><p>Giữ giới thanh tịnh,</p><p>Ăn uống điều độ,</p><p>Sống an tịnh, tinh tấn,</p><p>Ấy là lời Phật dạy.</p><p><br></p><p>Dù mưa vàng bạc xuống nhiều,</p><p>Vẫn không thỏa mãn lòng dục con người.</p><p>Người trí biết rõ dục lạc là ít,</p><p>Biết khổ từ dục mà sinh.</p><p><br></p><p>Ai vui trong tịch tịnh,</p><p>Không vui trong dục vọng,</p><p>Bậc ấy là người giác ngộ,</p><p>Không sợ, không dao động.</p><p><br></p><p>Nhiều người nương núi non, rừng cây,</p><p>Hoặc thờ thần linh,</p><p>Nhưng những nơi ấy không đem lại an lạc,</p><p>Vì không phải chỗ nương thật sự.</p><p><br></p><p>Ai nương theo Phật, Pháp, Tăng,</p><p>Thì đạt an lạc lớn,</p><p>Đó là chỗ nương tối thượng,</p><p>Đưa đến giải thoát, chấm dứt khổ đau.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 14.</p><p>Nghe, đọc và trì niệm Phẩm Phật giúp tâm hướng về ánh sáng giác ngộ, tăng trưởng niềm tin nơi Tam Bảo, và dần dần xa rời mê lầm, phiền não. Công đức ấy dẫn đến an ổn, phước báu và trí tuệ, là nền tảng cho sự giải thoát.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 15 – Lạc (Sukha Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ – PHẨM 14: PHẬT (Buddhavagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Phật ca ngợi Đức Thế Tôn – bậc Giác Ngộ viên mãn, người đã vượt khỏi mọi ràng buộc thế gian và chỉ đường cho chúng sinh đến bến an vui. Nghe và trì niệm phẩm này giúp tâm phát khởi lòng tin, noi theo hạnh giác ngộ và gieo trồng phước đức lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thắng trận rồi, Ngài không còn oán hận.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngài chiến thắng, nhưng không ai là thù.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thế Tôn là người chiến thắng tối thượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn ai có thể khuất phục Ngài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có thể theo dõi dấu chân của Phật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người tìm vết chim bay giữa hư không?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người giải thoát khỏi mọi trói buộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn tái sanh, không còn bị ràng buộc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người có trí tâm định, tinh tấn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn nhiễm trần, đã đạt Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì các hàng chư thiên cũng tôn kính,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bậc Giác Ngộ ấy là bậc hi hữu ở đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó được thân người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó được sống lâu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó được nghe chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó được gặp Phật ra đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ làm điều ác dù nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Siêng làm điều lành dù nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ tâm trong sạch,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ấy là lời chư Phật dạy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhẫn nhục là khổ hạnh tối thượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niết-bàn là tối thắng trong các pháp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hại người khác là không phải Sa-môn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai làm khổ người khác không phải Phật tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nói lời ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không làm hại ai,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ giới thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ăn uống điều độ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống an tịnh, tinh tấn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ấy là lời Phật dạy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù mưa vàng bạc xuống nhiều,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn không thỏa mãn lòng dục con người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí biết rõ dục lạc là ít,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết khổ từ dục mà sinh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai vui trong tịch tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không vui trong dục vọng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bậc ấy là người giác ngộ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không sợ, không dao động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều người nương núi non, rừng cây,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoặc thờ thần linh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng những nơi ấy không đem lại an lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì không phải chỗ nương thật sự.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nương theo Phật, Pháp, Tăng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì đạt an lạc lớn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là chỗ nương tối thượng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đưa đến giải thoát, chấm dứt khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 14.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe, đọc và trì niệm Phẩm Phật giúp tâm hướng về ánh sáng giác ngộ, tăng trưởng niềm tin nơi Tam Bảo, và dần dần xa rời mê lầm, phiền não. Công đức ấy dẫn đến an ổn, phước báu và trí tuệ, là nền tảng cho sự giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 15 – Lạc (Sukha Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2712137" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/cabf03cd-4028-439b-ba2d-b608200f1b25/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d2cf93cd-3ea2-4782-964d-4ac0a5b3e567</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/cabf03cd-4028-439b-ba2d-b608200f1b25</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:13:56 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/8/63bc19d8-d6f3-4448-ac61-dbccae7e7c10_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>169</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 13_Thế Gian (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 13_Thế Gian (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Pháp Cú – Phẩm 13: Thế Gian (Loka Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Thế Gian nói về bản chất biến đổi của đời sống: được – mất, khen – chê, vui – buồn, sinh – diệt, tất cả đều vô thường. Người trí không để tâm dao động theo sóng đời, mà sống an trú trong chánh niệm và bình thản giữa khen chê. Nghe và trì tụng phẩm này giúp ta học cách buông xả, giữ tâm vững chãi giữa dòng đời xoay vần.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p>Chớ theo hạnh ác,</p><p>Chớ sống buông lung,</p><p>Chớ chấp tà kiến,</p><p>Đừng tăng trưởng tham, sân, si.</p><p><br></p><p><br></p><p>Hãy chỗi dậy, đừng buông lung,</p><p>Hành thiện, sống phạm hạnh;</p><p>Ai tu pháp chánh trực,</p><p>Được an vui đời này và đời sau.</p><p><br></p><p><br></p><p>Hãy hành pháp thiện,</p><p>Chớ hành pháp ác,</p><p>Người hành pháp thiện,</p><p>An vui trong hai đời.</p><p><br></p><p><br></p><p>Như hoa tươi đẹp nhưng không hương,</p><p>Lời nói khéo mà không hành,</p><p>Không đem lại kết quả,</p><p>Như hoa kia không có hương thơm.</p><p><br></p><p><br></p><p>Như hoa tươi đẹp có hương,</p><p>Lời nói thiện đi đôi với hành thiện,</p><p>Đem lại kết quả tốt lành,</p><p>Như hương thơm lan khắp bốn phương.</p><p><br></p><p><br></p><p>Như từ đống rác ven đường,</p><p>Nở ra hoa sen thơm sạch,</p><p>Giữa đời ô nhiễm cũng vậy,</p><p>Người trí sáng lên giữa phàm tục.</p><p><br></p><p><br></p><p>Hương của hoa không ngược gió bay xa,</p><p>Nhưng hương người đức hạnh lan khắp mọi nơi;</p><p>Người đức hạnh, sống chánh pháp,</p><p>Hương ấy bay ngược cả gió đời.</p><p><br></p><p><br></p><p>Hương chiên đàn, hương hoa,</p><p>Không thể sánh hương người đức hạnh;</p><p>Hương đức hạnh vượt mọi hương,</p><p>Tỏa khắp mười phương thế giới.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người không làm ác, giữ giới,</p><p>Sống chánh mạng, điều tâm,</p><p>Người ấy là ruộng phước đời,</p><p>Đáng được trời người kính ngưỡng.</p><p><br></p><p><br></p><p>Không nơi nào trên thế gian,</p><p>Tránh khỏi tử thần;</p><p>Dù lên trời hay trốn biển,</p><p>Không ai thoát khỏi quả nghiệp mình.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người ngu tưởng thế gian dài lâu,</p><p>Không thấy đời biến đổi,</p><p>Tham đắm danh lợi,</p><p>Như cá mắc lưới chẳng biết sợ.</p><p><br></p><p><br></p><p>Được sinh làm người là khó,</p><p>Được nghe Chánh pháp càng hiếm hơn,</p><p>Tâm hướng về Phật pháp,</p><p>Là phước lớn trong đời người.</p><p><br></p><p><br></p><p>Chư Phật bậc đã giác ngộ,</p><p>Vượt qua dòng sinh tử,</p><p>Đạt đến bờ an lạc,</p><p>Không còn bị đời trói buộc.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai thắng dục, thắng sân, thắng si,</p><p>Như ngọn đèn vượt gió,</p><p>Không còn dao động,</p><p>Người ấy là bậc giải thoát.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 13.</p><p>Nghe và trì niệm phẩm Thế Gian giúp ta nhận ra mọi pháp đều vô thường, chẳng có gì nên chấp thủ. Khi tâm không còn chạy theo khen chê, được mất, ta sống nhẹ nhàng, tự do và đầy hiểu biết. Người nghe phẩm này thường xuyên sẽ học được hạnh an trú giữa thế gian mà không nhiễm thế gian, từ đó đạt được an lạc và trí tuệ chân thật.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 14 – Đức Phật (Buddha Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Pháp Cú – Phẩm 13: Thế Gian (Loka Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Thế Gian nói về bản chất biến đổi của đời sống: được – mất, khen – chê, vui – buồn, sinh – diệt, tất cả đều vô thường. Người trí không để tâm dao động theo sóng đời, mà sống an trú trong chánh niệm và bình thản giữa khen chê. Nghe và trì tụng phẩm này giúp ta học cách buông xả, giữ tâm vững chãi giữa dòng đời xoay vần.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ theo hạnh ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ sống buông lung,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ chấp tà kiến,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng tăng trưởng tham, sân, si.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy chỗi dậy, đừng buông lung,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hành thiện, sống phạm hạnh;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai tu pháp chánh trực,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được an vui đời này và đời sau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy hành pháp thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ hành pháp ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hành pháp thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An vui trong hai đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa tươi đẹp nhưng không hương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói khéo mà không hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không đem lại kết quả,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa kia không có hương thơm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa tươi đẹp có hương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói thiện đi đôi với hành thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đem lại kết quả tốt lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hương thơm lan khắp bốn phương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như từ đống rác ven đường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nở ra hoa sen thơm sạch,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữa đời ô nhiễm cũng vậy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí sáng lên giữa phàm tục.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương của hoa không ngược gió bay xa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng hương người đức hạnh lan khắp mọi nơi;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đức hạnh, sống chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương ấy bay ngược cả gió đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương chiên đàn, hương hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thể sánh hương người đức hạnh;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương đức hạnh vượt mọi hương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tỏa khắp mười phương thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người không làm ác, giữ giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống chánh mạng, điều tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy là ruộng phước đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đáng được trời người kính ngưỡng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nơi nào trên thế gian,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tránh khỏi tử thần;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù lên trời hay trốn biển,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai thoát khỏi quả nghiệp mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu tưởng thế gian dài lâu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thấy đời biến đổi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tham đắm danh lợi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như cá mắc lưới chẳng biết sợ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được sinh làm người là khó,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được nghe Chánh pháp càng hiếm hơn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm hướng về Phật pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là phước lớn trong đời người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chư Phật bậc đã giác ngộ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vượt qua dòng sinh tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạt đến bờ an lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn bị đời trói buộc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai thắng dục, thắng sân, thắng si,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ngọn đèn vượt gió,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn dao động,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy là bậc giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 13.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm phẩm Thế Gian giúp ta nhận ra mọi pháp đều vô thường, chẳng có gì nên chấp thủ. Khi tâm không còn chạy theo khen chê, được mất, ta sống nhẹ nhàng, tự do và đầy hiểu biết. Người nghe phẩm này thường xuyên sẽ học được hạnh an trú giữa thế gian mà không nhiễm thế gian, từ đó đạt được an lạc và trí tuệ chân thật.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 14 – Đức Phật (Buddha Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="3194880" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/a274cf84-9f4a-4568-8b27-d6e846c9920d/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">91e751b3-c2ef-40f6-845d-94b3ed044469</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/a274cf84-9f4a-4568-8b27-d6e846c9920d</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:10:28 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/8/6093b1f1-b320-4ccc-b14c-221223ed9eef_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>199</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 12_Tự Ngã (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 12_Tự Ngã (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Pháp Cú – Phẩm 12: Tự Ngã (Atta Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Tự Ngã dạy ta quay về chính mình — người là chủ nhân của nghiệp, tự làm, tự chịu, không ai thay thế được. Khi biết tự gìn giữ thân, khẩu, ý, ta tự mở đường cho an vui và giải thoát. Nghe và hành trì phẩm này giúp ta sống có trách nhiệm, không ỷ lại, và nuôi dưỡng trí tuệ tỉnh thức trong từng hành động.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p><br></p><p>Nếu biết yêu quý chính mình,</p><p>Hãy canh giữ mình thật kỹ,</p><p>Người trí trong ba canh đêm,</p><p>Luôn tỉnh thức, không buông lung.</p><p><br></p><p><br></p><p>Trước khi dạy người khác,</p><p>Hãy tự sửa mình cho ngay;</p><p>Khéo dạy chính mình trước,</p><p>Rồi mới khuyên người, không lỗi lầm.</p><p><br></p><p><br></p><p>Hãy tự làm điều mình dạy,</p><p>Đừng chỉ nói suông mà không hành;</p><p>Ai tự điều phục chính mình,</p><p>Là người khó tìm trong đời.</p><p><br></p><p><br></p><p>Tự mình là chủ nhân của mình,</p><p>Không ai khác có thể thay thế;</p><p>Tự mình điều phục chính mình,</p><p>Như người cưỡi điều con ngựa dữ.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ác do chính mình gây,</p><p>Do chính mình tạo ra,</p><p>Tự mình làm ô nhiễm,</p><p>Tự mình gột sạch được thôi.</p><p><br></p><p><br></p><p>Như hoa bị sâu ăn từ trong,</p><p>Người ngu bị chính mình hại,</p><p>Không do kẻ thù, không do ai khác,</p><p>Tâm mê muội là nguồn khổ đau.</p><p><br></p><p><br></p><p>Làm ác thật dễ,</p><p>Làm điều hại mình, hại người,</p><p>Làm lành mới là khó,</p><p>Chỉ người trí mới kiên trì làm được.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người ngu nhờ hiểu chút pháp,</p><p>Tự cao, xem thường bậc trí,</p><p>Như con bò non đứt dây,</p><p>Rồi rơi vào vòng khổ não.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ác do ta làm, ta chịu;</p><p>Thiện do ta làm, ta hưởng;</p><p>Không ai gánh thay nghiệp mình,</p><p>Mỗi người là chủ của chính mình.</p><p><br></p><p><br></p><p>Chớ bỏ việc lợi ích mình,</p><p>Mà mải lo cho người khác;</p><p>Hiểu rõ lợi mình và lợi người,</p><p>Người trí chọn điều dẫn đến giải thoát.</p><p><br></p><p>Hết Phẩm 12.</p><p>Trì niệm phẩm Tự Ngã, ta hiểu sâu đạo lý tự chủ và nhân quả. Không đổ lỗi, không ỷ lại, chỉ chuyên tâm tu sửa chính mình — đó là con đường của bậc trí. Người thường nghe và hành theo phẩm này sẽ có tâm vững vàng, ý chí sáng suốt, biết tự soi lại mình, sống chánh trực, an vui và dần thoát khỏi mọi khổ lụy.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 13 – Thế Gian (Loka Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Pháp Cú – Phẩm 12: Tự Ngã (Atta Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Tự Ngã dạy ta quay về chính mình — người là chủ nhân của nghiệp, tự làm, tự chịu, không ai thay thế được. Khi biết tự gìn giữ thân, khẩu, ý, ta tự mở đường cho an vui và giải thoát. Nghe và hành trì phẩm này giúp ta sống có trách nhiệm, không ỷ lại, và nuôi dưỡng trí tuệ tỉnh thức trong từng hành động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu biết yêu quý chính mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy canh giữ mình thật kỹ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí trong ba canh đêm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Luôn tỉnh thức, không buông lung.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trước khi dạy người khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy tự sửa mình cho ngay;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khéo dạy chính mình trước,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi mới khuyên người, không lỗi lầm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy tự làm điều mình dạy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng chỉ nói suông mà không hành;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai tự điều phục chính mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Là người khó tìm trong đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình là chủ nhân của mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai khác có thể thay thế;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình điều phục chính mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người cưỡi điều con ngựa dữ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ác do chính mình gây,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Do chính mình tạo ra,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình làm ô nhiễm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự mình gột sạch được thôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa bị sâu ăn từ trong,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu bị chính mình hại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không do kẻ thù, không do ai khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm mê muội là nguồn khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm ác thật dễ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm điều hại mình, hại người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm lành mới là khó,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ người trí mới kiên trì làm được.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu nhờ hiểu chút pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự cao, xem thường bậc trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như con bò non đứt dây,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi rơi vào vòng khổ não.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ác do ta làm, ta chịu;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thiện do ta làm, ta hưởng;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ai gánh thay nghiệp mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mỗi người là chủ của chính mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ bỏ việc lợi ích mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà mải lo cho người khác;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hiểu rõ lợi mình và lợi người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí chọn điều dẫn đến giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết Phẩm 12.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì niệm phẩm Tự Ngã, ta hiểu sâu đạo lý tự chủ và nhân quả. Không đổ lỗi, không ỷ lại, chỉ chuyên tâm tu sửa chính mình — đó là con đường của bậc trí. Người thường nghe và hành theo phẩm này sẽ có tâm vững vàng, ý chí sáng suốt, biết tự soi lại mình, sống chánh trực, an vui và dần thoát khỏi mọi khổ lụy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 13 – Thế Gian (Loka Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2508591" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/68d1369c-2e6b-4b8d-821b-ebe04959869b/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">dfb3419f-2a83-494b-8c76-039fa0602b8c</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/68d1369c-2e6b-4b8d-821b-ebe04959869b</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:05:16 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/7/454ab812-f859-42d3-8591-e46bedffa88d_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>156</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 11_Già  (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 11_Già  (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Pháp Cú – Phẩm 11: Già (Jarā Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Già nhắc ta chiêm nghiệm về vô thường. Thân này không thể tránh khỏi già, bệnh, chết — chỉ có giới, định, tuệ mới giúp ta vượt qua sợ hãi và lầm chấp. Quán chiếu về già không để buồn khổ, mà để biết quý từng phút giây sống trong chánh niệm, mở lòng thương với mình và mọi người cùng đang già đi.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p><br></p><p>Sao cười, sao vui, khi đời đầy lửa cháy?</p><p>Bị tối tăm bao phủ, sao không tìm ánh sáng?</p><p><br></p><p><br></p><p>Hãy xem thân này đẹp đẽ chi đâu,</p><p>Chỉ là đống xương, bị che bằng da thịt;</p><p>Ẩn chứa bệnh tật, vô thường, tan rã,</p><p>Không có gì đáng để tham luyến.</p><p><br></p><p><br></p><p>Thân này héo tàn, tổ ong rỗng,</p><p>Bệnh tật chồng chất, yếu đuối, tan rã,</p><p>Thây này rồi cũng nằm yên,</p><p>Như khúc gỗ bỏ trên đất.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người trẻ tưởng thân mình bền vững,</p><p>Không biết thời gian trôi mau,</p><p>Khi già đến, thân không nghe lời,</p><p>Mắt mờ, tai yếu, tóc bạc, lưng còng.</p><p><br></p><p><br></p><p>Thân này như thành mục,</p><p>Với xương làm khung, thịt máu đắp quanh,</p><p>Chứa tham dục, mưu cầu,</p><p>Nhưng cuối cùng vẫn hoại diệt.</p><p><br></p><p><br></p><p>Thân già như xe mục,</p><p>Chỉ còn nặng nề, kêu rệu rạo,</p><p>Nhưng tâm người có trí</p><p>Vẫn an trú trong tịch tịnh, không dao động.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người thiếu trí, không học pháp,</p><p>Như bò già, chỉ lớn sừng và da;</p><p>Không tu tuệ, không chánh hạnh,</p><p>Sống lâu vô ích, chẳng sinh phước lành.</p><p><br></p><p><br></p><p>Trải qua bao kiếp luân hồi,</p><p>Ta đi tìm người làm nhà,</p><p>Khổ thay, sinh tử triền miên!</p><p>Nay ta thấy ngươi rồi, hỡi kẻ làm nhà!</p><p><br></p><p><br></p><p>Ngươi không còn dựng nhà cho ta nữa,</p><p>Bao rui mè đều gãy, mái sụp tan;</p><p>Tâm ta đạt vô vi,</p><p>Diệt tận ái dục, sinh tử chấm dứt.</p><p><br></p><p>Hết Phẩm 11.</p><p>Nghe và trì niệm phẩm Già, tâm ta học được cách chấp nhận và buông xả. Thấy rõ vô thường, ta bớt chấp vào thân, bớt tranh giành hơn thua, và biết trân trọng hiện tại. Người nghe phẩm này thường xuyên sẽ nuôi lớn lòng từ bi, trí tuệ và bình an — vì hiểu rằng, thân có già, nhưng tâm giác ngộ thì không già bao giờ.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 12 – Tự Ngã (Atta Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Pháp Cú – Phẩm 11: Già (Jarā Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Già nhắc ta chiêm nghiệm về vô thường. Thân này không thể tránh khỏi già, bệnh, chết — chỉ có giới, định, tuệ mới giúp ta vượt qua sợ hãi và lầm chấp. Quán chiếu về già không để buồn khổ, mà để biết quý từng phút giây sống trong chánh niệm, mở lòng thương với mình và mọi người cùng đang già đi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sao cười, sao vui, khi đời đầy lửa cháy?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị tối tăm bao phủ, sao không tìm ánh sáng?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy xem thân này đẹp đẽ chi đâu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ là đống xương, bị che bằng da thịt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ẩn chứa bệnh tật, vô thường, tan rã,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không có gì đáng để tham luyến.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân này héo tàn, tổ ong rỗng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bệnh tật chồng chất, yếu đuối, tan rã,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thây này rồi cũng nằm yên,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như khúc gỗ bỏ trên đất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trẻ tưởng thân mình bền vững,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không biết thời gian trôi mau,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi già đến, thân không nghe lời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mắt mờ, tai yếu, tóc bạc, lưng còng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân này như thành mục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Với xương làm khung, thịt máu đắp quanh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chứa tham dục, mưu cầu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng cuối cùng vẫn hoại diệt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân già như xe mục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ còn nặng nề, kêu rệu rạo,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng tâm người có trí&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vẫn an trú trong tịch tịnh, không dao động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thiếu trí, không học pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như bò già, chỉ lớn sừng và da;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không tu tuệ, không chánh hạnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống lâu vô ích, chẳng sinh phước lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trải qua bao kiếp luân hồi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ta đi tìm người làm nhà,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khổ thay, sinh tử triền miên!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nay ta thấy ngươi rồi, hỡi kẻ làm nhà!&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngươi không còn dựng nhà cho ta nữa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bao rui mè đều gãy, mái sụp tan;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm ta đạt vô vi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Diệt tận ái dục, sinh tử chấm dứt.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết Phẩm 11.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm phẩm Già, tâm ta học được cách chấp nhận và buông xả. Thấy rõ vô thường, ta bớt chấp vào thân, bớt tranh giành hơn thua, và biết trân trọng hiện tại. Người nghe phẩm này thường xuyên sẽ nuôi lớn lòng từ bi, trí tuệ và bình an — vì hiểu rằng, thân có già, nhưng tâm giác ngộ thì không già bao giờ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 12 – Tự Ngã (Atta Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2463869" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/686666d2-e9df-4fd1-922a-886d63af9745/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">4fa6a198-8958-43e7-8d08-5481ecc982eb</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/686666d2-e9df-4fd1-922a-886d63af9745</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 08:00:58 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/7/611d7224-0bea-48a6-b373-2ee552fc707b_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>153</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 10_  (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 10_  (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Pháp Cú – Phẩm 10: Hình Phạt (Daṇḍa Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Hình Phạt nhắc chúng ta hiểu sâu về nhân quả của bạo lực, sân hận và oán thù. Người gây khổ cho kẻ khác cũng chính là tự chuốc khổ cho mình. Lòng từ và sự hiểu biết là tấm khiên bảo hộ lớn nhất. Nghe và hành trì phẩm này giúp ta buông bỏ giận dữ, sống với tâm bi mẫn, đem an lành đến cho mình và mọi loài.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai mong cầu hạnh phúc,</p><p>Mà lại làm khổ kẻ khác,</p><p>Người ấy không đạt an vui,</p><p>Dù trong đời này hay đời sau.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai biết tất cả đều sợ gươm giáo,</p><p>Ai biết mọi loài đều ham sống,</p><p>Thì chớ giết, chớ bảo giết,</p><p>Tâm từ đó chính là giới hạnh.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai làm khổ người khác,</p><p>Rồi mong cầu an lạc cho mình,</p><p>Người ấy sẽ không bao giờ</p><p>Được hưởng quả an vui.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai không làm khổ người khác,</p><p>Biết thương xót chúng sinh,</p><p>Người ấy sẽ hưởng an vui,</p><p>Ngay trong đời này và đời sau.</p><p><br></p><p><br></p><p>Chớ nói lời ác độc,</p><p>Ai bị mắng sẽ mắng lại;</p><p>Lời hung hăng gây đau khổ,</p><p>Ai nói ác lời, khổ đến với người ấy.</p><p><br></p><p><br></p><p>Nếu con giữ im lặng,</p><p>Như chiếc chuông bị bể,</p><p>Con đã đạt Niết-bàn,</p><p>Không còn tranh cãi với ai.</p><p><br></p><p><br></p><p>Như người chăn bò cầm gậy,</p><p>Lùa trâu ra đồng cỏ,</p><p>Cũng vậy, già chết đuổi theo</p><p>Sinh mạng con người.</p><p><br></p><p><br></p><p>Kẻ ngu làm điều ác,</p><p>Không biết đó là ác,</p><p>Như bị lửa đốt thân,</p><p>Khi quả báo chín muồi.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai dùng roi hay lời ác</p><p>Làm hại người hiền lương,</p><p>Sẽ chịu khổ năm điều:</p><p>Thân đau, tâm sầu, tài tán, danh suy, thân hoại.</p><p><br></p><p><br></p><p>Kẻ ác bị thân bệnh,</p><p>Bị khổ tâm triền miên,</p><p>Ngủ không an, nằm mộng dữ,</p><p>Gặp kết cục đau buồn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Kẻ ác bị bạn chê,</p><p>Danh tiếng tiêu tan dần,</p><p>Sau khi chết đọa khổ,</p><p>Gánh nghiệp mình đã gây.</p><p><br></p><p><br></p><p>Nhiều người mặc áo vàng,</p><p>Nhưng không lìa tâm ác,</p><p>Kẻ ấy đáng đọa địa ngục,</p><p>Không xứng là Sa-môn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai bỏ điều ác nhỏ,</p><p>Sống thanh tịnh, nhiếp tâm,</p><p>Người ấy thật là Sa-môn,</p><p>Tự điều phục, sống an nhiên.</p><p><br></p><p><br></p><p>Không vì đầu trọc, áo vàng,</p><p>Không vì lời nói dịu dàng,</p><p>Mà thành bậc chân tu,</p><p>Nếu lòng chưa sạch cấu uế.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai diệt sạch tham, sân, si,</p><p>Sống thanh tịnh, không hại ai,</p><p>Người ấy mới thật là Sa-môn,</p><p>Đáng được đời kính ngưỡng.</p><p><br></p><p>Hết Phẩm 9.</p><p>Trì tụng phẩm Hình Phạt, ta học được lòng từ bi và hiểu sâu về nhân quả. Mỗi khi ta không trả thù, không nói ác, không làm hại, chính là đang giải thoát mình khỏi khổ đau. Người nghe và hành trì phẩm này thường xuyên sẽ biết dừng lại trước cơn giận, biết thương cả kẻ gây hại, và gieo mầm an vui cho bản thân cùng thế giới.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 11 – Già (Jarā Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Pháp Cú – Phẩm 10: Hình Phạt (Daṇḍa Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Hình Phạt nhắc chúng ta hiểu sâu về nhân quả của bạo lực, sân hận và oán thù. Người gây khổ cho kẻ khác cũng chính là tự chuốc khổ cho mình. Lòng từ và sự hiểu biết là tấm khiên bảo hộ lớn nhất. Nghe và hành trì phẩm này giúp ta buông bỏ giận dữ, sống với tâm bi mẫn, đem an lành đến cho mình và mọi loài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai mong cầu hạnh phúc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà lại làm khổ kẻ khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy không đạt an vui,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù trong đời này hay đời sau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai biết tất cả đều sợ gươm giáo,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai biết mọi loài đều ham sống,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì chớ giết, chớ bảo giết,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm từ đó chính là giới hạnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai làm khổ người khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Rồi mong cầu an lạc cho mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy sẽ không bao giờ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được hưởng quả an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai không làm khổ người khác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết thương xót chúng sinh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy sẽ hưởng an vui,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngay trong đời này và đời sau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ nói lời ác độc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai bị mắng sẽ mắng lại;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời hung hăng gây đau khổ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai nói ác lời, khổ đến với người ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu con giữ im lặng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như chiếc chuông bị bể,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Con đã đạt Niết-bàn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn tranh cãi với ai.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người chăn bò cầm gậy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lùa trâu ra đồng cỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng vậy, già chết đuổi theo&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sinh mạng con người.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ngu làm điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không biết đó là ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như bị lửa đốt thân,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi quả báo chín muồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai dùng roi hay lời ác&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm hại người hiền lương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chịu khổ năm điều:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thân đau, tâm sầu, tài tán, danh suy, thân hoại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ác bị thân bệnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị khổ tâm triền miên,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngủ không an, nằm mộng dữ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gặp kết cục đau buồn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ác bị bạn chê,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Danh tiếng tiêu tan dần,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sau khi chết đọa khổ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gánh nghiệp mình đã gây.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều người mặc áo vàng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng không lìa tâm ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ấy đáng đọa địa ngục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không xứng là Sa-môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai bỏ điều ác nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống thanh tịnh, nhiếp tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy thật là Sa-môn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự điều phục, sống an nhiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không vì đầu trọc, áo vàng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không vì lời nói dịu dàng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà thành bậc chân tu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu lòng chưa sạch cấu uế.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai diệt sạch tham, sân, si,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống thanh tịnh, không hại ai,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy mới thật là Sa-môn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đáng được đời kính ngưỡng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết Phẩm 9.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trì tụng phẩm Hình Phạt, ta học được lòng từ bi và hiểu sâu về nhân quả. Mỗi khi ta không trả thù, không nói ác, không làm hại, chính là đang giải thoát mình khỏi khổ đau. Người nghe và hành trì phẩm này thường xuyên sẽ biết dừng lại trước cơn giận, biết thương cả kẻ gây hại, và gieo mầm an vui cho bản thân cùng thế giới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 11 – Già (Jarā Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="3241691" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/2965f585-0aed-4694-be94-666c6861cfad/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">f15d9b62-b0a3-49c7-b527-85316380c728</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/2965f585-0aed-4694-be94-666c6861cfad</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:51:50 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>202</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 9_Ác (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 9_Ác (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>Kinh Pháp Cú – Phẩm 9: Ác (Pāpa Vagga)</p><p><br></p><p>Lời dẫn:</p><p>Phẩm Ác nhắc ta nhận biết và phòng hộ tâm, vì ác nghiệp bắt đầu từ những niệm nhỏ không được soi sáng. Không ai có thể tránh quả của nghiệp mình đã gieo. Biết sợ điều ác, giữ tâm trong sạch, chính là bước đầu của trí tuệ. Nghe và trì tụng phẩm này giúp tâm ta thêm tỉnh thức, tránh xa điều dữ, sống đời hiền thiện, an lành.</p><p><br></p><p>Kinh văn:</p><p><br></p><p><br></p><p>Hãy mau làm điều lành,</p><p>Ngăn tâm không làm ác;</p><p>Ai chậm làm việc thiện,</p><p>Tâm ưa việc ác sẽ dần tràn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Nếu ai làm điều ác,</p><p>Chớ làm mãi không ngừng;</p><p>Hãy dừng lại sớm chừng nào có thể,</p><p>Vì tích ác dẫn khổ về sau.</p><p><br></p><p><br></p><p>Nếu ai làm điều lành,</p><p>Hãy làm cho thật nhiều;</p><p>Người làm thiện hưởng phước,</p><p>Niềm vui theo họ mãi không rời.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người ác thấy điều ác như mật ngọt,</p><p>Cho đến khi quả ác chưa trổ;</p><p>Khi nghiệp chín, họ khổ đau,</p><p>Như bị lửa đốt trong lòng.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người lành thấy điều thiện như gánh nặng,</p><p>Cho đến khi quả lành chưa chín;</p><p>Khi nghiệp trổ, họ vui mừng,</p><p>Như gặp được hạnh phúc lâu dài.</p><p><br></p><p><br></p><p>Chớ xem thường điều ác nhỏ,</p><p>Cho rằng: “Điều ấy chẳng hại gì.”</p><p>Giọt nước nhỏ dần đầy bình,</p><p>Người ngu làm ác mãi, thành tội lớn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Chớ xem thường điều thiện nhỏ,</p><p>Cho rằng: “Điều ấy chẳng ích gì.”</p><p>Giọt nước nhỏ dần đầy bình,</p><p>Người trí làm thiện mãi, thành phước lớn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Tránh xa điều ác như người tránh độc dược,</p><p>Hãy tu điều thiện như người giữ châu báu,</p><p>Dù nhỏ nhiệm, vẫn nên làm,</p><p>Vì tích thiện là gốc an vui.</p><p><br></p><p><br></p><p>Như bụi không dính lên đá bóng,</p><p>Ác nghiệp không chạm đến người hiền,</p><p>Người thanh tịnh tâm ý,</p><p>Không bị ác pháp xâm hại.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai xúc phạm người thanh tịnh,</p><p>Như tung bụi ngược gió, bụi trở lại thân mình;</p><p>Như ném bùn lên trời,</p><p>Bùn rơi xuống chính kẻ ném.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người ngu sinh nơi khổ cảnh,</p><p>Người trí sinh về cõi lành;</p><p>Người giữ chánh hạnh lên trời,</p><p>Người ác đọa địa ngục.</p><p><br></p><p><br></p><p>Không nơi nào trốn được ác nghiệp:</p><p>Giữa hư không, đáy biển sâu,</p><p>Hay trong rừng núi thẳm,</p><p>Không nơi nào tránh được quả đã gieo.</p><p><br></p><p>Hết Phẩm 9.</p><p>Nghe và trì niệm phẩm Ác, tâm ta học được sự cảnh tỉnh và khiêm cung. Biết sợ lỗi nhỏ, biết quý việc lành, chính là con đường giữ mình khỏi khổ đau. Người nghe phẩm này thường xuyên sẽ dần xa ác pháp, tự thanh lọc thân tâm, khiến đời sống an vui, nghiệp thiện tăng trưởng, và ánh sáng trí tuệ ngày càng sáng hơn trong từng hơi thở chánh niệm.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 10 – Hình Phạt (Daṇḍa Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;Kinh Pháp Cú – Phẩm 9: Ác (Pāpa Vagga)&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời dẫn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Ác nhắc ta nhận biết và phòng hộ tâm, vì ác nghiệp bắt đầu từ những niệm nhỏ không được soi sáng. Không ai có thể tránh quả của nghiệp mình đã gieo. Biết sợ điều ác, giữ tâm trong sạch, chính là bước đầu của trí tuệ. Nghe và trì tụng phẩm này giúp tâm ta thêm tỉnh thức, tránh xa điều dữ, sống đời hiền thiện, an lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kinh văn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy mau làm điều lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngăn tâm không làm ác;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai chậm làm việc thiện,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm ưa việc ác sẽ dần tràn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ai làm điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ làm mãi không ngừng;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy dừng lại sớm chừng nào có thể,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì tích ác dẫn khổ về sau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu ai làm điều lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy làm cho thật nhiều;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người làm thiện hưởng phước,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niềm vui theo họ mãi không rời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ác thấy điều ác như mật ngọt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho đến khi quả ác chưa trổ;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi nghiệp chín, họ khổ đau,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như bị lửa đốt trong lòng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người lành thấy điều thiện như gánh nặng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho đến khi quả lành chưa chín;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi nghiệp trổ, họ vui mừng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như gặp được hạnh phúc lâu dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ xem thường điều ác nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho rằng: “Điều ấy chẳng hại gì.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giọt nước nhỏ dần đầy bình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu làm ác mãi, thành tội lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chớ xem thường điều thiện nhỏ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cho rằng: “Điều ấy chẳng ích gì.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giọt nước nhỏ dần đầy bình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí làm thiện mãi, thành phước lớn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tránh xa điều ác như người tránh độc dược,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy tu điều thiện như người giữ châu báu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù nhỏ nhiệm, vẫn nên làm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Vì tích thiện là gốc an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như bụi không dính lên đá bóng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ác nghiệp không chạm đến người hiền,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người thanh tịnh tâm ý,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không bị ác pháp xâm hại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai xúc phạm người thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như tung bụi ngược gió, bụi trở lại thân mình;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ném bùn lên trời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bùn rơi xuống chính kẻ ném.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu sinh nơi khổ cảnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí sinh về cõi lành;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người giữ chánh hạnh lên trời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ác đọa địa ngục.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nơi nào trốn được ác nghiệp:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữa hư không, đáy biển sâu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hay trong rừng núi thẳm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nơi nào tránh được quả đã gieo.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết Phẩm 9.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì niệm phẩm Ác, tâm ta học được sự cảnh tỉnh và khiêm cung. Biết sợ lỗi nhỏ, biết quý việc lành, chính là con đường giữ mình khỏi khổ đau. Người nghe phẩm này thường xuyên sẽ dần xa ác pháp, tự thanh lọc thân tâm, khiến đời sống an vui, nghiệp thiện tăng trưởng, và ánh sáng trí tuệ ngày càng sáng hơn trong từng hơi thở chánh niệm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 10 – Hình Phạt (Daṇḍa Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2980884" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/c259cefe-1c3c-45a2-b814-71931fe0f644/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">e3c7da6b-face-4503-9a29-76f5bfa635ba</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/c259cefe-1c3c-45a2-b814-71931fe0f644</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:49:50 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/7/f4df57f1-3376-4bca-a654-924ce90b9d25_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>186</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 8_Ngàn (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 8_Ngàn (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p><span>Kinh Pháp Cú – Phẩm 8: Ngàn (Sahassa Vagga)</span></p><p><span> </span></p><p><span>Lời dẫn:</span></p><p><span>Phẩm Ngàn dạy rằng giá trị của tuệ giác và chánh hạnh không nằm ở số lượng lời nói hay việc làm, mà ở sự tỉnh thức và chân thật của tâm. Một câu chánh pháp hiểu sâu còn quý hơn ngàn lời hời hợt; một niệm an trú chánh niệm còn hơn ngàn tháng tu lầm. Nghe và thọ trì phẩm này giúp ta nuôi dưỡng tuệ quán, sống giản dị mà sâu sắc.</span></p><p><span> </span></p><p><span>Kinh văn:</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù nói ngàn lời vô ích,</span></p><p><span>Không bằng một câu nghe đem lại an lạc.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù tụng ngàn lời kinh rỗng,</span></p><p><span>Không bằng một câu pháp khiến tâm tịnh lặng.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù nói ngàn lời vô nghĩa,</span></p><p><span>Không bằng một lời pháp, nghe liền được an.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù thắng ngàn vạn người nơi chiến trận,</span></p><p><span>Không bằng tự thắng mình — đó mới là chiến thắng tối thượng.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Chiến thắng chính mình còn hơn thắng người khác;</span></p><p><span>Ai tự điều phục, không ai cướp được công đức ấy.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Thắng người khác nhiều lần,</span></p><p><span>Vẫn còn thù hận;</span></p><p><span>Tự thắng mình một lần,</span></p><p><span>Không còn hận thù nào sinh.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Nếu ai cúng dường suốt cả năm,</span></p><p><span>Bằng ngàn lễ tế,</span></p><p><span>Không bằng giây phút cung kính người tu chánh định.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dầu tế lễ suốt trăm năm,</span></p><p><span>Không bằng một niệm lễ Phật,</span></p><p><span>Tâm thanh tịnh trong giây phút ấy,</span></p><p><span>Công đức vô lượng hơn muôn lần.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dầu hầu hạ suốt trăm năm,</span></p><p><span>Không bằng một niệm kính người có giới hạnh;</span></p><p><span>Phước ấy vượt mọi lễ vật,</span></p><p><span>Như trăng sáng giữa đêm tối.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Người hiếu kính cha mẹ,</span></p><p><span>Thường làm phước cho song thân,</span></p><p><span>Sẽ được quả báo dài lâu,</span></p><p><span>An vui trong đời này và đời sau.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù sống trăm năm buông lung,</span></p><p><span>Không bằng một ngày tinh tấn,</span></p><p><span>Một ngày sống tỉnh thức,</span></p><p><span>Giá trị hơn trăm năm phóng dật.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù sống trăm năm ngu si,</span></p><p><span>Không bằng một ngày trí tuệ,</span></p><p><span>Một ngày hiểu chân lý,</span></p><p><span>Hơn trăm năm vô minh.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù sống trăm năm lười biếng,</span></p><p><span>Không bằng một ngày tinh tấn,</span></p><p><span>Một ngày tu hành chánh niệm,</span></p><p><span>Công đức hơn cả trăm năm.</span></p><p><span> </span></p><p><span> </span></p><p><span>Dù sống trăm năm không thấy pháp sinh diệt,</span></p><p><span>Không bằng một ngày thấy được điều ấy,</span></p><p><span>Một ngày thấy pháp,</span></p><p><span>Công đức vượt xa trăm năm vô minh.</span></p><p><span> </span></p><p><span>Hết phẩm 8.</span></p><p><span>Trì niệm phẩm Ngàn giúp ta quán chiếu sâu sắc: mọi giá trị thật nằm trong sự tỉnh thức và tự chiến thắng bản thân. Người nghe và thấm nhuần lời dạy này sẽ bớt phung phí thời gian vào việc vô nghĩa, chuyên tâm tu tập và hành thiện, sống trọn vẹn từng phút giây trong sáng, an nhiên và có trí tuệ.</span></p><p><span> </span></p><p><span>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 9 Kinh Pháp Cú – Ác (Pāpa Vagga)</span></p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;&lt;span&gt;Kinh Pháp Cú – Phẩm 8: Ngàn (Sahassa Vagga)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Lời dẫn:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Phẩm Ngàn dạy rằng giá trị của tuệ giác và chánh hạnh không nằm ở số lượng lời nói hay việc làm, mà ở sự tỉnh thức và chân thật của tâm. Một câu chánh pháp hiểu sâu còn quý hơn ngàn lời hời hợt; một niệm an trú chánh niệm còn hơn ngàn tháng tu lầm. Nghe và thọ trì phẩm này giúp ta nuôi dưỡng tuệ quán, sống giản dị mà sâu sắc.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Kinh văn:&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù nói ngàn lời vô ích,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một câu nghe đem lại an lạc.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù tụng ngàn lời kinh rỗng,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một câu pháp khiến tâm tịnh lặng.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù nói ngàn lời vô nghĩa,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một lời pháp, nghe liền được an.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù thắng ngàn vạn người nơi chiến trận,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng tự thắng mình — đó mới là chiến thắng tối thượng.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Chiến thắng chính mình còn hơn thắng người khác;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Ai tự điều phục, không ai cướp được công đức ấy.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Thắng người khác nhiều lần,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Vẫn còn thù hận;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Tự thắng mình một lần,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không còn hận thù nào sinh.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Nếu ai cúng dường suốt cả năm,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Bằng ngàn lễ tế,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng giây phút cung kính người tu chánh định.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dầu tế lễ suốt trăm năm,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một niệm lễ Phật,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Tâm thanh tịnh trong giây phút ấy,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Công đức vô lượng hơn muôn lần.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dầu hầu hạ suốt trăm năm,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một niệm kính người có giới hạnh;&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Phước ấy vượt mọi lễ vật,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Như trăng sáng giữa đêm tối.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Người hiếu kính cha mẹ,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Thường làm phước cho song thân,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Sẽ được quả báo dài lâu,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;An vui trong đời này và đời sau.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù sống trăm năm buông lung,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một ngày tinh tấn,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Một ngày sống tỉnh thức,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Giá trị hơn trăm năm phóng dật.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù sống trăm năm ngu si,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một ngày trí tuệ,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Một ngày hiểu chân lý,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Hơn trăm năm vô minh.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù sống trăm năm lười biếng,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một ngày tinh tấn,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Một ngày tu hành chánh niệm,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Công đức hơn cả trăm năm.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Dù sống trăm năm không thấy pháp sinh diệt,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Không bằng một ngày thấy được điều ấy,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Một ngày thấy pháp,&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Công đức vượt xa trăm năm vô minh.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Hết phẩm 8.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Trì niệm phẩm Ngàn giúp ta quán chiếu sâu sắc: mọi giá trị thật nằm trong sự tỉnh thức và tự chiến thắng bản thân. Người nghe và thấm nhuần lời dạy này sẽ bớt phung phí thời gian vào việc vô nghĩa, chuyên tâm tu tập và hành thiện, sống trọn vẹn từng phút giây trong sáng, an nhiên và có trí tuệ.&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt; &lt;/span&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;span&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 9 Kinh Pháp Cú – Ác (Pāpa Vagga)&lt;/span&gt;&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2879738" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/0160b34d-fc38-4a5d-8e59-f328a58d1168/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">21fa76d2-6e65-4428-b127-7aeb3d462a52</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/0160b34d-fc38-4a5d-8e59-f328a58d1168</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:37:33 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/7/a25a3684-1fe6-4c70-9d54-dbd3da95ded7_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>179</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 6_Hiền Trí (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 6_Hiền Trí (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ — PHẨM 6: HIỀN TRÍ</p><p><br></p><p>Giới thiệu ngắn:</p><p>Phẩm Hiền Trí dạy rằng người có trí biết lắng nghe, biết nhận lỗi, và chọn bạn lành. Người trí không chạy theo lời khen hay sợ bị chê, mà hướng tâm về chân lý. Gần người trí như đi vào vườn hoa hương, tâm dần trở nên trong sáng và an vui.</p><p><br></p><p>Nội dung Phẩm 6 Kinh Pháp Cú:</p><p>Nếu thấy người chỉ lỗi,</p><p>Như chỉ kho báu chôn,</p><p>Hãy kết bạn cùng người ấy,</p><p>Nhờ vậy được lợi, không hại.</p><p><br></p><p>Người hiền dạy, răn ngăn,</p><p>Khiến ta tránh điều ác,</p><p>Hãy nghe lời người ấy,</p><p>Dù đau lòng, vẫn đem lại lợi ích.</p><p><br></p><p>Đừng thân với bạn ác,</p><p>Đừng gần người thấp hèn,</p><p>Hãy thân với bạn lành,</p><p>Gần gũi người cao thượng.</p><p><br></p><p>Người uống pháp,</p><p>Tâm an lạc thanh tịnh,</p><p>Người trí vui trong chánh pháp,</p><p>Sống hoan hỷ giữa người phàm.</p><p><br></p><p>Người làm ruộng, dẫn nước,</p><p>Thợ tên, nắn cung,</p><p>Thợ mộc, uốn gỗ,</p><p>Người trí điều phục tâm mình.</p><p><br></p><p>Như tảng đá kiên cố,</p><p>Không lay động trước gió,</p><p>Người trí không dao động,</p><p>Trước lời khen hay chê.</p><p><br></p><p>Như hồ sâu trong vắt,</p><p>Không đục khi nước yên,</p><p>Người trí nghe pháp,</p><p>Tâm lặng, an tịnh.</p><p><br></p><p>Người hiền bỏ mọi ác,</p><p>Không nói lời tổn hại,</p><p>Khi gặp khổ hay vui,</p><p>Tâm không chao động.</p><p><br></p><p>Ai không vì mình hay người,</p><p>Làm điều sai trái,</p><p>Không mong con cái, tài sản,</p><p>Không ham danh vọng,</p><p>Người ấy thật là bậc hiền.</p><p><br></p><p>Trong đời ít người qua bờ bên kia,</p><p>Số còn lại chạy quanh bờ này.</p><p>Người hành đúng chánh pháp,</p><p>Sẽ vượt khỏi vòng sinh tử.</p><p><br></p><p>Ai hiểu pháp chân thật,</p><p>Theo pháp mà hành trì,</p><p>Người ấy đến bờ bên kia,</p><p>Thoát khỏi cõi ma vương.</p><p><br></p><p>Người trí từ bỏ ái dục,</p><p>Không còn nhiễm ô,</p><p>Tu tập theo lời Phật dạy,</p><p>Hướng tâm đến Niết-bàn.</p><p><br></p><p>Người tinh cần, luôn chánh niệm,</p><p>Không phóng dật, tu thiền định,</p><p>Tự tịnh tâm mình,</p><p>Sẽ đạt an lạc tối thượng.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 6.</p><p>Phẩm Hiền Trí khuyên ta lắng nghe lời dạy chân thành, dù khó nghe nhưng có lợi. Người trí biết giữ tâm an, không bị dao động bởi khen chê, và luôn hướng về điều thiện. Ai nghe và hành theo lời này, sẽ nuôi lớn trí tuệ, gieo nhân an vui và tiến gần đến giải thoát.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 7 – A La Hán (Arahantavagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ — PHẨM 6: HIỀN TRÍ&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới thiệu ngắn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Hiền Trí dạy rằng người có trí biết lắng nghe, biết nhận lỗi, và chọn bạn lành. Người trí không chạy theo lời khen hay sợ bị chê, mà hướng tâm về chân lý. Gần người trí như đi vào vườn hoa hương, tâm dần trở nên trong sáng và an vui.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nội dung Phẩm 6 Kinh Pháp Cú:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu thấy người chỉ lỗi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như chỉ kho báu chôn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy kết bạn cùng người ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhờ vậy được lợi, không hại.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hiền dạy, răn ngăn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khiến ta tránh điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy nghe lời người ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù đau lòng, vẫn đem lại lợi ích.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng thân với bạn ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng gần người thấp hèn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy thân với bạn lành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gần gũi người cao thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người uống pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm an lạc thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí vui trong chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống hoan hỷ giữa người phàm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người làm ruộng, dẫn nước,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thợ tên, nắn cung,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thợ mộc, uốn gỗ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí điều phục tâm mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như tảng đá kiên cố,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không lay động trước gió,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí không dao động,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trước lời khen hay chê.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hồ sâu trong vắt,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không đục khi nước yên,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí nghe pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm lặng, an tịnh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hiền bỏ mọi ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không nói lời tổn hại,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi gặp khổ hay vui,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm không chao động.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai không vì mình hay người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Làm điều sai trái,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không mong con cái, tài sản,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không ham danh vọng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy thật là bậc hiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời ít người qua bờ bên kia,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Số còn lại chạy quanh bờ này.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hành đúng chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ vượt khỏi vòng sinh tử.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hiểu pháp chân thật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo pháp mà hành trì,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy đến bờ bên kia,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thoát khỏi cõi ma vương.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí từ bỏ ái dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn nhiễm ô,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tu tập theo lời Phật dạy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hướng tâm đến Niết-bàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người tinh cần, luôn chánh niệm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phóng dật, tu thiền định,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự tịnh tâm mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ đạt an lạc tối thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 6.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Hiền Trí khuyên ta lắng nghe lời dạy chân thành, dù khó nghe nhưng có lợi. Người trí biết giữ tâm an, không bị dao động bởi khen chê, và luôn hướng về điều thiện. Ai nghe và hành theo lời này, sẽ nuôi lớn trí tuệ, gieo nhân an vui và tiến gần đến giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 7 – A La Hán (Arahantavagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2735124" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/3cd1cd64-0900-4e36-8182-6c44dc8a4d9c/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">c527674c-b6d0-4950-86a6-fc9c59d606b5</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/3cd1cd64-0900-4e36-8182-6c44dc8a4d9c</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:31:50 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>170</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 5_Kẻ Ngu (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 5_Kẻ Ngu (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ — PHẨM 5: KẺ NGU</p><p><br></p><p>Giới thiệu ngắn:</p><p>Phẩm Kẻ Ngu dạy rằng ngu si không phải vì thiếu học, mà vì không biết điều lành, không thấy hậu quả của ác nghiệp. Người ngu tưởng mình trí, tự mãn và cố chấp, nên càng xa đạo. Biết nhận ra ngu si nơi mình, đó chính là khởi đầu của trí tuệ.</p><p><br></p><p>Nội dung phẩm 5 Kinh Pháp Cú:</p><p>Đêm dài cho kẻ mất ngủ,</p><p>Đường dài cho kẻ mệt mỏi,</p><p>Luân hồi dài cho kẻ ngu,</p><p>Không biết chánh pháp của bậc hiền.</p><p><br></p><p>Nếu trên đường gặp người trí,</p><p>Biết khuyên dạy, biết ngăn điều ác,</p><p>Hãy kết bạn cùng người ấy,</p><p>Dù khó nhọc, vẫn lợi lâu dài.</p><p><br></p><p>Nếu không gặp người trí,</p><p>Biết sống chân chánh,</p><p>Thà đi một mình,</p><p>Như voi một mình trong rừng,</p><p>Còn hơn đi với kẻ ngu.</p><p><br></p><p>Kẻ ngu nghĩ mình trí,</p><p>Càng ngu thêm nữa.</p><p>Người trí nhận mình ngu,</p><p>Mới thật là bậc trí.</p><p><br></p><p>Dù kẻ ngu sống trăm năm,</p><p>Nhưng chẳng biết chánh pháp,</p><p>Cũng không bằng người trí,</p><p>Nghe pháp chỉ một ngày.</p><p><br></p><p>Kẻ ngu quen với bạn ngu,</p><p>Suốt đời không hiểu đạo,</p><p>Như muỗng ở trong nồi canh,</p><p>Không bao giờ biết được vị ngon.</p><p><br></p><p>Người trí thân cận người trí,</p><p>Dù một khoảnh khắc,</p><p>Cũng hiểu rõ đạo pháp,</p><p>Như lưỡi nếm được vị canh.</p><p><br></p><p>Kẻ ngu làm điều ác,</p><p>Không biết tự hại mình,</p><p>Khi nghiệp ác chín muồi,</p><p>Mới than khóc, khổ đau.</p><p><br></p><p>Việc ác chưa chín,</p><p>Người ngu tưởng ngọt ngào như mật,</p><p>Khi ác quả trổ,</p><p>Mới thấy mình chịu khổ.</p><p><br></p><p>Người ngu khi làm ác,</p><p>Lòng hoan hỷ như thưởng hoa,</p><p>Nhưng khi nghiệp trổ quả,</p><p>Thì than khóc đọa vào khổ đau.</p><p><br></p><p>Dù tụng nhiều kinh điển,</p><p>Mà không hành theo,</p><p>Như kẻ chăn bò đếm bò người,</p><p>Không hưởng được phần của Sa-môn.</p><p><br></p><p>Dù nói ít, nhưng hành theo pháp,</p><p>Không buông lung, giữ giới,</p><p>Tâm trong sạch, trí vững vàng,</p><p>Người ấy thật là Sa-môn.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 5.</p><p>Phẩm Kẻ Ngu nhắc rằng ngu si không do ít học, mà do thiếu tỉnh thức. Người trí biết lắng nghe, biết sửa mình và gần gũi bậc hiền. Ai nghe và hành theo lời này, xa dần vô minh, bớt khổ đau, và gieo nhân trí tuệ để bước lên con đường giải thoát.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 6 – Hiền Trí (Paṇḍitavagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ — PHẨM 5: KẺ NGU&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới thiệu ngắn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Kẻ Ngu dạy rằng ngu si không phải vì thiếu học, mà vì không biết điều lành, không thấy hậu quả của ác nghiệp. Người ngu tưởng mình trí, tự mãn và cố chấp, nên càng xa đạo. Biết nhận ra ngu si nơi mình, đó chính là khởi đầu của trí tuệ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nội dung phẩm 5 Kinh Pháp Cú:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đêm dài cho kẻ mất ngủ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đường dài cho kẻ mệt mỏi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Luân hồi dài cho kẻ ngu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không biết chánh pháp của bậc hiền.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu trên đường gặp người trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết khuyên dạy, biết ngăn điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy kết bạn cùng người ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù khó nhọc, vẫn lợi lâu dài.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu không gặp người trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết sống chân chánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thà đi một mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như voi một mình trong rừng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn hơn đi với kẻ ngu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ngu nghĩ mình trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Càng ngu thêm nữa.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí nhận mình ngu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới thật là bậc trí.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù kẻ ngu sống trăm năm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng chẳng biết chánh pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng không bằng người trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe pháp chỉ một ngày.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ngu quen với bạn ngu,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Suốt đời không hiểu đạo,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như muỗng ở trong nồi canh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không bao giờ biết được vị ngon.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí thân cận người trí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù một khoảnh khắc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Cũng hiểu rõ đạo pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như lưỡi nếm được vị canh.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ngu làm điều ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không biết tự hại mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi nghiệp ác chín muồi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới than khóc, khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Việc ác chưa chín,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu tưởng ngọt ngào như mật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khi ác quả trổ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới thấy mình chịu khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ngu khi làm ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng hoan hỷ như thưởng hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng khi nghiệp trổ quả,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thì than khóc đọa vào khổ đau.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù tụng nhiều kinh điển,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mà không hành theo,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như kẻ chăn bò đếm bò người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không hưởng được phần của Sa-môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Dù nói ít, nhưng hành theo pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không buông lung, giữ giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm trong sạch, trí vững vàng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy thật là Sa-môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 5.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Kẻ Ngu nhắc rằng ngu si không do ít học, mà do thiếu tỉnh thức. Người trí biết lắng nghe, biết sửa mình và gần gũi bậc hiền. Ai nghe và hành theo lời này, xa dần vô minh, bớt khổ đau, và gieo nhân trí tuệ để bước lên con đường giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 6 – Hiền Trí (Paṇḍitavagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2623111" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/a505a411-ddce-4658-8536-7cccf116eb2e/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">bbe6fab9-a8b6-4b86-b203-88d31f174d04</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/a505a411-ddce-4658-8536-7cccf116eb2e</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:28:00 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>163</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 4_Hoa (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 4_Hoa (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ — PHẨM 4: HOA</p><p><br></p><p>Giới thiệu ngắn:</p><p>Phẩm Hoa dạy rằng đời sống này giống như vườn hoa. Người trí biết chọn hoa hương của thiện pháp, không dừng lại ở vẻ đẹp bên ngoài mà tìm đến hương giới, hương định, hương tuệ. Hương giới đức bay ngược gió, lan xa khắp nơi, còn hương hoa thế gian chỉ thoáng qua rồi mất.</p><p><br></p><p>Nội dung phẩm 4 Kinh Pháp Cú:</p><p>Ai sẽ thắng trận này?</p><p>Ai biết chọn hoa giữa đời?</p><p>Người đệ tử hiểu đạo,</p><p>Như người khéo hái hoa,</p><p>Sẽ chọn lấy điều lành cho mình.</p><p><br></p><p>Thấy thân này như bọt nước,</p><p>Như ảo ảnh giữa trưa hè,</p><p>Người dứt bỏ mọi nhiễm trước,</p><p>Thoát khỏi tầm tay của tử thần.</p><p><br></p><p>Ai gom hoa dục vọng,</p><p>Bị dòng đời cuốn trôi,</p><p>Thần chết bắt đi giữa đường,</p><p>Như lũ cuốn làng đang say ngủ.</p><p><br></p><p>Người hái hoa dục lạc,</p><p>Chưa thỏa mãn lòng tham,</p><p>Chết đến bắt đi mất,</p><p>Như gió cuốn cây yếu gốc.</p><p><br></p><p>Ai sống đời hái hoa,</p><p>Mải mê trong dục lạc,</p><p>Lòng tham không bao giờ đầy,</p><p>Kẻ ngu bị chết dẫn đi.</p><p><br></p><p>Như ong đến vườn hoa,</p><p>Chỉ lấy mật, không hại sắc hương,</p><p>Người trí đi giữa đời,</p><p>Lấy điều lành, không tổn người khác.</p><p><br></p><p>Đừng nhìn lỗi người,</p><p>Đừng nhìn việc họ làm hay chưa làm,</p><p>Hãy nhìn việc chính mình,</p><p>Đã làm hay chưa làm.</p><p><br></p><p>Như hoa tươi đẹp,</p><p>Nhưng không có hương thơm,</p><p>Lời nói khéo mà không hành,</p><p>Không đem lại kết quả lành.</p><p><br></p><p>Như hoa tươi đẹp,</p><p>Lại có hương thơm,</p><p>Lời nói khéo và có hành,</p><p>Đem lại kết quả lành.</p><p><br></p><p>Từ một đống hoa,</p><p>Có thể làm nhiều tràng hoa,</p><p>Từ thân người này,</p><p>Hãy tạo ra nhiều điều thiện.</p><p><br></p><p>Hương hoa không bay ngược gió,</p><p>Hương trầm, hương chiên đàn, hương lài cũng vậy,</p><p>Nhưng hương người đức hạnh,</p><p>Bay ngược gió, lan xa khắp muôn nơi.</p><p><br></p><p>Hương chiên đàn, hương trầm,</p><p>Không sánh bằng hương đức hạnh,</p><p>Hương đức hạnh bay ngược gió,</p><p>Được các bậc Thánh ưa thích.</p><p><br></p><p>Hoa chiên đàn, hoa trầm, hoa sen, hoa vũ quý,</p><p>Giữa các hương ấy,</p><p>Hương giới đức là bậc nhất.</p><p><br></p><p>Hương chiên đàn, trầm thủy,</p><p>Không thể bay lên trời,</p><p>Nhưng hương người giữ giới,</p><p>Bay lên tận cõi chư thiên.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 4.</p><p>Phẩm Hoa khuyên ta sống giữa đời như ong tìm mật, chỉ lấy điều lành, không làm hại ai. Hương giới đức là hương thơm bất diệt, vượt hơn mọi hương trần thế. Ai nghe và hành theo lời này, tâm sẽ nhẹ, lòng từ lớn, và cuộc đời tự nhiên hóa thành vườn hoa tịnh lạc.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 5 Kinh Pháp Cú– Kẻ Ngu (Bālavagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ — PHẨM 4: HOA&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới thiệu ngắn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Hoa dạy rằng đời sống này giống như vườn hoa. Người trí biết chọn hoa hương của thiện pháp, không dừng lại ở vẻ đẹp bên ngoài mà tìm đến hương giới, hương định, hương tuệ. Hương giới đức bay ngược gió, lan xa khắp nơi, còn hương hoa thế gian chỉ thoáng qua rồi mất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nội dung phẩm 4 Kinh Pháp Cú:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sẽ thắng trận này?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai biết chọn hoa giữa đời?&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người đệ tử hiểu đạo,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người khéo hái hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chọn lấy điều lành cho mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thấy thân này như bọt nước,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ảo ảnh giữa trưa hè,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người dứt bỏ mọi nhiễm trước,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thoát khỏi tầm tay của tử thần.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai gom hoa dục vọng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bị dòng đời cuốn trôi,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thần chết bắt đi giữa đường,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như lũ cuốn làng đang say ngủ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người hái hoa dục lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chưa thỏa mãn lòng tham,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chết đến bắt đi mất,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như gió cuốn cây yếu gốc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai sống đời hái hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mải mê trong dục lạc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lòng tham không bao giờ đầy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ngu bị chết dẫn đi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như ong đến vườn hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ lấy mật, không hại sắc hương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí đi giữa đời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lấy điều lành, không tổn người khác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng nhìn lỗi người,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đừng nhìn việc họ làm hay chưa làm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy nhìn việc chính mình,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đã làm hay chưa làm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa tươi đẹp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng không có hương thơm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói khéo mà không hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không đem lại kết quả lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như hoa tươi đẹp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lại có hương thơm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lời nói khéo và có hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đem lại kết quả lành.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ một đống hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Có thể làm nhiều tràng hoa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ thân người này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hãy tạo ra nhiều điều thiện.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương hoa không bay ngược gió,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương trầm, hương chiên đàn, hương lài cũng vậy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng hương người đức hạnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bay ngược gió, lan xa khắp muôn nơi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương chiên đàn, hương trầm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không sánh bằng hương đức hạnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương đức hạnh bay ngược gió,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Được các bậc Thánh ưa thích.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoa chiên đàn, hoa trầm, hoa sen, hoa vũ quý,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữa các hương ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương giới đức là bậc nhất.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hương chiên đàn, trầm thủy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không thể bay lên trời,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng hương người giữ giới,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Bay lên tận cõi chư thiên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 4.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Hoa khuyên ta sống giữa đời như ong tìm mật, chỉ lấy điều lành, không làm hại ai. Hương giới đức là hương thơm bất diệt, vượt hơn mọi hương trần thế. Ai nghe và hành theo lời này, tâm sẽ nhẹ, lòng từ lớn, và cuộc đời tự nhiên hóa thành vườn hoa tịnh lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 5 Kinh Pháp Cú– Kẻ Ngu (Bālavagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2975033" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/1eab2b49-ce4c-47fd-8f78-ac5069b98308/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">60d2066e-94a8-45cd-9201-6f9123a74cdb</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/1eab2b49-ce4c-47fd-8f78-ac5069b98308</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:22:43 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/7/cdf898fd-8cd9-490e-b5b5-3a15fe2a24cf_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>185</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 3_Tâm (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 3_Tâm (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ — PHẨM 3: TÂM</p><p><br></p><p>Giới thiệu ngắn:</p><p>Phẩm Tâm dạy rằng mọi pháp đều từ tâm mà sinh. Tâm là gốc của thiện và ác, của hạnh phúc và khổ đau. Ai biết điều phục tâm, giữ tâm trong sáng, người ấy làm chủ được đời mình và đạt đến an ổn thật sự.</p><p><br></p><p>Nội dung phẩm 3 Kinh Pháp Cú:</p><p>Tâm dao động, khó nắm, khó giữ,</p><p>Tâm chạy theo dục, mong cầu đủ điều.</p><p>Người trí điều phục tâm ấy,</p><p>Như thợ làm cung uốn cây cho ngay.</p><p><br></p><p>Tâm thật khó nắm, nhẹ, linh động,</p><p>Thường theo ý muốn, khó chế ngự.</p><p>Người trí giữ tâm, làm cho an tịnh,</p><p>Nhờ giữ tâm, được an vui dài lâu.</p><p><br></p><p>Tâm khó thấy, tế nhị,</p><p>Chạy theo dục, khó kềm.</p><p>Người trí hộ trì tâm,</p><p>Tâm hộ trì, đem an lạc.</p><p><br></p><p>Tâm kẻ phàm phu thường dao động,</p><p>Khó nắm bắt, khó kiểm soát.</p><p>Người trí giữ tâm vững chắc,</p><p>Tâm hộ trì, tránh điều ác.</p><p><br></p><p>Ai điều phục được tâm,</p><p>Thoát khỏi ràng buộc phiền não,</p><p>Người ấy vượt qua ma lực,</p><p>Không còn bị sinh tử chi phối.</p><p><br></p><p>Ai tâm chưa điều phục,</p><p>Không biết con đường chánh,</p><p>Trí tuệ không tăng trưởng,</p><p>Niềm tin cũng phai tàn.</p><p><br></p><p>Ai có tâm điều phục,</p><p>Không còn tà niệm,</p><p>Từ bỏ thiện và ác,</p><p>Sống thanh tịnh, không lo sợ.</p><p><br></p><p>Biết thân này như đồ gốm,</p><p>Giữ tâm như thành kiên cố,</p><p>Lấy trí tuệ làm vũ khí,</p><p>Hộ trì tâm, đoạn trừ ác ma.</p><p><br></p><p>Đời sắp tận,</p><p>Ngươi nay sắp chết,</p><p>Không còn trú xứ nào,</p><p>Kẻ ngu chưa thấy điều ấy,</p><p>Còn mãi tham đắm thế gian.</p><p><br></p><p>Ai biết điều này,</p><p>Giữ tâm không phóng dật,</p><p>Gấp rút tu hành,</p><p>Đạt cõi an vui,</p><p>Không còn bị sinh tử trói buộc.</p><p><br></p><p>Hết phẩm 3:</p><p>Phẩm Tâm nhắc rằng gốc rễ của muôn việc là tâm. Khi tâm tịnh, cảnh giới tịnh; khi tâm loạn, mọi việc đều khổ. Ai nghe và hành theo lời này, thường quán chiếu tâm, giữ tâm an lành, sẽ dần thoát khỏi phiền não, sống an nhiên và mở lối giác ngộ cho chính mình.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 4 Kinh Pháp Cú – Hoa (Pupphavagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ — PHẨM 3: TÂM&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới thiệu ngắn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Tâm dạy rằng mọi pháp đều từ tâm mà sinh. Tâm là gốc của thiện và ác, của hạnh phúc và khổ đau. Ai biết điều phục tâm, giữ tâm trong sáng, người ấy làm chủ được đời mình và đạt đến an ổn thật sự.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nội dung phẩm 3 Kinh Pháp Cú:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm dao động, khó nắm, khó giữ,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm chạy theo dục, mong cầu đủ điều.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí điều phục tâm ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như thợ làm cung uốn cây cho ngay.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm thật khó nắm, nhẹ, linh động,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường theo ý muốn, khó chế ngự.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí giữ tâm, làm cho an tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhờ giữ tâm, được an vui dài lâu.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm khó thấy, tế nhị,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chạy theo dục, khó kềm.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí hộ trì tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm hộ trì, đem an lạc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm kẻ phàm phu thường dao động,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khó nắm bắt, khó kiểm soát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí giữ tâm vững chắc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm hộ trì, tránh điều ác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai điều phục được tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thoát khỏi ràng buộc phiền não,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy vượt qua ma lực,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn bị sinh tử chi phối.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai tâm chưa điều phục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không biết con đường chánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trí tuệ không tăng trưởng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Niềm tin cũng phai tàn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai có tâm điều phục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn tà niệm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Từ bỏ thiện và ác,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sống thanh tịnh, không lo sợ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Biết thân này như đồ gốm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ tâm như thành kiên cố,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lấy trí tuệ làm vũ khí,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hộ trì tâm, đoạn trừ ác ma.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đời sắp tận,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ngươi nay sắp chết,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn trú xứ nào,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ ngu chưa thấy điều ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Còn mãi tham đắm thế gian.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai biết điều này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ tâm không phóng dật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Gấp rút tu hành,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đạt cõi an vui,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không còn bị sinh tử trói buộc.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 3:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Tâm nhắc rằng gốc rễ của muôn việc là tâm. Khi tâm tịnh, cảnh giới tịnh; khi tâm loạn, mọi việc đều khổ. Ai nghe và hành theo lời này, thường quán chiếu tâm, giữ tâm an lành, sẽ dần thoát khỏi phiền não, sống an nhiên và mở lối giác ngộ cho chính mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 4 Kinh Pháp Cú – Hoa (Pupphavagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2449658" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/d9819463-2ca7-43b8-81e0-d360647252af/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">391605c8-5ea0-4810-b2bc-d6f6cb27013c</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/d9819463-2ca7-43b8-81e0-d360647252af</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:19:05 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/5/7/383cc846-fec6-4b2b-b500-611b468074f0_kinh_ph_p_c___2_.jpg"/>
                <itunes:duration>153</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 2_Không Phóng Dật (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 2_Không Phóng Dật (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ — PHẨM 2: KHÔNG PHÓNG DẬT</p><p><br></p><p>Giới thiệu ngắn:</p><p>Phẩm Không Phóng Dật dạy về sự tỉnh thức. Người biết giữ chánh niệm, sống cẩn trọng trong từng hành động, sẽ tránh được lầm lỗi và đạt đến an lạc. Phóng dật là quên mất chính mình; không phóng dật là bước đầu của trí tuệ và giải thoát.</p><p><br></p><p>Nội dung phẩm 2 Kinh Pháp Cú:</p><p><br></p><p>Không phóng dật là con đường bất tử,</p><p>Phóng dật là con đường dẫn đến chết.</p><p>Người không phóng dật thì không chết,</p><p>Kẻ phóng dật như đã chết rồi.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người trí biết rõ điều ấy,</p><p>Hết lòng trong sự không phóng dật,</p><p>Hoan hỷ trong cảnh giới bậc Thánh,</p><p>An vui giữa những người buông lung.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người tinh tấn, luôn chánh niệm,</p><p>Đoạn trừ dục lạc, sống an tịnh,</p><p>Người ấy đạt được Niết-bàn vô thượng.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người tinh cần, siêng năng,</p><p>Tự chế, chánh niệm, và thanh tịnh,</p><p>Danh tiếng người ấy tăng trưởng,</p><p>Như trăng thoát khỏi mây mù.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai tinh tấn, đoạn phóng dật,</p><p>Giới và định vững vàng,</p><p>Người ấy chiến thắng Ma vương,</p><p>Như người trèo núi, vượt qua đỉnh cao.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai phóng dật, không giữ tâm,</p><p>Không học đạo, không tinh cần,</p><p>Người ấy bị Ma vương trói buộc,</p><p>Như cá mắc vào lưới.</p><p><br></p><p><br></p><p>Ai không phóng dật,</p><p>Luôn giữ tâm thanh tịnh,</p><p>Người ấy giải thoát khỏi Ma vương,</p><p>Như chim thoát khỏi bẫy sập.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người trí, không phóng dật,</p><p>Thường quán sát thân này,</p><p>Lìa nhà, sống cô tịch,</p><p>Hưởng vui nơi rừng vắng.</p><p><br></p><p><br></p><p>Người trí tinh cần,</p><p>Không phóng dật, giữ giới thanh tịnh,</p><p>Sẽ chiếu sáng thế gian,</p><p>Như mặt trăng thoát khỏi mây đen.</p><p><br></p><p><br></p><p>Hết phẩm 2.</p><p><br></p><p>Nghe và hành theo Phẩm Không Phóng Dật giúp tâm sáng suốt, giảm mê lầm, nuôi dưỡng chánh niệm trong từng hơi thở. Người tỉnh thức thấy rõ vô thường, dừng được khổ và tạo được an lạc. Ai thường nghe và ghi nhớ lời này, tâm sẽ dần trong sạch, thân tâm nhẹ nhàng, bước gần hơn đến trí tuệ và giải thoát.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 3 Kinh Pháp Cú – Tâm (Citta Vagga)</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ — PHẨM 2: KHÔNG PHÓNG DẬT&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới thiệu ngắn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Không Phóng Dật dạy về sự tỉnh thức. Người biết giữ chánh niệm, sống cẩn trọng trong từng hành động, sẽ tránh được lầm lỗi và đạt đến an lạc. Phóng dật là quên mất chính mình; không phóng dật là bước đầu của trí tuệ và giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nội dung phẩm 2 Kinh Pháp Cú:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phóng dật là con đường bất tử,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phóng dật là con đường dẫn đến chết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người không phóng dật thì không chết,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Kẻ phóng dật như đã chết rồi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí biết rõ điều ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết lòng trong sự không phóng dật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hoan hỷ trong cảnh giới bậc Thánh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An vui giữa những người buông lung.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người tinh tấn, luôn chánh niệm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đoạn trừ dục lạc, sống an tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy đạt được Niết-bàn vô thượng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người tinh cần, siêng năng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tự chế, chánh niệm, và thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Danh tiếng người ấy tăng trưởng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như trăng thoát khỏi mây mù.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai tinh tấn, đoạn phóng dật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới và định vững vàng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy chiến thắng Ma vương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như người trèo núi, vượt qua đỉnh cao.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai phóng dật, không giữ tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không học đạo, không tinh cần,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy bị Ma vương trói buộc,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như cá mắc vào lưới.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai không phóng dật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Luôn giữ tâm thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người ấy giải thoát khỏi Ma vương,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như chim thoát khỏi bẫy sập.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí, không phóng dật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Thường quán sát thân này,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Lìa nhà, sống cô tịch,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hưởng vui nơi rừng vắng.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người trí tinh cần,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không phóng dật, giữ giới thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chiếu sáng thế gian,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như mặt trăng thoát khỏi mây đen.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 2.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và hành theo Phẩm Không Phóng Dật giúp tâm sáng suốt, giảm mê lầm, nuôi dưỡng chánh niệm trong từng hơi thở. Người tỉnh thức thấy rõ vô thường, dừng được khổ và tạo được an lạc. Ai thường nghe và ghi nhớ lời này, tâm sẽ dần trong sạch, thân tâm nhẹ nhàng, bước gần hơn đến trí tuệ và giải thoát.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 3 Kinh Pháp Cú – Tâm (Citta Vagga)&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2295013" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/db4f7428-f1f8-4e42-8b78-4bb9c1cb925a/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">09599329-d680-468a-b24e-000145215661</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/db4f7428-f1f8-4e42-8b78-4bb9c1cb925a</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 07:10:47 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:duration>143</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
            <item>
                <itunes:episodeType>full</itunes:episodeType>
                <itunes:title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 1_Song Yếu (Bộ 26 Phẩm)</itunes:title>
                <title>Kinh Pháp Cú_Phẩm 1_Song Yếu (Bộ 26 Phẩm)</title>

                
                
                <itunes:author>Nguoi Mien Trung</itunes:author>
                
                <description><![CDATA[<p>KINH PHÁP CÚ — PHẨM 1: SONG YẾU</p><p><br></p><p>Giới thiệu ngắn:</p><p>Phẩm Song Yếu nói về sức mạnh của tâm. Mọi hành động, lời nói và suy nghĩ đều khởi nguồn từ tâm. Khi tâm nhiễm ô, khổ đau theo sau; khi tâm thanh tịnh, an lạc liền đến. Đức Phật dạy ta quán tâm, để thấy nguyên nhân của khổ và con đường chấm dứt khổ.</p><p>Nội dung phẩm 1 Kinh Pháp Cú:</p><p>Tâm dẫn đầu các pháp,</p><p>Tâm làm chủ, tâm tạo tác.</p><p>Nếu nói hay hành động với tâm ô nhiễm,</p><p>Khổ não theo sau như bánh xe lăn theo chân bò.</p><p><br></p><p>Tâm dẫn đầu các pháp,</p><p>Tâm làm chủ, tâm tạo tác.</p><p>Nếu nói hay hành động với tâm thanh tịnh,</p><p>An lạc theo sau như bóng không rời hình.</p><p><br></p><p>“Nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó thắng tôi, nó cướp của tôi.”</p><p>Ai giữ niệm ấy, oán hận không nguôi.</p><p><br></p><p>“Nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó thắng tôi, nó cướp của tôi.”</p><p>Ai dứt niệm ấy, oán hận sẽ lắng yên.</p><p><br></p><p>Trong đời, hận thù không thể diệt bằng hận thù.</p><p>Chỉ có từ bi mới diệt được hận thù.</p><p>Đó là định luật muôn đời.</p><p><br></p><p>Nhiều người không hiểu rằng,</p><p>Chúng ta rồi sẽ phải chết.</p><p>Ai hiểu rõ điều ấy,</p><p>Sẽ chấm dứt tranh chấp.</p><p><br></p><p>Người sống buông lung, phóng dật,</p><p>Theo đuổi dục lạc, không nhiếp tâm,</p><p>Sẽ bị Ma vương lôi cuốn,</p><p>Như cây yếu gốc bị gió bão quật ngã.</p><p><br></p><p>Người có chánh niệm, tinh cần,</p><p>Giữ tâm trong sạch, đoạn ái dục,</p><p>Ma vương không thể thắng,</p><p>Như núi đá không lay trước gió.</p><p><br></p><p>Người mặc áo cà sa mà tâm chưa thanh tịnh,</p><p>Không giữ giới, không chánh niệm,</p><p>Chẳng xứng đáng khoác y ấy.</p><p><br></p><p>Người dù mặc áo vải thô,</p><p>Nhưng tâm trong sạch, an hòa,</p><p>Xa lìa tham sân si,</p><p>Mới thật xứng đáng là Sa-môn.</p><p><br></p><p><br></p><p>Hết phẩm 1</p><p>Nghe và trì tụng Pháp Cú giúp tâm thanh tịnh, bớt giận hờn, nuôi dưỡng lòng từ và trí sáng. Khi tâm an, đời sống tự nhiên nhẹ nhàng. Người nghe và hành theo lời Phật dạy trong Phẩm Song Yếu sẽ gieo được hạt giống bình an, hóa giải oán thù và mở cửa giải thoát cho chính mình.</p><p><br></p><p>Mời bạn nghe tiếp Phẩm 2 Kinh Pháp Cú – Không Phóng Dật</p>]]></description>
                <content:encoded>&lt;p&gt;KINH PHÁP CÚ — PHẨM 1: SONG YẾU&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giới thiệu ngắn:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Phẩm Song Yếu nói về sức mạnh của tâm. Mọi hành động, lời nói và suy nghĩ đều khởi nguồn từ tâm. Khi tâm nhiễm ô, khổ đau theo sau; khi tâm thanh tịnh, an lạc liền đến. Đức Phật dạy ta quán tâm, để thấy nguyên nhân của khổ và con đường chấm dứt khổ.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nội dung phẩm 1 Kinh Pháp Cú:&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm dẫn đầu các pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm làm chủ, tâm tạo tác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nói hay hành động với tâm ô nhiễm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Khổ não theo sau như bánh xe lăn theo chân bò.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm dẫn đầu các pháp,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Tâm làm chủ, tâm tạo tác.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nếu nói hay hành động với tâm thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;An lạc theo sau như bóng không rời hình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó thắng tôi, nó cướp của tôi.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai giữ niệm ấy, oán hận không nguôi.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;“Nó mắng tôi, nó đánh tôi, nó thắng tôi, nó cướp của tôi.”&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai dứt niệm ấy, oán hận sẽ lắng yên.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Trong đời, hận thù không thể diệt bằng hận thù.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chỉ có từ bi mới diệt được hận thù.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Đó là định luật muôn đời.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhiều người không hiểu rằng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chúng ta rồi sẽ phải chết.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ai hiểu rõ điều ấy,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ chấm dứt tranh chấp.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người sống buông lung, phóng dật,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Theo đuổi dục lạc, không nhiếp tâm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Sẽ bị Ma vương lôi cuốn,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như cây yếu gốc bị gió bão quật ngã.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người có chánh niệm, tinh cần,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Giữ tâm trong sạch, đoạn ái dục,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Ma vương không thể thắng,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Như núi đá không lay trước gió.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người mặc áo cà sa mà tâm chưa thanh tịnh,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Không giữ giới, không chánh niệm,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Chẳng xứng đáng khoác y ấy.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Người dù mặc áo vải thô,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nhưng tâm trong sạch, an hòa,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Xa lìa tham sân si,&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mới thật xứng đáng là Sa-môn.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Hết phẩm 1&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Nghe và trì tụng Pháp Cú giúp tâm thanh tịnh, bớt giận hờn, nuôi dưỡng lòng từ và trí sáng. Khi tâm an, đời sống tự nhiên nhẹ nhàng. Người nghe và hành theo lời Phật dạy trong Phẩm Song Yếu sẽ gieo được hạt giống bình an, hóa giải oán thù và mở cửa giải thoát cho chính mình.&lt;/p&gt;&lt;p&gt;&lt;br&gt;&lt;/p&gt;&lt;p&gt;Mời bạn nghe tiếp Phẩm 2 Kinh Pháp Cú – Không Phóng Dật&lt;/p&gt;</content:encoded>
                
                <enclosure length="2459689" type="audio/mpeg" url="https://audio2.redcircle.com/episodes/f61297f7-8d4b-421e-b440-f78683d59eab/stream.mp3"/>
                
                <guid isPermaLink="false">d560c73c-7c36-4b88-a58b-c3537d6b754f</guid>
                <link>https://redcircle.com/shows/252360fc-a83a-4de7-b5d1-dc51a313522b/episodes/f61297f7-8d4b-421e-b440-f78683d59eab</link>
                <pubDate>Wed, 05 Nov 2025 06:55:15 &#43;0000</pubDate>
                <itunes:image href="https://media.redcircle.com/images/2025/11/7/8/8ed1e002-0e92-4e8a-8bb6-3e063257dce9_kinh_ph_p_c_.jpg"/>
                <itunes:duration>153</itunes:duration>
                
                
                <itunes:explicit>false</itunes:explicit>
                
            </item>
        
    </channel>
</rss>
